Khoá luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
Bên cạnh đó, khu vực kinh tế cá nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ
tăng trưởng khá nhanh: Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hàng năm đóng góp khoảng
15,62% tổng giá trị GDP , năm 2003 đạt 88,74 nghìn tỷ đồng tăng 20,42% so với năm
2002 và tăng 32,09% so với năm 2000, năm 2007 là 202.08 nghìn tỷ đồng tăng 22,14%
so với năm 2006 và tăng 137,33% so với năm 2000. Khu vực kinh tế cá nhân có tốc độ
tăng trưởng so với năm 2000 là 86,81%, năm 2007 đóng góp 115,64 nghìn tỷ đồng và
tăng 26,61% so với năm 2006. Hai khu vực này có tốc độ tăng liên tục qua các năm như
vậy là do trong những năm này tốc độ gia tăng vốn đầu tư vào hai khu vực này có tốc độ
tăng khá cao điều này càng khẳng định vai trò to lớn của vốn đầu tư phát triển tới tăng
trưởng kinh tế. Đây là hai khu vực kinh tế năng động, giàu tiềm năng và có ý nghĩa quan
trọng đối sự nghiệp tăng trưởng kinh tế trong nước và cải thiện đời sống nhân dân.......34
Từ những phân tích trên ta có thể thấy được rằng vốn đầu tư có vai trò rất quan trọng
trong sự tăng trưởng kinh tế. Điều này được thể hiện qua sự tác động của vốn đầu tư,
trong giai đoạn đã có thời kì tốc độ gia tăng vốn giảm xuống thì sự gia tăng của GDP
cũng giảm xuống một cách rõ rệt và khi có sự gia tăng của vốn đầu tư thì GDP cũng
tăng. Tuy nhiên, hai sự gia tăng này có tốc độ khác nhau thể hiện hiệu quả của vốn đầu
vẫn chưa cao.....................................................................................................................34
2.3 MỘT SỐ HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC ĐẦU TƯ CHO TĂNG TRƯỞNG KINH
TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000- 2007 VÀ ĐỊNH HƯỚNG TRONG THỜI GIAN
TỚI ..................................................................................................................................35
2.3.1 Một số hạn chế trong công tác đầu tư cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn
2000-2008.........................................................................................................................35
2.3.3 Phương hướng và giải pháp đầu tư phát triển trong thời gian tới...........................39
3.4 DỰ BÁO.....................................................................................................................65
Ngô Thị Hường – Toán Kinh tế 47
CP:
Chính phủ
Ngô Thị Hường – Toán Kinh tế 47
Khoá luận tốt nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bên cạnh đó, khu vực kinh tế cá nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ
tăng trưởng khá nhanh: Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hàng năm đóng góp khoảng
15,62% tổng giá trị GDP , năm 2003 đạt 88,74 nghìn tỷ đồng tăng 20,42% so với năm
2002 và tăng 32,09% so với năm 2000, năm 2007 là 202.08 nghìn tỷ đồng tăng 22,14%
so với năm 2006 và tăng 137,33% so với năm 2000. Khu vực kinh tế cá nhân có tốc độ
tăng trưởng so với năm 2000 là 86,81%, năm 2007 đóng góp 115,64 nghìn tỷ đồng và
tăng 26,61% so với năm 2006. Hai khu vực này có tốc độ tăng liên tục qua các năm như
vậy là do trong những năm này tốc độ gia tăng vốn đầu tư vào hai khu vực này có tốc độ
tăng khá cao điều này càng khẳng định vai trò to lớn của vốn đầu tư phát triển tới tăng
trưởng kinh tế. Đây là hai khu vực kinh tế năng động, giàu tiềm năng và có ý nghĩa quan
trọng đối sự nghiệp tăng trưởng kinh tế trong nước và cải thiện đời sống nhân dân.......34
Bên cạnh đó, khu vực kinh tế cá nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ
tăng trưởng khá nhanh: Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hàng năm đóng góp khoảng
15,62% tổng giá trị GDP , năm 2003 đạt 88,74 nghìn tỷ đồng tăng 20,42% so với năm
2002 và tăng 32,09% so với năm 2000, năm 2007 là 202.08 nghìn tỷ đồng tăng 22,14%
so với năm 2006 và tăng 137,33% so với năm 2000. Khu vực kinh tế cá nhân có tốc độ
tăng trưởng so với năm 2000 là 86,81%, năm 2007 đóng góp 115,64 nghìn tỷ đồng và
tăng 26,61% so với năm 2006. Hai khu vực này có tốc độ tăng liên tục qua các năm như
2000-2008.........................................................................................................................35
2.3.3 Phương hướng và giải pháp đầu tư phát triển trong thời gian tới...........................39
2.3.3 Phương hướng và giải pháp đầu tư phát triển trong thời gian tới...........................39
3.4 DỰ BÁO.....................................................................................................................65
3.4 DỰ BÁO.....................................................................................................................65
Ngô Thị Hường – Toán Kinh tế 47
1
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng kinh tế phù hợp với các yêu cầu và bước đi trong tiến trình
hội nhập kinh tế khu vực và thế giới là một trong những nội dung cơ bản của
đường lối đổi mới nền nước ta trong đại hội lần thứ X của Đảng đề ra.
Mục tiêu phấn đấu đề ra đến năm 2020 nước ta cơ bản là một nước có nền
nông nghiệp- công nghiệp hiện đại. Để thực hiện thành công mục tiêu ấy, nhiều
lý thuyết kinh tế đã chỉ rằng đầu tư chính là nhân tố quan trọng hàng đầu. Theo
các lý thuyết này, để có tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định cần phải duy trì một
lượng vốn đầu tư tương ứng với nhu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Với mục đích làm sáng rõ vai trò quan trọng của đầu tư tới quá trình
tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, tìm kiếm các phương hướng và giải pháp
phát huy hơn nữa vai trò đầu tư phát triển với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và
áp dụng phương pháp kinh tế lượng trong phân tích kinh tế nên em chọn đề
tài: “Sử dụng mô hình kinh tế lượng phân tích tác động của vốn đầu tư
phát triển tới tăng trưỏng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000- 2010”.
Chuyên đề gồm 3 chương:
Về kết quả đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất, tài sản
trí tuệ và tài sản vô hình. Các kết quả đạt được của đầu tư góp phần làm tăng
thêm năng lực sản xuất của xã hội. Hiệu quả đầu tư phát triển phản ánh quan
hệ so sánh giữa kết quả kinh tế xã hội thu được và chi phí chi ra để đạt được
kết quả đó.
Mục đích của đầu tư phát triển là sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc
gia, cộng đồng và nhà đầu tư. Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng
cao đời sống của các thành viên trong xã hội. Đầu tư của doanh nghiệp nhằm
tối thiểu chi phí, tối đa lợi nhuận …
Ngô Thị Hường – Toán Kinh tế 47
Khóa luận tốt nghiệp
3
Hoạt động đầu tư là một quá trình diễn ra trong thời kỳ dài và tồn tại
vấn đề “độ trễ thời gian”. Đầu tư thời hiện tại nhưng kết quả đầu tư thuờng
thu được trong tương lai. Đặc điểm này của đầu tư cần được quán triệt khi
đánh giá kết quả, chi phí và hiêu quả hoạt động đầu tư phát triển.
1.1.2. Đặc điểm của đầu tư phát triển
- Qui mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát
triển thường rất lớn. Vốn đầu tư lớn khê đọng lâu trong suốt quá trình thực
hiện đầu tư. Qui mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy
động vốn hợp lý, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu
tư, thực hiện đầu tư trọng điểm.
Lao động cần sử dụng cho các dự án rất lớn, đặc biệt đối với các dự án
trọng điểm quốc gia. Do đó công tác tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ
cần tuân thủ một kế hoạch định trước, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từng
chất (đầu tư tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực như đào tạo, nghiên cứu khoa
học…).
+ Theo cấp quản lý, đầu tư phát triển được chia thành đầu tư theo các
dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C.
Tuỳ theo tính chất và quy mô đầu tư dự án mà phân thành dự án quan
trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C, trong đó dự án nhóm A do Thủ tướng
Chính Phủ quyết định, dự án B và C do Bộ truởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ, cơ quan trực thuộc chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương quyết định.
Ngày 29/6/2006 Quốc hội đã thông qua tiêu chí về dự án quan trọng
quốc gia bao gồm: (1) Qui mô vốn đầu tư từ 20 nghìn tỷ trở lên đối với dự án
có sử dụng từ 30% vốn nhà nước trở lên. (2) dự án có ảnh hưởng lớn đến môi
trường và tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường như nhà
máy điện hạt nhân, dự án sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng
đất rừng phòng hộ đầu nguồn từ 200 ha trở lên…(3) Dự án phải di dân tái
định cư từ 20000 người trở lên ở miền núi, từ 50000 người trở lên ở các vùng
khác. (4) dự án đầu tư tại đại bàn đặ biệt quan trọng đối với quốc phòng an
ninh hoặc có di tích lịch sử quốc gia có giá trị đặc biệt quan trọng về lịch sử
Ngô Thị Hường – Toán Kinh tế 47
Khóa luận tốt nghiệp
5
văn hoá…(5) Dự án, công trình đòi hỏi phải áp dụng, cơ chế chính sách đặc
biệt cần được Quốc hội duyệt.
+ Tuỳ theo lĩnh vực hoạt động của các kết quả đầu tư, có phân chia các
hoạt động đầu tư thành đầu phát triển sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng… Các hoạt động đầu tư này có quan hệ tuơng hỗ với nhau.
gián tiếp là phương thức huy động vốn đầu tư phát triển.
Đầu tư trực tiếp: Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư, trong đó người bỏ
vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết
quả đầu tư. Loại đầu tư này tạo nên những năng lực sản xuất phục vụ mới (cả
về lượng và chất). Đây là loại đầu tư để tái sản xuất mở rộng, là biện pháp chủ
yếu để tăng thêm tài chính và đầu tư chuyển dịch. Đầu tư trực tiếp được thực
hiện bởi người nước ngoài và người trong nước. Do vậy, việc cân đối giữa hai
luồng vốn đầu tư ra và vào và việc coi trọng cả hai tình huống vốn này là hết
sức cần thiết.
+ Theo nguồn vốn trên phạm vi quốc gia, hoạt động đầu tư được chia
thành: đầu tư bằng nguồn vốn trong nước và đầu tư bằng nguồn vốn nước
ngoài.
Đầu tư bằng nguồn vốn trong nước: các hoạt động đầu tư được tài trợ
từ nguồn vốn tích luỹ của ngân sách, của các doanh nghiệp, tiền tiết kiệm của
dân cư.
Đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài: các hoạt động được thưc hiện bằng
các nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài. Trong đó vốn trong
nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng.
+ Theo vùng lãnh thổ chia thành đầu tư phát triển của các vùng lãnh
thổ, các vùng kinh tế trọng điểm…
1.1.4 Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển
+ Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư nhằm tái tạo tài sản cố
định của doanh nghiệp. Đầu tư XDCB bao gồm các hoạt động chính như:
mua sắm thiết bị, xây dựng thêm nhà xưởng máy móc...
+ Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ. Hàng tồn trữ trong doanh nghiệp là toàn
bộ nguyên liệu vật liệu, bán thành phẩm và sản phẩm hoàn thành được tồn trữ
Ngô Thị Hường – Toán Kinh tế 47
Khóa luận tốt nghiệp
Ngô Thị Hường – Toán Kinh tế 47
Khóa luận tốt nghiệp
8
Bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh
tế. Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính bền vững hay
việc đảm bảo chất lượng tăng trưởng ngày càng cao.
Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm liên tục trong một giai
đoạn nhất định sẽ cho ta khái niệm tốc độ tăng trưởng. Đó là sự tăng thêm sản
lượng nhanh hay chậm so với thời điểm gốc.
Với cách tiếp cận từ những biểu hiện, Kuznet- một nhà kinh tế học cho
rằng: tăng trưởng kinh tế là khả năng cung cấp ngày càng tăng và lâu dài các
hàng hoá đa dạng cho nhân dân. Ông nêu ra 6 đặc điểm của tăng trưởng kinh
tế hiện đại: tỷ lệ tăng trưởng cao của sản lượng bình quân đầu người; tốc độ
tăng năng suất lao động; tốc độ chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế cao; sự
chuyển biến của tư tưởng, thái độ xã hội; công nghệ được tăng cường và sự
lan rộng của tăng trưởng kinh tế có giới hạn.
Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền
kinh tế. Phát triển kinh tế được coi như quá trình biến đổi cả lượng và chất, nó
là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và
xã hội ở mỗi quốc gia.
Tuy nhiên do hạn chế về thời gian, trong phạm vi nghiên cứu đề tài chỉ
đi sâu xem xét đến khía cạnh tăng trưởng của nền kinh tế.
1.2.2. Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế
Có nhiều nhân tố khác nhau tác động đến quá trình tăng trưởng kinh tế
nhưng ta có thể phân chia thành: nhân tố kinh tế và nhân tố phi kinh tế.
1.2.2.1. Nhân tố kinh tế
xét đó là số lượng nguồn lao động mỗi quốc gia nhưng theo những mô hình
tăng trưởng hiện đại gần đây thì lao động gọi là vốn nhân lực đó là các lao
động có kỹ năng sản xuất, lao động cá khả năng vận hành được máy móc kỹ
thuật phức tạp, những lao động có sáng kiến phương pháp mới trong hoạt
động kinh tế.
Tài nguyên, đất đai (R) được coi là yếu tố quan trọng trong sản xuất
nông nghiệp và yếu tố không thể thiếu trong việc thực hiện bố trí các cơ quan
Ngô Thị Hường – Toán Kinh tế 47
Khóa luận tốt nghiệp
10
kinh tế thuộc các ngành công nghiệp và dịch vụ. Tài nguyên thiên nhiên từ
trong lòng đất, không khí, và biển được chia thành: tài nguyên có thể thay thế
và tài nguyên vô hạn, tài nguyên có thể tái tạo và tài ngyuên không thể tái tạo.
Hiện nay con người đã tìm cách thay thế để khắc phục mức độ khan hiếm của
tài nguyên và đất đai trong quá trình tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên tài
nguyên thiên nhiên và đất đai vẫn là nhân tố không thể thiếu được của quá
trình sản xuất nhất là đối với các nước đang phát triển.
Công nghệ kỹ thuật (T) là nhân tố tác động ngày càng mạnh đến tăng
trưởng trong điều kiện nền kinh tế hiện đại. Yếu tố này cần được hiểu đầy đủ
theo hai dạng: đó là những kiến thức và sự áp dụng phổ biến những kết quả
nghiên cứu vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất.
Ngày nay, các nhà kinh tế hiện đại không nói đến nhân tố tài nguyên là
biến số của hàm tăng trưởng kinh tế, họ cho rằng đất đai là yếu tố cố định còn
tài nguyên thì có xu hướng giảm dần trong quá trình khai thác. Vì vậy 3 yếu
tố trực tiếp tác động đến tăng trưởng kinh tế là: vốn, lao động và năng suất
yếu tố tổng hợp(TFP). TFP được coi là yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu.
Thể chế biểu hiện như là một lực lượng đại diện cho ý chí của cộng
đồng, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế, chính trị và xã hội theo lợi
ích cộng đồng đặt ra. Một thể chế chính trị- xã hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo
điều kiện đổi mới công nghệ sản xuất phù hợp với điều kiện thực tế, tạo tốc
độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng. Một thể chế phù hợp với sự phát
triển hiện đại mang những đặc trưng: Có tính năng động, nhạy cảm và mềm
dẻo, luôn thích nghi được với những biến đổi phức tạp do tình hình trong
nước và quốc tế xảy ra; Bảo đảm sự ổn định của đất nước, khắc phục được
những mâu thuẫn và xung đột có thể xảy ra trong quá trình phát triển; Tạo
điều kiện cho nền kinh tế mở hoạt động có hiệu quả, nhằm tranh thủ vốn đầu
tư và công nghệ tiên tiến của thế giới; Tạo được đội ngũ đông đảo những
người có năng lực quản lý, có trình độ khoa học kỹ thuất hiện đại…
Ngô Thị Hường – Toán Kinh tế 47
Khóa luận tốt nghiệp
12
+ Cơ cấu dân tộc
Sự tăng trưởng và phát triển của một nền kinh tế và dân tộc có thể đem
lại những biến đổi có lợi cho dân tộc này nhưng bất lợi cho dân tộc kia. Đó
chính là những nguyên nhân nảy sinh xung đột giữa các dân tộc ảnh hưởng
không nhỏ đến quá trình kinh tế đất nước. Do vậy phải lấy tiêu chuẩn bình
đẳng, cùng có lợi cho các dân tộc nhưng lại bảo tồn được bản sắc riêng và các
truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc. Điều đó sẽ tạo điều kiện thắng lợi cho
quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế.
+ Cơ cấu tôn giáo
Trong một nước có nhiều tôn giáo. Những thiên kiến tôn giáo nói
I : đầu tư
X-M : chi tiêu qua thương mại quốc tế
+ Tổng thu nhập quốc dân (GNI)
Là tổng thu nhập từ sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do công
dân của một nước tạo nên trong một khoảng thời gian nhất định.
GNI = GDP + chênh lệch từ nhân tố với nước ngoài.
Chênh lệch thu nhập
= thu nhập lợi tức
Nhân tố với nước ngoài
+ chi trả lợi tức
nhân tố từ nuớc ngoài
ra nước ngoài
+ Thu nhập nước ngoài (NI –National Income)
Là phần giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ mới sáng tạo ra trong một
khoảng thời gian nhất định.
NI = GNI - D P
+ Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI – National Disposable Income)
Là phần thu nhập của quốc gia dành cho tiêu dùng cuối cùng và tích luỹ
thuần tuý trong một khoảng thời kì nhất định.
NDI = NI + chênh lệch về chuyển nhượng hiện hành với nước ngoài
Chênh lệch về chuyển
nhượng hiện hành
với nước ngoài
+ Tác động đến tổng cầu: Để tạo ra sản phẩm cho xã hội trước hết cần
đầu tư. Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ
nền kinh tế. Theo ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm từ 24% đến 28%
trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới.
Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn.Khi
tổng cung chưa kịp thay đổi thì gia tăng đầu tư (I) làm cho tổng cầu (AD)
tăng nếu các yếu tố khác không đổi.
AD = C + I + G +X – M
Trong đó: C: tiêu dùng
I: Đầu tư
G: Tiêu dùng của chính phủ
X: Xuất khẩu
M: Nhập khẩu
+ Tác động đến cung: Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính
là cung trong nước và cung từ nước ngoài. Bộ phận chủ yếu, cung trong nước
là một hàm của các yếu tố sản xuất: vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ…
thể hiện qua phương trình sau:
Q = F(K, L, T ,R…)
Ngô Thị Hường – Toán Kinh tế 47
Khóa luận tốt nghiệp
Trong đó:
15
K: Vốn đầu tư
L: Lao động
Y: Công nghệ
R: Nguồn tài nguyên
16
Tỷ lệ vốn đầu tư/ GDP
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Như vậy nếu ICOR không đổi mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào
vốn đầu tư. Theo một số nghiên cứu kinh tế, muốn giữ tốc độ tăng trưởng khá
cao và ổn định thì tỷ lệ đầu tư phải chiếm trên 25% so với GDP, tuỳ thuộc vào
ICOR của mỗi nước.
1.3.3 Tác động của đầu tư phát triển đến khoa học và công nghệ
Đầu tư là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát
triển khoa học công nghệ của một doanh nghiệp và quốc gia.
Để phản ánh sự tác động của đầu tư đến trình độ phát triển khoa học
công nghệ, có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:
+ Tỷ trọng vốn đầu tư đổi mới công nghệ/ tổng vốn đầu tư. Chỉ tiêu này
cho thấy mức độ đầu tư đổi mới công nghệ nhiều hay ít trong mỗi thời kì.
+Tỷ trọng chi phí mua sắm máy móc thiết bị/ tổng vốn đầu tư thực
hiện. Chỉ tiêu nay cho thấy tỷ lệ vốn là máy móc thiết bị chiếm bao nhiêu. Đối
với các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp khai khoáng, chế tạo, lắp ráp, tỷ lệ
này này phải lớn.
+ Tỷ trọng vốn đầu tư theo chiều sâu/ tổng vốn đầu tư thức hiện. Đầu
tư chiều sâu thường gắn liền với đổi mới công nghệ. Do đó, chỉ tiêu này càng
lớn phản ánh mức độ đổi mới khoa học và công nghệ cao.
+ Tỷ trọng vốn đầu tư cho các công trình mũi nhon, trọng điểm. Các
công trình trọng điểm, mũi nhọn thường là các công trình đầu tư lớn, công
nghệ hiện đại, mang tính chất đầu tư mới, tạo tiền đề để đầu tư phát triển các
công trình khác. Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy mức độ tập trung của công
nghệ và gián tiếp phản ánh mức độ hiện đại của công nghệ.
trình tăng trưởng kinh tế. Mỗi học thuyết đều đóng góp to lớn của các tác giả
vào kho tàng nghiên cứu của nhân loại. Tuy nhiên, không phải mô hình nào
cũng hoàn hảo mà đều ẩn chứa trong nó những hạn chế và tồn tại. Để có được
Ngô Thị Hường – Toán Kinh tế 47
Khóa luận tốt nghiệp
18
cái nhìn tổng quát quá trình hoàn thiện của các lý thuyết về mối quan hệ giữa
đầu tư và tăng trưởng kinh tế, chúng ta xem xét một số mô hình kinh tế sau:
1.4.1 Lý thuyết về tái sản xuất mở rộng của Các Mác- lý thuyết thể hiện
bản chất và vai trò của đầu tư đối tăng trưởng kinh tế
Lý luận về tái sản xuất mở rộng của Các Mác đã khẳng định về cơ bản
và lâu dài, phát triển sản xuất, thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng
là điều kiện của quá trình tái sản xuất mở rộng, tức là quá trình tăng trưởng
kinh tế.
Học thuyết kinh tế chính trị của C. Mác đã phản ánh bản chất các yếu
tố tăng trưởng kinh tế như quá trình tuần hoàn, chu chuyển của tư bản, cơ cấu
kỹ thuật của tư bản, tái sản xuất xã hội. Trong học thuyết của mình, C.Mác đã
đề cập đến quá trình hình thành cơ sở vật chất cho nền kinh tế phát triển qua
các giai đoạn cụ thể. Hiệp tác và công trường thủ công là quá trình chuyển
sang chuyên môn hoá lao động, góp phần làm tăng sức sản xuất; quá trình
công nghiệp hoá, thay đổi cơ cấu sản xuất là tác nhân tăng năng suất lao động
và làm tăng hiệu quả của nền sản xuất xã hội, mở rộng sản lượng tiềm năng
của nền kinh tế. Do đó, tăng tích luỹ, đầu tư vốn, thay đổi cơ cấu kỹ thuật của
sản xuất chính là cơ sở của tăng trưởng.
1.4.2 Mô hình Harrod- domar
Yt
Vì tiết kiệm là nguồn gốc của đầu tư nên I t = S t (I t là vốn đầu của năm
t) và:
s=
It
Yt
Đầu tư để tạo ra vốn tài sản, nên I t =
∆ K t ( ∆ K t là mức tăng vốn tài sản)
Nếu gọi k là tỷ số giữa gia tăng vốn tài sản và đầu ra thì:
∆Kt
k=
∆Yt
Và
∆Y I t .∆Y
=
=
Yt
I t .Yt
Suy ra k=
It It
qua việc xem xét vấn đề cách thức hay hiệu quả sử dụng vốn đầu tư đối với
tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, mô hình này chưa giải thích được vì sao các
quốc gia có tỷ lệ tiết kiệm trong thu nhập như nhau nhưng lại có tốc độ tăng
trưởng khác nhau.
1.4.3 Số nhân đầu tư
Số nhân đầu tư phản ánh vai trò của đầu tư với sản lượng. Nó cho thấy
sản lượng gia tăng bao nhiêu khi đầu tư gia tăng một đơn vị.
Công thức tính:
k=
∆Y
∆I
Trong đó: ∆Y là mức gia tăng sản lượng
∆I là mức gia tăng đầu tư
k số nhân đầu tư
Từ công thức trên ta có:
∆Y = k * ∆I
Như vậy việc gia tăng đầu tư có tác dụng khuyếch đại sản lượng tăng lên
số nhân lần. Trong công thức trên, k là một số dương lớn hơn 1. Vì khi I= S
có thể biến đổi công thức trên thành:
∆Y
1
1
1
=
=
Trong đó:
K
Y
K: Vốn đầu tư tại thời kỳ nghiên cứu
Y: Sản lượng tại thời kỳ nghiên cứu
x: Hệ số gia tốc đầu tư
Suy ra: K= x* Y
Như vậy, nếu x không đổi thì qui mô sản lượng sản xuất tăng dẫn đến
nhu cầu vốn đầu tư tăng theo và ngược lại. Sản lượng phải tăng liên tục mới
làm cho đầu tư tăng cùng tốc độ, hay không đổi so với thời kì trước.
Tại thời điểm t:
K t = x* Y t
Tại thời điểm t-1:
Kt −1 = x * Yt −1
Biến đổi ta có:
Kt − Kt −1 = x * Yt − x * Yt −1 = x * (Yt − Yt −1)
Trong đó:
Kt − Kt −1: đầu tư ròng và bằng (I t -D) với D là khấu hao.
Ngô Thị Hường – Toán Kinh tế 47