Lời mở đầu
Đất nớc ta có sự phát triển của CNH, HĐH và đời sống của nhân dân
ngày càng đợc nâng cao, nhân dân đợc hởng cuộc sống tự do hạnh phúc là nhờ
biết bao thế hệ ông cha đã hy sinh xơng máu, một lòng Quyết tử cho tổ quốc
quyết sinh để bảo vệ độc lập tự do cho tổ quốc.
Với hàng ngàn năm bị nô lệ, hết kẻ thù này đến kẻ thù khác sang xâm lợc
nớc ta. Biết bao phong trào đấu tranh đã bị thất bại. Nhng khi Chủ tịch Hồ Chí
Minh bắt gặp lý tởng vĩ đại của chủ nghĩa Mác Lênin Ngời sung sớng mà
thốt lên: Đây cơm áo chính là đây. Theo đờng lối t tởng của chủ nghĩa Mác
Lênin trong suốt mấy chục năm qua dới sự lãnh đạo của Đảng chúng ta đã
giành hết chiến thắng này đến chiến thắng khác.
Và ngày nay cũng lấy mục tiêu lấy t tởng triết học Mác Lênin làm
kim chỉ nam cho hành động của mình. Nhân dân ta đang quyết tâm xây dựng
đất nớc đi lên chế độ XHCN.
Là sinh viên những ngời chủ tơng lai của đất nớc, những ngời nắm
vận mệnh của đất nớc, chúng ta càng cần tìm hiểu và nghiên cứu bản chất của
chủ nghĩa Mác Lênin và thấy đợc vị trí, vai trò của nó nh thế đối với nớc ta
hiện nay đang quá độ lên CNXH. Hơn nữa khi nghiên cứu về triết học, nó còn
có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việc học hành: giúp cho sinh viên chúng ta
rèn luyện t duy lôgic, làm phong phú vốn trí thức cho sinh viên. Vì nh chúng
ta đã biết triết học là bộ phận không thể tách rời của văn hoá và văn minh
nhân loaị. Triết học không ra đời cùng với sự xuất hiện con ngời. Thoạt đầu
con ngời của xã hội cộng sản nguyên thủy mới chỉ hiểu biết đợc những hiện tợng riêng lẻ, đơn nhất, ít ỏi. Sự hiểu biết về thế giới mang tính tự phát, không
có hệ thống. Triết học chỉ có thể ra đời khi năng lực t duy trìu tợng của con
ngời đạt đến trình độ phát triển cho phép khái quát những hiểu biết riêng lẻ,
rời rạc thành hệ thống những quan điểm chung về thế giới nh một chỉnh thể.
- Cơ sở phơng pháp luận: Dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện
chứng.
- Kết cấu đề tài:
+ Bản chất khoa học cách mạng của triết học Mác
+ Vai trò:
trong kho tàng tiến bộ của loài ngời. Đặc biệt là những thành tựu to lớn của
nền triết học cổ điển Đức ở đầu thế kỷ 19 với những đại biểu: Cantơ, Phơ
bach, Hêghen... Hai ông đã kế thừa trực tiếp t tởng quý báu của chủ nghĩa duy
vật Phơbach và những hạt nhân hợp lý của phép biện chứng Hêghen để xây
dựng nên thế giới quan mới thế giới quan duy vật biện chứng.
Sự xuất hiện triết học Mác cũng đợc chuẩn bị bởi những thành tựu của
khoa học tự nhiên. Từ những năm 30, 50 của thế kỷ 19 khoa học tự nhiên phát
triển mạnh mẽ đem lại nhiều thành tựu mới quan trọng với những phát minh
vợt thời đại. Do vậy đòi hỏi phải có sự khái quát về mặt triết học vạch ra mối
liên hệ lẫn nhau giữa các quá trình xảy ra trong tự nhiên, chứng minh một
cách biện chứng về sự phát triển của tự nhiên.
Sự xuất hiện triết học Mác nói chung, triết học Mác nói riêng không chỉ
là kết quả của sự vận động phát triển của các nhân tố khách quan mà nó còn
đợc hình thành trong sự thống nhất giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ
quan. Đó là tài năng của Mác và Ang ghen đã thực hiện đợc bớc ngoặt cách
mạng vĩ đại trong lịch sử triết học. Sở dĩ Mác và Ang ghen đã tạo nên bớc
ngoặt cách mạng trong lý luận và xây dựng một khoa học triết học mới là bởi
vì hai ông có sự kết hợp nhuần nhuyễn và sâu sắc những phẩm chất tinh túy và
uyên bác nhất của các nhà khoa học và cách mạng trớc đó.
Nh vậy triết học Mác cũng nh toàn bộ chủ nghĩa Mác ra đời là một tất
yếu lịch sử không những bơỉ vì nó là sự phản ánh thực tiễn xã hội nhất là thực
tiễn cách mạng của giai cấp công nhân mà nó còn là sự phát triển hợp logic
của lịch sử t tởng nhân loại.
2. Bản chất khoa học cách mạng của triết học Mác:
2
Trọng lịch sử đã có không ít những bớc nhảy vọt, những bớc ngoặt cách
mạng, tạo ra những thành tựu vĩ đạo trong khoa học nghệ thuật, trong triết
học. Sự xuất hiện chủ nghĩa Mác là bớc ngoặt quan trọng trong lịch sử t tởng
Lời nói đầu, Các Mác viết Cố nhiên vũ khí của sự phê phán không thể thay
thế đợc sự phê phán của vũ khí, lực lợng vật chất chỉ có thể bị đánh đổi bằng
lực lợng vật chất; nhng lý luận cũng sẽ trở thành lực lợng vật chất, một khi nó
thâm nhập vào quần chúng.
Lịch sử đấu tranh giai cấp đã chứng minh tính chất đúng đắn của kết luận
trên đây của Mác. Các giai cấp thống trị về kinh tế và chính trị không khi nào
tự nguyện rút lui khỏi vũ đài lịch sử. Quyền thống trị của chúng không thể thủ
tiêu bằng sự phê phán trên lời nói, mà phải bằng một cuộc đấu tranh cách
mạng. Cuộc đấu tranh t tởng không thể dẫn đến thay đổi chế độ xã hội, nó
không thể vợt ra ngoài khuôn khổ của các quan hệ xã hội cũ, nhng nó có vai
3
trò to lớn trong đời sống xã hội. Lý luận khoa học khi thâm nhập vào quần
chúng sẽ đem lại cho họ khả năng hiểu biết những quy luật phát triển của đời
sống xã hội và thực hiện một cách tự giác những nhiệm vụ của cuộc đấu tranh
thực tiễn. Lý luận cách mạng sẽ thống nhất và tổ chức quần chúng đấu tranh
chống các quan hệ xã hội cũ hay bằng các quan hệ xã hội mơi. Lý luận sẽ trở
thành lực lợng vật chất hùng mạnh trong mối liên hệ với cuộc đấu tranh thực
tiễn của quần chúng.
Mác và Ang ghen đã sáng tạo ra thứ triết học, nh chính hai ông nhận
xét không hề biết sợ truớc bất kỳ một cái gì và về bản chất nó có tính phê
phán và cách mạng.
Sức mạn vô địch của lý luận Mác còn ở chỗ đó là sự thống nhất của tính
khoa học với tính cách mạng. Lý luận đó nh Lênin nói: Công khai tự đề ra cho
mình nhiệm vụ phải vạch trần hết thảy mọi hình thức đối kháng và hình thức
bóc lột trong xã hội hiện đại, phải theo dõi sự diễn biễn của các hình thức đó,
phải chứng minh tính tạm thời của các hình thức đó, sự chuyển biến không thể
tránh khỏi của các hình thức ấy thành các hình thức khác và do đó rút cho giai
cấp vô sản kết liễu một cách hết sức nhanh chóng và dễ dàng mọi sự bóc lột.
vô sản, đã dựa trên sự nghiên cứu khách quan giới tự nhiên và xã hội.
Một chiến công vĩ đại nữa của Mác và Ang ghen là ở chỗ hai ông đã
tạo ra hình thức cao của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng và
hình thức cao của phép biện chứng là phép biện chứng duy vật. Trong triết học
của hai ông thì chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng gắn liền với nhau.
Chủ nghĩa duy vật trớc Mác đã đóng vai trò hết sức to lớn trong sự phát
triển của khoa học trong cuộc đấu tranh với tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm,
nhng trong thời kỳ cổ đại thì chỉ là chủ nghĩa duy vật biện chứng ngây thơ,
còn ở thời cận đại thì là chủ nghĩa duy vật siêu hình máy móc. Nó không thể
khắc phục triệt để chủ nghĩa duy tâm và vạch ra đợc những nguyên nhân phát
triển của tự nhiên và xã hội, không vạch ra đợc phép biện chứng của quá trình
nhận thức và con đờng cải tạo thế giới. Chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng tính
chất yếu kém của chủ nghĩa duy vật tự phát, siêu hình và đã tiến hành cuộc
đấu tranh quyết liệt chống lại nó. Các nhà duy tâm cổ điển Đức đặc biệt là Hê
- ghen đã ra sức nhấn mạnh mặt hiệu quả của ý thức, đối lập quan điểm biện
chứng về sự phát triển với quan điểm siêu hình. Nhng từ lập trờng chủ chủ
nghĩa duy tâm họ không thể tạo ra đợc phép biện chứng khoa học.
Mác và Ang ghen đã nghiên cứu có phê phán những thành tựu xuất
sắc của triết học trớc, tạo ra triết học duy vật biện chứng. Hai ông nh Lênin
nói, đã làm phong phú chủ nghĩa duy vật bằng phép biện chứng, còn phép biện
chứng thì đợc hai ông đặt trên cơ sở hiện thực và biến thành khoa học. Đồng
thời cả chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng đều đợc nâng cao lên giai đoạn
phát triển cao, mới về chất lợng.
Chủ nghĩa duy vạt trớc Mác là không triệt để. Nó đã gắn liền với chủ
nghĩa duy tâm trong những quan niệm về xã hội, Mác và Ang ghen đã giải
thích duy vật không những giới tự nhiên mà cả xã hội, do đó đã đuổi cổ chủ n
nghĩa duy tâm ra khỏi hầm trú ẩn cuối cùng của nó là lĩnh vực xã hội học.
Việc tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử là biểu hiện vĩ đại nhất của bớc
ngoặt cách mạng trong triết học do Mác và Ang ghen thực hiện.
Khi vạch ra mối quan hệ tác động g iữa kinh tế, chính trị và t tởng, Mác
Đuy- rinh và Biện chứng của tự nhiên của Ăng ghen . Chủ nghĩa duy
vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê pháncủa Lê Nin.
Ttiết học Mác có ý nghĩâ thế giới quan và phơng pháp to lớn đối với các
khoa học cụ thể. Hiểu biết các quy luật phát triển nhất của hiện thực khách
quan sẽ giúp nghiên cứu có kết quả các quy luật đặc thù. Lê nin đã viết:
... Nếu không có một cơ sở triết học vững vàng thì tuyệt nhiên không có
khoa học tự nhiên nào hay chủ nghĩa duy vật nào có thể tiến hành đấu tranh
chống đợc sự lấn bớc của những t tởng t sản và sự phục hồi của thế giới quan
t sản. Muốn tiến hành đợc cuộc đấu tranh ấy và đa nó lên đến thành công hoàn
toàn, các nhà khoa học tự nhiên phải là một nhà duy vật hiện đại, một đồ đệ tự
giác của nghĩa duy vật mà Mác là ngời đại diện, nghĩa là nhà khoa học tự
nhiên ấy phải là một nhà duy vật biện chứng.
Luận điểm đó của Lênin cũng đúng cho cả khoa học xã hội. Nếu không
có quan điểm duy vật biện chứng về các hiện tợng của đời sống xã hội thì
không thể tạo ra đợc kinh tế học chính trị nh một khoa học, không thể biến
chủ nghĩa xã hội từ không tởng thành khoa học. Không có chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử thì không thể hiểu đợc sự phát triển
của nghệ thuật của văn học và những mặt khác của đời sống xã hội. Sự thống
nhất biện chứng giữa triết học Mác và các khoa học cụ thể là một bảo đảm cho
sự phát triển đi lên trong việc nghiên cứu và cải tạo tự nhiên và xã hội.
Triết học của chủ nghĩa Mác Lênin là triết học sáng tạo. Những luận
điểm cơ bản của triết học đợc Mác và Ang ghen xây dựng vào những năm
40 của thế kỷ 19. Sau đó vào thời kỳ tiếp theo trong hoạt động của mình,
khoảng 40 năm hai ông đã nghiên cứu toàn diện các vấn đề của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, khoa học tự nhiên, lịch sử triết
học. Ngoài ra những luận điểm của triết học Mác đợc phát triển bởi các nhà
Mác xít nh Ph. Mê -rinh... trong việc nghiên cứu triết học Mác thì Lênin đóng
vai trò hết sức to lớn. Ông đã nâng triết học Mác lên một giai đoạn cao mới.
6
nhân dân.
Ba là: Phù hợp với sự phát triển của lực lợng sản xuất, thiết lập từng bớc
quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng và hình thức
sở hữu. Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng
XHCN, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc. Kinh tế
quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế
quốc dân. Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao
động và có hiệu quả kinh tế là chủ yếu.
- Bốn là: tiến hành CMXH trên lĩnh vực t tởng và văn hoá làm cho thế
giới quan Mác Lê nin và t tởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo
trong đời sống tinh thần xã hội. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn
hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nớc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá
nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và
7
phẩm giá con ngời, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày
càng cao. Chống t tởng, văn hoá phản tiến bộ, trái với những truyền thống tốt
đẹp của dân tộc và những giá trị cao quý của loài ngời, trái với phơng pháp đi
lên CNXH.
- Năm là: Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở
rộng mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lợng phấn đấu vì sự nghiệp
dân giàu, nớc mạnh. Thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình hợp tác và hữu
nghị với tất cả các nớc, trung tháng với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công
nhân, đoàn kết với các nớc XHCN, với tất cả các lực lợng đấu tranh vì hoà
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
- Sáu là: xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lợc
của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất
nớc, nhân dân ta luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh
tăng khá; kim ngạch xuất khẩu thuỷ, hải sản năm 1995 gấp 3 lần năm 1990. Tỉ
lệ đất có rừng che phủ bắt đầu tăng nhờ đẩy mạnh trồng, khoanh nuôi và bảo
vệ rừng, hạn chế khai thác gỗ.
Các ngành dịch vụ năm 1995 tăng 80% so với năm 1990(bình quân hàng
năm tăng 12%). Giao thông vận tải có chuyển biến tiến bộ, vận tải hàng hoá
tăng 62%; viễn thông phát triển nhanh, doanh thu bu điện và doanh thu du lịch
đều gấp 10 lần; thị trờng hàng hoá trong nớc phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày
càng tăng của xã hội về số lợng, chất lợng, chủng loại.
Lĩnh vực tài chính, tiền tệ đạt tiến bộ đáng kể, nổi bật nhất là đã chặn đợc
nạn lạm phát cao, từng bớc đẩy lùi lạm phát. chỉ số giá hàng tiêu dùng và dịch
vụ giảm từ 67,4% năm 1991 xuống còn 17,5% năm 1992; 5,2% năm 1993;
14,4% năm 1994 và 12,7% năm 1995.
Đã hình thành đợc hệ thống thuế áp dụng thống nhất cho các thành phần
kinh tế, nâng dần tỉ lệ động viên thuế và phí trong GDP, tạo thành nguồn thu
chính của ngân sách nhà nớc, bảo đảm toàn bộ chi thờng xuyên và tăng dần
phần dành cho đầu t phát triển. Tỉ lệ thiếu hụt ngân sách đã đợc kiềm chế;
chấm dứt việc phát hành tiền để bù đắp bội chi, thay bằng vay của dân, của nớc ngoài.
Trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng đã phân định chức năng quản lý nhà nớc
của ngân hàng nhà nớc và chức năng kinh doanh của ngân hàng thơng mại.
Việc điều hoà lu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam, quản lý
ngoại hối, xây dựng thị trờng hối đoái hợp pháp và các hoạt động tín dụng,
thanh toán đều có bớc tiến.
Quy mô đầu t phát triển toàn xã hội tăng khá. Trong 5 năm, ớc tính vốn
đầu t phát triển toàn xã hội khoảng 18 tỉ USD (theo mặt bằng giá 1995), trong
đó phần của Nhà nớc chiếm 43% (bao gồm cả đầu t qua ngân sách, tín dụng
nhà nớc và doanh nghiệp nhà nớc tự đầu t), đầu t của nhân dân chiếm trên
30%, đầu t trực tiếp của nớc ngoài chiếm 27%. Đối với các doanh nghiệp nhà
nớc, đã chuyển mạnh từ hình thức ngân sách cấp phát có tính chất bao cấp
sang hình thức tín dụng đầu t, mở rộng liên doanh liên kết, vay vốn trong nớc
10
Cơ cấu thành phần kinh tế:
Khu vực kinh tế nhà nớc chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế, đảm
nhận các khâu then chốt và các lĩnh vực trọng yếu, nhất là trong công nghiệp,
cơ sở hạ tầng và tài chính, tín dụng. Nhiều doanh nghiệp nhà nớc đã tiếp cận
thị trờng, đầu t chiều sâu, đổi mới công nghệ, hoạt động có hiệu quả hơn trớc.
Các hợp tác xã trong các lĩnh vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
mua bán, tín dụng trong thời kỳ đầu chuyển sang cơ chế mới, do nhiều nguyên
nhân, bị suy giảm mạnh. Đến nay một số ít đã đổi mới tổ chức, quy mô và phơng thức hoạt động, khôi phục và phát triển sản xuất, kinh doanh. Đã xuất
hiện các hình thức kinh tế hợp tác kiểu mới, tuy cha phổ biến.
Kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển nhanh chóng trong nông, lâm, ng
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thơng mại, dịch vụ đã góp phần quan trọng
vào các thành tựu kinh tế xã hội.
Kinh tế t bản t nhân trong nớc bớc đầu phát triển, tập trung phần lớn vào
lĩnh vực thơng mại, dịch vụ và kinh doanh bất động sản, đầu t vào sản xuất
còn ít. Các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa là chủ yếu, có một số doanh
nghiệp quy mô tơng đối lớn, sử dụng nhiều lao động.
Kinh tế t bản nhà nớc bao gồm các hình thức liên doanh giữa kinh tế nhà
nớc với t bản t nhân trong nớc và với t bản nớc ngoài đang phát triển. Các
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đã bắt đầu đóng góp vào sự tăng trởng
kinh tế, tăng thêm kim ngạch xuất khẩu, tạo nhiều việc làm trực tiếp và gián
tiếp.
c. Kinh tế đối ngoại phát triển trên nhiều mặt; thị trờng xuất, nhập khẩu
đợc củng cố và mở rộng; nguồn vốn đầu t của nớc ngoài tăng nhanh.
Trong 5 năm (1991 1995) tổng kim ngạch xuất khẩu đạt trên 17 tỉ
USD (kế hoạch là 12 15 tỉ USD), bảo đảm nhập các loại vật t, thiết bị và
hàng hoá đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống, góp phần cỉa thiện cán
cân thanh toán thơng mại. Trong cơ cấu hàng xuất khẩu đã có thêm một số
kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ tiến bộ vào sản xuất, kinh
doanh đợc đẩy mạnh hơn trớc.
e. Lĩnh vực văn hoá - xã hội có chuyển biến tích cực, đời sống nhân dân
đợc cải thiện một bớc.
Công tác giáo dục và đào tạo có bớc phát triển mới, sau một số năm giảm
sút. Tỉ lệ ngời biết chữ trong dân đã nâng lên đạt mức 90%; tỉ lệ trẻ em đi học
trong độ tuổi phổ cập tiểu học và số học sinh phổ thông các cấp học đều tăng;
tỉ lệ lu ban, bỏ học giảm. Mạng lới trờng phổ thông mở rộng đến khắp các xã,
phờng; cơ sở vật chất đợc cải thiện. Các tỉnh và nhiều huyện miền núi có trờng
nội trú cho con em ngời dân tộc. Hình thức trờng chuyên, lớp chọn phát triển
ở nhiều địa phơng. Nhiều trờng bán công và dân lập ra đời, hoạt động có hiệu
quả.
Các trờng, lớp dạy nghề phát triển dới nhiều hình thức. Hệ thống giáo
dục đại học, trung học chuyên nghiệp mở rộng hơn trớc cả về quy mô, ngành
nghề và loại hình đào tạo. Các trờng đại học và cao đẳng đang đợc sắp xếp lại;
các trung tâm đại học quốc gia ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và ba trung
tâm đại học khu vực đang hình thành.
Công tác thông tin đại chúng, các hoạt động văn hoá, nghệ thuật phát
triển phong phú cả về thể loại, hình thức và nội dung, đáp ứng tốt hơn nhu cầu
thông tin và hởng thụ văn hoá của các tầng lớp nhân dân, góp phần tích cực
trong công tác tuyên truyền, giáo dục, đặc biệt là giáo dục truyền thống cách
mạng, đấu tranh chống những hiện tợng tiêu cực, đẩy lùi ảnh hởng văn hoá
độc hại. Diện phủ sóng truyền thanh, truyền hình đợc mở rộng, chất lợng thu
phát tốt hơn.
Trong lĩnh vực bảo vệ sức khoẻ, đã có những cố gắng và tiến bộ về vệ
sinh phòng bệnh. thực hiện có kết quả các chơng trình chăm sóc và bảo vệ trẻ
em, chơng trình phòng chống sốt rét, bớu cổ, phòng chống suy dinh dỡng;
tăng tỉ lệ số dân đợc dùng nớc sạch, đợc cung cấp dịch vụ y tế tại xã, phờng.
12
với mục tiêu đề ra 4,5 5%, trong đó nông nghiệp tăng 5,6%, lâm nghiệp
0,4%, ng nghiệp 8,4%.
Cơ cấu mùa vụ đã chuyển dịch theo hớng tăng diện tích lúa đông xuân và
lúa hè thu có năng suất cao, ổn định. Các loại giống lúa mới đã đợc sử dụng
trên 87% diện tích gieo trồng. Sản lợng lơng thực có hạt tăng bình quân hàng
năm trên 1,6 triệu tấn, lơng thực bình quân đầu ngời đã tăng từ 360 kg năm
1995 lên trên 444 kg năm 2000.
Nhiều vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung gắn với công nghiệp
chế biến bớc đầu đợc hình thành, sản phẩm nông nghiệp đa dạng hơn. So với
năm 1995, diện tích một số cây công nghiệp tăng khá: cà phê gấp hơn 2,7 lần,
cao su tăng 46%, mía tăng khoảng 35%, bông tăng 8%, thuốc lá tăng trên
13
18%, rừng nguyên liệu giấy tăng 66%... Một số loại giống cây công nghiệp có
năng suất cao đã đợc đa vào sản xuất đại trà.
Giá trị sản xuất nông nghiệp trên một đơn vị đất nông nghiệp tăng từ
13,5 triệu đồng/ha năm 1995 lên 17,5 triệu đồng/ha năm 2000.
Chăn nuôi tiếp tục phát triển. Sản lợng thịt lợn hơi năm 2000 ớc trên
1,4triệu tấn, bằng 1,4 lần so với năm 1995.
Nghề nuôi, trồng và đánh bắt thủy sản phát triển khá. Sản lợng thủy sản
năm 2000 đạt trên 2 triệu tấn so với mục tiêu kế hoạch 1,6 1,7 triệu tấn,
xuất khẩu đạt 1.475 triệu USD.
Công tác trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng có tiến bộ. Trong 5 năm đã
trồng 1,1 triệu ha rừng tập trung, bảo vệ 9,3 triệu ha rừng hiện có, khoanh nuôi
tái sinh 700 nghìn ha. Độ che phủ tăng từ 28,2% năm 1995 lên 33% năm
2000.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2000 đạt 4,3 tỷ USD, gấp hơn 1,7 lần
so với năm 1995, bình quân hàng năm chiếm khoảng 30% kim ngạch xuất
70% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nớc.
Cơ cấu các ngành công nghiệp đã có chuyển dịch đáng kể, hình thành
một số sản phẩm mũi nhọn, một số khu công nghiệp, khu chế xuất với nhiều
cơ sở sản xuất có công nghệ hiện đại. Đến năm 2000, công nghiệp khai thác
dầu thô, khí tự nhiên và dịch vụ khai thác dầu khí chiếm khoảng 11,2% tổng
giá trị sản xuất toàn ngành, công nghiệp sản xuất thực phẩm và đồ uống chiếm
khoảng 20,0%, công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, hơi nớc
chiếm khoảng 5,4%.
Ngành xây dựng đã tiếp nhận công nghệ xây dựng mới, trang bị thêm
nhiều thiết bị hiện đại, đáp ứng đợc nhu cầu phát triển trong lĩnh vực xây dựng
dân dụng và công nghiệp, có thể đảm đơng việc thi công những công trình quy
mô lớn, hiện đại về công nghệ; năng lực đấu thầu các công trình xây dựng cả
trong và ngoài nớc đợc tăng cờng.
Đáp ứng đủ nhu cầu xi măng, tấm lợp; cơ bản đáp ứng đợc nhu cầu về
thép xây dựng thông thờng. Một số loại vật liệu xây dựng chất lợng cao (gạch
lát nền, gạch ốp lát) sản xuất trong nớc đạt tiêu chuẩn châu Âu và khu vực.
+ Các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển trong điều kiện khó khăn hơn trớc, góp phần tích cực tăng trởng kinh tế và phục vụ đời sống.
Giá trị các ngành dịch vụ tăng 6,8%/năm.
Thơng mại phát triển khá, bảo đảm lu chuyển, cung ứng vật t, hàng hoá
trong cả nớc và trên từng vùng. Thơng mại quốc doanh đợc sắp xếp lại theo hớng nắm bán buôn, tham gia kinh doanh bán lẻ đối với một số mặt hàng thiết
yếu; mạng lới trao đổi hàng hoá với nông thôn, miền núi bớc đầu đợc tổ chức
lại. Tổng mức hàng hoá bán lẻ tăng bình quân 6,2%/năm (đã loại trừ yếu tố
biến động giá).
Du lịch phát triển đa dạng, phong phú, chất lợng dịch vụ đợc nâng lên.
Tổng doanh thu du lịch tăng 9,7%/năm.
Dịch vụ vận tải về cơ bản đã đáp ứng đợc nhu cầu giao lu hàng hoá và đi
lại của nhân dân. Khối lợng luân chuyển hàng hoá tăng 12%/năm và luân
chuyển hành khách tăng 5,5%/năm.
Dịch vụ bu chính viễn thông có bớc phát triển và hiện đại hóa nhanh.
Giá trị doanh thu bu điện tăng bình quân hàng năm 11,3%.
Các vùng kinh tế trọng điểm đóng góp khoảng 50% giá trị GDP cả nớc;
75 80% giá trị gia tăng công nghiệp và 60 65% giá trị gia tăng khu vực
dịch vụ. Nhịp độ tăng trởng của các vùng trọng điểm đều đạt trên mức trung
bình cả nớc, đóng vai trò tích cực lôi cuốn và kích thích các vùng khác cùng
phát triển.
b. Các cân đối chủ yếu trong nền kinh tế đã đợc điều chỉnh thích hợp để
duy trì khả năng tăng trởng kinh tế và ổn định đời sống nhân dân.
- Đã cải thiện một bớc quan hệ tích lũy và tiêu dùng theo hớng tăng tích
lũy cho phát triển.
Tỷ lệ tiết kiệm trong nớc so với GDP từ 18,2% năm 1995 tăng lên 27%
năm 2000. Tổng quỹ tích luỹ tăng bình quân hàng năm trên 9,5%; toàn bộ tích
lũy tài sản so với GDP từ 27,2% năm 1995 đợc nâng lên 29,5%năm 2000(bình
quân 5 năm 1996 2000 là 28,5%).
Tổng quỹ tiêu dùng tăng bình quân hàng năm hơn 5%, tiêu dùng bình
quân đầu ngời tăng hàng năm gần 3,5%.
Tỷ lệ tích lũy trong tổng tích lũy tiêu dùng bình quân 5 năm là 26,8%;
riêng năm 2000 khoảng 28,7% tỷ lệ tiêu dùng tơng ứng khoảng 71,3%.
Các cân đối tài chính tiền tệ có tiến bộ, góp phần ổn định kinh tế vĩ
mô và khai thác tốt các nguồn lực.
hơn.
Ngân sách nhà nớc bớc đầu đợc cơ cấu lại theo hớng tích cực và hiệu quả
16
Việc cải cách thuế giai đoạn 2 và triển khai thực hiện Luật Ngân sách đã
góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng nguồn thu cho ngân
sách. Tổng thu ngân sách nhà nớc tăng bình quân hàng năm trên 8,7%, cao
hơn mức tăng bình quân GDP; trong đó thu từ thuế và phí chiếm 94,2%; mức
Nguồn vốn trong nớc đã đợc khai thác khá hơn, chiếm trên 60% tổng số
vốn đầu t, tạo điều kiện tốt hơn để tập trung vào những mục tiêu phát triển
nông nghiệp và nông thôn, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao chất lợng nguồn
nhân lực, phát triển khoa học và công nghệ, đặt biệt là xây dựng kết cấu hạ
tầng.
Nguồn vốn đầu t toàn xã hội đợc tập trung cho nông nghiệp khoàng
11,4% so tổng nguồn; các ngành công nghiệp khoảng 43,7%, trong đó đầu t
cho các ngành công nghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
17
chiếm khoảng 30,0% tổng vốn đầu t ngành công nghiệp; giao thông vận tải và
bu chính viễn thông khoảng 15,7%; lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo
dục và đào tạo, y tế, văn hoá khoảng 6,7%; các ngành khác (công cộng, cấp
thoát nớc, quản lý Nhà nớc, thơng mại, du lịch, xây dựng....) khoảng 22,5%.
Do điều chỉnh chính sách và cơ cấu đầu t, nên quy mô đầu t ở các vùng
miền núi phía Bắc gấp trên 1,8 lần, vùng đồng bằng sông Hồng gấp 1,3 lần;
vùng Bắc Trung Bộ gấp 1,5 lần; vùng Duyên hải miền Trung gấp 1,7 lần, vùng
Tây Nguyên gấp 1,9 lần; vùng Đông Nam Bộ gấp 1,7 lần và vùng đồng bằng
sông Cửu Long g ấp 2 lần.
Riêng nguồn vốn đầu t từ ngân sách Nhà nớc, ớc thực hiện trong 5 năm
( 1996 2000) khoảng 100 nghìn tỷ đồng (theo giá 1995), đã tập trung hơn
cho lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội; trong đó đầu t cho
lĩnh vực nông nghiệp khoảng 22,5%; cho công nghiệp 9,5%; cho giao thông
vận tải và bu chính viễn thông 29,8%; cho khoa học và công nghệ, giáo
dục và đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao 18,7%, cho các ngành khác
19,5%.
Nhờ tăng đầu t, số công trình đợc đa vào sử dụng và năng lực của hầu hết
các ngành tăng nhiều, kết cấu hạ tầng có bớc phát triển khá, đáp ứng yêu cầu
Kết cấu hạ tầng ở nhiều thành phố, đô thị và nông thôn đợc đầu t cải tạo
nâng cấp. Đến năm 2000 đạt đợc mục tiêu 100% số huyện và 80% số xã, phờng trên toàn quốc có điện. Tỷ lệ số dân ở nông thôn đợc cung cấp nớc sạch
mới đạt 40%, thấp xa so với mục tiêu; trên 95% số xã đã có đờng ô tô vào đến
trung tâm.
Cơ sở vật chất của các ngành giáo dục và đào tạo, khoa học và công
nghệ, y tế, văn hoá, du lịch, thể dục thể thao và các ngành khác đều đợc tăng
cờng đáng kể.
Kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển
Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục phát triển khá.
Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt trên 51,6 tỷ USD, tăng bình quân
hàng năm trên 21%, gấp 3 lần mức tăng GDP. Khối lợng các mặt hàng xuất
khẩu chủ lực đều tăng khá. Cơ cấu hàng xuất khẩu đã có sự thay đổi một bớc.
Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản tuy vẫn
chiếm vị trí quan trọng nh có xu hớng giảm dần, từ 42,3% năm 1996 xuống
còn 30% năm 2000; tỷ trọng của nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu công
nghiệp, thủ công nghiệp tăng tơng ứng từ 29% lên 34,3%; nhóm hàng công
nghiệp nặng và khoáng sản từ 28,7% lên 35,7%.
Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 186 USD/ ngời, tuy còn ở mức
thấp, nhng đã thuộc loại các nớc có nền ngoại thơng phát triển.
Thị trờng xuất, nhập khẩu đợc củng cố và mở rộng thêm. Thị trờng Châu
á chiếm 58% tổng kim ngạch xuất khẩu và trên 80% tổng kim ngạch nhập
khẩu của Việt Nam; riêng thị trờng các nớc ASEAN tơng ứng chiếm trên 18%
và 29%. Trên một số thị trờng khác nh RU, Châu Mỹ, Trung Đông, hàng xuất
khẩu của ta đã có mặt và đang tăng dần.
Tuy cha tính vào cân đối xuất nhập khẩu hàng năm, nhng các dịch vụ thu
ngoại tệ nh kiều hối, xây dựng các công trình ở nớc ngoài (trúng thầu), xuất
khẩu lao động, dịch vụ, trao đổi chuyên gia... đã tăng lên nhanh chóng trong
thời gian qua.
Tổng kim ngạch nhập khẩu 5 năm khoảng 61 tỷ USD, tăng bình quân
hàng năm khoảng 13,3%; tỷ trọng hàng tiêu dùng trong tổng kim ngạch nhập
Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã từng bớc mở rộng đầu t ra
nớc ngoài. Đến nay, đã có trên 40 dự án đầu t vào 12 nớc và vùng lãnh thổ,
chủ yếu trong các ngành xây dựng, chế biến thực phẩm, thơng mại, dịch vụ...
Tuy quy mô còn nhỏ, nhng qua hoạt động đầu t ra nớc ngoài, các doanh
nghiệp Việt Nam có điều kiện nâng cao hiệu quả, đẩy mạnh đợc xuất khẩu
hàng hoá, dịch vụvà lao động ra nớc ngoài.
Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tiếp tục tăng, góp phần quan
trọng phát triển kết cấu hạ tầng.
Hàng năm, nguồn vốn ODA cam kết tăng đáng kể, việc giải ngân ngày
càng đợc cải thiện. Tính chung trong 5 năm, nguồn vốn ODA đa vào thức hiện
khoảng 6,1 tỷ USD, tập trung hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế nh điện,
giao thôn, thuỷ lợi, cấp thoát nớc; phát triển nông nghiệp và nông thôn, xoá
đói, giảm nghèo; phát triển tế, giáo dục và đào tạo; tăng cờng năng lực và thể
trong các lĩnh vực cải cách hành chính, luật pháp, quản lý kinh tế; hỗ trợ một
số lĩnh vực sản xuất nh chế biến thuỷ sản, nông sản,...
Nhiều dự án đầu t bằng vốn ODA đã đợc đa vào sử dụng, góp phần tăng
trởng kinh tế và cải thiện đời sống đời sống nhân dân.
d.Sự nghiệp giáo dục và đào tạoh có bớc phát triển cả về quy mô, chất lợng, hình thức đào tạo và cơ sở vật chất.
Quy mô giáo dục và đạot tạo tiếp tục tăng ở tất cả các bậc học, ngành
học, đáp ứng nhu cầu học tập ngày lớn của nhân dân.
20
Năm học 1999 2000 so với năm 1994 1995, quy mô học sinh mẫu
giáo gấp 1,2 lần, học sinh trung học sở sở gấp 1,6 lần, học sinh trung học phổ
thông gấp 2,3, lần, đào tạo đại học gấp 3 lần, đào tạo nghề gấp 1,8 lần.
Đến hết năm 2000 có 100% tỉnh, thành phố đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo
dục tiểu học và xoá mù chữ, một số tỉnh, thành phố đã bắt đầu thực hiện chơng trình phổ cập trung học cơ sở.
Phong trào học tập văn hoá, khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ quản lý, ngoại
21
Cơ sở vật chất kỹ thuật của các viện nghiên cứu, các trung tâm khoa học
và công nghệ đợc tăng cờng một bớc, có nhiều cải thiện, góp phần nâng cao
chất lợng nghiên cứu. Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đợc chú trọng
đào tạo chuyên sâu và đồng bộ, nâng cao trình độ chuyên môn, có khả năng
tiếp thu và làm chủ một số công nghệ hiện đại.
Trong hoàn cảnh kinh tế có nhiều khó khăn, các lĩnh vực văn hoá, xã hội
đã có bớc phát triển khá, thể hiện sự nỗ lực rất lớn của toàn Đảng, toàn dân.
Giải quyết có kết quả vấn đề việc làm cho ngời lao động. Chính phủ đã
ban hành nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy đầu t phát triển, mở rộng sản xuất,
dịch vụ, đa dạng hoá ngành nghề, khuyến khích các thành phần kinh tế bỏ vốn
đầu t, thực hiện các chơng trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nớc, đã tạo
thêm nhiều chỗ làm việc mới và tăng thêm việc làm cho ngời lao động.
Mạng lới các trung tâm xúc tiến việc làm,, trung tâm dạy nghề, hớng
nghiệp của các ngành, các cấp, các doanh nghiệp và các đoàn thể quần chúng
đã đóng góp phần tích cực trong việc tạo cơ hội để ngời lao động có thể tiếp
cận việc làm hoặc tự tạo việc làm, kết hợp với sự hỗ trợ của Nhà nớc và của
cộng đồng.
Trong 5 năm qua đã có thêm khoảng 6,1 triệu lao động đợc thu hút vào
làm việc và tạo thêm việc làm trong các ngành kinh tế, xã hội, bình quân mỗi
năm thu hút khoảng hơn 1,2 triệu ngời; trong đó khu vực kinh tế t nhân, kinh
tế hợp tác đã đóng góp phần đáng kể, tạo ra nhiều chỗ làm việc mới.
Công tác xoá đói, giảm nghèo đã đợc triển khai mạnh mẽ ở hầu hết các
tỉnh, nhất là ở các vùng nghèo, xã nghèo; đã thu hút đợc nhiều nguồn lực hỗ
trợ và đạt đợc kết quả khá.
Từ khi có chủ trơng xoá đói, giảm nghèo (năm 1992) đến nay, Nhà nớc
đã đầu t thông qua các chơng trình quốc gia có liên quan đến mục tiêu xoá
đói, giảm nghèo khoảng trên 21 nghìn tỷ đồng. Trong 2 năm gần đây, bên
đề ra. Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình đợc
tăng cờng đáng kể; bình quân mỗi huyện đã có 2 trung tâm liên xã làm dịch
vụ kế hoạch hoá gia đình, bảo đảm 100% tuyết tỉnh, huyện và 70% tuyến xã
có trang thiết bị phù hợp. Với các tiến bộ trên, năm 1999 Việt Nam đã đợc
Liên Hợp quốc tặng giải thởng về công tác dân số.
Tạo đợc phong trào toàn xã hội chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em; thực
hiện các mụctiêu của chơng trình hoạt động quốc gia về trẻ em; 51% quận ,
huyện có điểm văn hoá, vui chơi cho trẻ em; 70% em mồ côi không nơi nơng
tựa đợc chăm sóc.
Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ, đặc biệt là trong
lĩnh vực y tế dự phòng. Các chỉ số sức khoẻ cộng đồng đợc nâng lên. Tỷ lệ trẻ
em dới 5 tuổi bị suy dinh dỡng giảm từ 38% năm 1995 xuống 33 34% năm
2000 , tỷ lệ tử vong của trẻ em dới 5 tuổi giảm từ 81% xuống còn 42%; bệnh
bại liệt , bệnh thiếu Vitamin A, bện uốn ván sơ sinh cơ bản đợc thanh toán vào
năm 2000. Các bện sốt rét, bớu cổ năm 2000 đã giảm gần 60% với năm 1995.
Một số bệnh viện đợc nâng cấp, cải tạo hoặc xây dựng mới; hầu hết các
xã đã có trạm y tế. Trung tâm y tế chuyên sâu ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh đợc hình thành bớc đầu; trang thiết bị y tế đã đợc nâng cấp ở các tuyến.
Các cơ sở khám, chữa bệnh t nhân đợc phát triển. Các chính sách về bảo hiểm
y tế và chế độ thu một phần việc phí đã góp phần khắc phục những khó khăn
của ngành. Nhiều nơi đã triển khai tốt chính sách khám, chữa bệnh cho ngời
nghèo, gia đình có công với dân, với nớc.
Các hoạt động về xã hội, chăm sóc ngời có công, đền ơn đáp nghĩa, uống
nớc nhớ nguồn... đợc mở rộng, thu hút sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp
nhân dân, các cơ quan, đoàn thể.
Trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn và ngay trong những năm
nhịp độ tăng trởng kinh tế bị giảm sút, chúng ta đã thực hiên mạnh mẽ hơn các
chính sách bảo đảm xã hội (nâng lơng tối thiểu, tăng phụ cấp hu trí, ngời có
công,...), mức sống của cán bộ, công chức, ngời về hu, gia đình có công với
cách mạng đã đợc nâng lên một bớc .
khuôn khổ pháp lý cho nền kinh tế hàng há nhiều thành phần vận hành trong
cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN . Cơ chế
quản lý kinh tế, hệ thống luận pháp, cơ chế chính sách đợc đồng bộ hoá và
hoàn thiện dần, đang phát huy tích cực trong quản lý kinh tế và trong đời sống
xã hội.
Trong quá trình triển khai thực hiện các Luật Pháp lệnh, các Chỉ thị,
Nghị quyết,... đã kịp thời điều chỉnh, bổ sung những nội dung mới phù hợp với
tiến trình phát triển, tạo ra môi trờng vĩ mô thuận lợi để thu hút các nguồn lực
cho đầu t phát triển kinh tế, xã hội.
Thị trờng hàng hoá, dịch vụ; thị trờng vốn, tiền tệ; thị trờng bất động
sản... đang đợc hình thành với những cơ chế chính sách quản lý phù hợp đã
tạo thêm động lực cho sự phát triển, khơi dậy tính năng động của nền kinh tế.
Quốc phòng và an ninh đợc giữ vững
Vùng với phát triển kinh tế, xã hội, tiềm lực quốc phòng và an ninh của
đất nớc đã đợc tăng cờng, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu thiết yếu trong lĩnh vực
bảo đảm kỹ thuật, giữ gìn, bảo quản và từng bớc cải tiến vũ khí, trang thiết bị
24
hiện có; cải thiện đáng kể đời sống bộ đội, công an; đáp ứng ngày càng tốt
hơn các nhu cầu về doanh trại, cấp điện, cấp nớc và các nhu cầu về đời sống
tinh thần.
Các tuyến phòng thủ biên giới, các địa bàn trọng điểm về kinh tế, an
ninh, quốc phòng, đặc biệt là vùng biển, hải đảo đã đợc tăng cờng. Việc kết
hợp giữa phát triển kinh tế, xã hội với quốc phòng và an ninh đợc chú trọng
hơn trong công tác quy hoạch và kế hoạch. Thế trận quốc phòng toàn dân và
thế trận an ninh nhân dân ngày càng đợc củng cố, phát triển; trật tự an toàn xã
hội đợc bảo đảm.
Đạt đợc thành tựu phát triển kinh tế xã hội nên trên chủ yêu là nhờ
tinh thầnh đoàn kết phấn đấu của toàn dân, toàn Đảng, của các ngành, các