Một số giải pháp xây dựng nhà nước pháp quyền ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay - Pdf 35

LUẬN VĂN:
Một số giải pháp xây dựng nhà nước pháp
quyền ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
hiện nay

mở đầu


1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước pháp quyền - nhà nước xác định pháp luật ở vị trí tối thượng, tổ
chức và hoạt động theo pháp luật, sử dụng pháp luật trong quản lý xã hội - như kinh
nghiệm lịch sử cho thấy là hình thức tổ chức nhà nước có thể đáp ứng được các yêu cầu
phát triển của xã hội. Trong thời đại ngày nay, xây dựng nhà nước pháp quyền đã trở
thành một trong những vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của các
quốc gia, nhất là đối với các nước đang phát triển. Xây dựng nhà nước pháp quyền, một
mặt, là xây dựng một nhà nước có khả năng thực hiện quyền làm chủ của nhân dân,
khơi dậy mọi nguồn lực sáng tạo của nhân dân cho phát triển đất nước, mặt khác,
còn là cơ sở đảm bảo sự ổn định, sự bền vững của bản thân nhà nước.
Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (NDCM) xác định phải từng bước đổi mới
và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào theo hướng
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của dân, do dân và vì dân.
Bởi vì, đối với nước CHDCND Lào - một nước còn nghèo nàn, lạc hậu, trình độ phát
triển kinh tế, văn hóa và xã hội còn thấp như hiện nay - thì việc xây một nhà nước
pháp quyền càng có ý nghĩa quyết định. Việc đặt vấn đề xây dựng nhà nước pháp
quyền theo định hướng XHCN ở Lào hiện nay, một mặt, là đòi hỏi khách quan của
việc chuyển sang nền kinh tế thị trường, của quá trình dân chủ hoá xã hội và quá
trình hội nhập quốc tế, mặt khác, còn là yêu cầu của việc xây dựng và củng cố chế
độ dân chủ nhân dân theo định hướng XHCN.
Xây dựng nhà nước pháp quyền dù ở quốc gia nào cũng là một quá trình lịch
sử, là kết quả của sự phát triển của sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội. Trong những
điều kiện lịch sử nhất đinh, việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở mỗi nước lại lại đòi hỏi

đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập cụ thể đến các giải pháp cho việc
xây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào. Tuy nhiên, những công trình đã có có thể xem là
những cơ sở, những tiền đề có thể kế thừa, khai thác phục vụ đề tài của luận văn này.
Có thể xem đề tài về các giải pháp xây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào (đề tài luận
văn này) là sự tiếp nối các đề tài, các công trình nghiên cứu đã có về tính tất yếu, những
đặc điểm, những yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào. Có thể thấy một
số công trình sau đây:


1. Khăm Cải Viêng Xa Văn (1995), Sự kiện lịch sử của việc thành lập Cộng
hòa dân chủ nhân dân Lào, Tạp chí A Lun May (CHDCND Lào).
2. Phông Xa Vặt Búp Pha (1996), Sự phát triển của Nhà nước Cộng hòa dân
chủ nhân dân Lào, Tạp chí A Lun May (CHDCND Lào).
3. Chả Lơn Dia Pao Hơ (1995), Sự vững mạnh của quyền lực nhà nước là yếu
tố đảm bảo cho nền độc lập chủ quyền quốc gia, Tạp chí Xây dựng Đảng Nhân dân
cách mạng Lào.
4. En Sô La Thi (2000), Xây dựng nhà nước đảm bảo quyền lực của nhân dân
lao động ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ
Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu với những quy mô và cấp độ
khác nhau về nhà nước pháp quyền và xây dựng nhà nước pháp quyền được thực hiện
từ những năm 1991 -1995 và từ 1995 đến nay. Có thể thấy nhiều đề tài lớn đã được thực
hiện trong những năm 1991 -1995 như một số đề tài cấp Nhà nước thuộc Chương trình
KX. 05, một số đề tài cấp Nhà nước thuộc các Chương trình KX. 08 và KX. 10 cho đến nay.
Những kết quả nghiên cứu trên là những cơ sở hết sức quý giúp cho việc thực hiện đề tài của
luận văn này.
Đăc biệt, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đã được nhiều tác giả nghiên
cứu dưới góc độ của khoa học chính trị, trong đó có Chính trị học. Có thể nêu một số
công trình sau đây:
1. Nguyễn Thị Tâm (2002), Đổi mới phương thức lãnh đạo đối với nhà nước

Luận văn giới hạn nghiên cứu ở một số giải pháp chủ yếu về kinh tế, chính trị và xã
hội để xây dựng nhà nước pháp quyền ở CHDCND Lào hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, của Đảng NDCM Lào và của Đảng Cộng sản Việt Nam làm cơ sở lý luận cho
việc nghiên cứu.
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp của chính trị học và xã hội học mácxít, gắn phân
tích lý luận với tổng kết thực tiễn.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn


Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của một số giải pháp xây dựng nhà nước
pháp quyền ở CHDCND Lào trên cơ sở tư duy mới về việc phát triển kinh tế thị trường,
xây dựng xã hội công dân, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và sự lãnh
đạo của Đảng đối với Nhà nước ở Lào hiện nay.
6. ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện bộ
máy Nhà nước CHDCND Lào theo hướng nhà nước pháp quyền.
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
nghiên cứu, học tập và giảng dạy trong các cơ sở đào tạo về một số nội dung liên quan đối
với những giải pháp xây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 6 tiết.


Chương 1
Phát triển kinh tế - xã hội tạo điều kiện
cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào hiện nay

phương thức canh tác tiểu nông sản xuất nông nghiệp chủ yếu là dựa vào sức kéo của
trâu bò, sức người với các công cụ lao động thô sơ như: cày, cuốc, dao, liềm. Công
cụ cơ khí nhỏ chưa được sử dụng phổ biến, việc dùng phân bón, thuốc trừ sâu và kỹ
thuật canh tác như thâm canh, tăng vụ còn rất hạn chế, cho nên hiệu quả, năng suất
chất lượng lao động sản xuất còn rất thấp kém. Nông sản làm ra chỉ đủ để ăn và tiêu
dùng trong cuộc sống hàng ngày.
Trong nông nghiệp và nông thôn cũng chưa có phân công chuyên môn hóa rõ
rệt, sản xuất của các hộ nông dân là vừa trồng trọt, vừa chăn nuôi, cho nên hiệu quả
năng suất còn thấp.
Năng suất lúa nước bình quân đạt: năm 1976 là 1,43 tấn/ha, 1980 là
1,65 tấn/ha, 1985 là 2,11 tấn/ha. Trồng trọt độc canh, trồng lúa nếp là
chủ yếu, kỹ thuật canh tác lạc hậu và chỉ làm một vụ, chăn nuôi cũng
chỉ là hoạt động mang tính chất kinh tế gia đình chưa thành sản xuất
hàng hóa [45, tr.36].
Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung khai thác gỗ, lâm sản để tiêu dùng
trong cuộc sống và một phần để xuất khẩu. Một số lâm sản có giá trị rất cao và rất
quý, nhưng phương thức khai thác còn thô sơ, tùy tiện và coi thường các biện pháp
tu bổ tái tạo rừng. Sản xuất tự nhiên dựa vào rừng núi, sông hồ chủ yếu chỉ cung cấp
cho tiêu dùng hàng ngày của nhân dân địa phương, chưa tận dụng một cách hợp lý và
có hiệu quả những tiềm năng sắn có ấy, chưa được bảo vệ và khai thác đúng mức.
Trước ngày giải phóng kinh tế - xã hội của Lào là từng trải qua một thời kỳ
có hai vùng kinh tế - xã hội khác nhau:
Vùng kinh tế - xã hội mang tính chất dân chủ nhân dân (vùng giải phóng cũ)
là nơi căn cứ cách mạng. Đây là vùng có quan hệ mật thiết và được sự giúp đỡ của
các nước thuộc phe XHCN trước đây, đặc biệt là Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Vùng kinh tế - xã hội mang tính chất phụ thuộc vào sự viện trợ của chủ nghĩa
thực dân đế quốc, nhất là Mỹ với mục đích chiến tranh xâm lược. Đây là vùng kiểm
soát tạm thời của chính quyền ngụy Viêng Chăn.




6,00

8,60

9,9

10,50

Dịch vụ

11,00

17,90

17,00

16,20
Tính theo %

Một cơ cấu kinh tế như vậy ảnh hưởng đến sự phát triển đi lên của đất nước.
Như vậy, nhiệm vụ trọng tâm chiến lược của đất nước vẫn là làm thế nào để đưa Lào
thoát khỏi nền kinh tế nhỏ bé, phân tán lạc hậu. Phải làm sao xây dựng được cả lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất mới. Trong đó căn bản, trọng tâm nhất là phải xây
dựng cho được lực lượng sản xuất mới.
Song việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược đó vào cuối những năm
1980 trở đi không còn nằm trong bối cảnh phát triển thuận chiều với những quan hệ
kinh tế được triển khai một cách truyền thống theo hướng có sự giúp đỡ một chiều
của các nước XHCN phát triển đi trước. Dù còn sơ khai nhỏ bé nhưng nền kinh tế
đất nước vẫn phải tự tìm đường tồn tại và phát triển trên cơ sở bình đẳng, hai bên

gia. Đồng thời đã cho một ngân hàng nước ngoài mở chi nhánh tại CHDCND Lào,
nhằm mở rộng thị trường vốn, tăng đầu tư cho nền kinh tế.
Việc thực hiện chính sách trên đã góp phần làm cho kinh tế thị trường ổn
định và mở rộng. Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống ngân hàng vẫn còn nhiều yếu
kém, chưa thực sự trở thành công cụ điều tiết chủ đạo cho nền kinh tế thị trường theo
định hướng XHCN. Điều này thể hiện rõ trong việc đồng Kíp hiện đang ngày càng
có nguy cơ tụt xuống làm cho thị trường giá cả biến động liên tiếp.
Ba là, hệ thống tài chính nhà nước được chuyển từ hệ thống tài chính dưới
hình thức làm nghĩa vụ cho nhà nước của các đơn vị kinh doanh, các hộ gia đình
thành hệ thống nộp thuế theo pháp luật. Sự thay đổi trên đã góp phần làm cho chính


sách tài chính cấp vĩ mô của Nhà nước có hiệu lực và có khả năng huy động nguồn
tài chính ngày càng tăng cho ngân sách nhà nước, góp phần thúc đẩy việc đầu tư vào
sản xuất. Tuy nhiên, hệ thống tài chính các cấp chưa hẳn là công cụ điều tiết có hiệu
quả, nhất là trong nền kinh tế thị trường của một quốc gia kém phát triển. Việc quản
lý, sử dụng, kiểm soát ngân sách vốn đầu tư cả trong và ngoài nước chưa chặt chẽ.
Hiện tượng bội chi ngân sách vẫn thường xảy ra. Do những yếu kém đó nên chưa
phát huy tối đa tiềm lực tài chính của đất nước, cũng như việc thu hút các nguồn tài
chính từ bên ngoài.
Bốn là, đã cải cách hệ thống quản lý hành chính về kinh tế từ quản lý kinh tế
theo sự phân cấp như tỉnh, huyện và Trung ương sang quản lý theo ngành trong hệ
thống chiều dọc. Giảm biên chế bộ máy hành chính từ 106.000 người năm 1986
xuống còn 76.000 người năm 1994.
+ Chuyển từ thừa nhận hai thành phần kinh tế sang thừa nhận nhiều
thành phần kinh tế
Trước đổi mới nền kinh tế của CHDCND Lào có hai thành phần kinh tế chủ
yếu là quốc doanh và tập thể. Bước vào thời kỳ đổi mới đã có sự điều chỉnh lớn
trong quan hệ sản xuất với việc thừa nhận nhiều thành phần kinh tế. Đây là một
trong những chính sách cơ bản, trụ cột về phát triển kinh tế. Sự chuyển đổi này từng

nay CHDCND Lào đã có quan hệ buôn bán với hơn 30 nước trên thế giới
với tổng giá trị buôn bán năm 1994-1995 đạt đến 759,7 triệu USD so với
năm 1993-1994 tăng 461%, trong đó xuất khẩu đạt 274 triệu USD so với
năm 1985 tăng 24,7 lần, nhập khẩu đạt tới 485 triệu USD, so với năm
1985 tăng 24,4 lần [36, tr.59].
+ Chuyển sang mở rộng và đa phương hóa các quan hệ kinh tế với nước
ngoài
Trước khi có những biến động lớn ở Liên Xô và Đông Âu những năm 19901991, Lào có quan hệ kinh tế chủ yếu với các nước XHCN. Trong đó, chủ yếu Lào tiếp
nhận viện trợ từ các nước XHCN. Hiện nay, một mặt Lào tiếp tục củng cố, mở rộng
quan hệ với các nước XHCN anh em truyền thống - trong đó có Việt Nam và quan hệ
trên tinh thần mới, cơ chế mới. Mặt khác, tiếp tục mở rộng quan hệ với các nước trong


cộng đồng thế giới. Trong điều kiện hiện nay Đảng và Nhà nước Lào đã và đang coi
việc mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài theo hướng đa phương hóa như một chiến
lược hàng đầu để thu hút vốn đầu tư và công nghệ hiện đại nhằm xây dựng củng cố đất
nước. Chính sách này đã là một trong những yếu tố giúp CHDCND Lào vượt qua tình
trạng khó khăn về nhiều mặt đặc biệt là về mặt tài chính. Do chính sách mở cửa, tranh
thủ sự giúp đỡ hợp tác của các nước, các tổ chức quốc tế, bình quân mỗi năm Lào nhận
được khoảng 300 triệu USD dưới hình thức viện trợ không hoàn lại và vay lãi xuất thấp.
Đây là nguồn vốn quan trọng hỗ trợ ngân sách quốc gia cũng như việc xây dựng phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước.
Từ năm 1988 trở lại đây nhờ có Luật đầu tư nước ngoài nên tổng giá trị đầu tư
nước ngoài vào Lào đã tăng lên. Theo thống kê 1995, Chính phủ Lào đã phê duyệt
khoảng 500 dự án với tổng giá trị 5,5 tỷ USD.
Phần lớn các dự án đầu tư vào ngành điện lực, khai mỏ và dịch vụ. Năm
1996 đã thu hút được 63 dự án đầu tư của nước ngoài với tổng giá trị
972.185.770 USD, năm 1997 có 62 dự án các loại với tổng số vốn là
113.611.310 USD, năm 1998 thu hút được sự đầu tư của nước ngoài 69 dự
án với tổng giá trị là 97.788.160 USD [47, tr.84].

Về du lịch đã có phát triển khá nhanh, nhưng phần lớn là dịch vụ trong thành
phố lớn mà chủ yếu lại phục vụ trong sinh hoạt xa xỉ, lãng phí như nhà hàng ăn uống,
khách sạn. ở đây các đồ ăn, thức uống và các thiết bị phục vụ toàn là hàng nhập từ bên
ngoài vào. Dịch vụ vẫn trải qua biên giới chưa được củng cố thỏa đáng, hệ thống
thương mại, tài chính, ngân hàng chưa thực sự là công cụ điều tiết khuyến khích sản
xuất tiêu dùng trong nước, tâm lý thích dùng hàng ngoại, xài tiền ngoại còn phổ biến
làm ảnh hưởng đến uy tín giá trị đồng Kíp - nội tệ.
Việc thu hút đầu tư nước ngoài dù đạt kết quả tốt trên nhiều lĩnh vực nhưng
khâu chuẩn bị điều kiện đón nhận các dự án đầu tư nước ngoài cũng còn hạn chế nhất là
thiếu đội ngũ cán bộ có kiến thức kinh nghiệm trên lĩnh vực này, thiếu sự chuẩn bị cho việc
thống kê, khảo sát cơ bản trước khi đón nhận các dự án. Việc quản lý đầu tư các dự án nước
ngoài còn chưa thực hiện tốt.
Hệ thống giao thông thông tin liên lạc, giáo dục y tế cơ sở hạ tầng chưa phát
triển đầy đủ, thông suốt cũng là trở ngại lớn kìm hãm việc phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước.


1.1.2. Một số vấn đề về tiếp tục phát triển kinh tế đáp ứng yêu cầu và tạo điều
kiện cho quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào hiện nay
1.1.2.1. Tiếp tục nhận thức sâu sắc và thực hiện nhất quán chính sách phát
triển kinh tế thị trường trong điều kiện cụ thể ở Lào
Việc giải phóng sức sản xuất, động viên mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho
phát triển kinh tế, khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và các hình thức sản xuất
kinh doanh là một chủ trương, một đường lối có tầm quan trọng chiến lược, một chính sách
nhất quán và lâu dài của Đảng và Nhà nước Lào. Do vậy, các cấp bộ Đảng, chính quyền
và các đoàn thể nhân dân, các tầng lớp nhân dân các bộ tộc Lào cần nhận thức đầy đủ
hơn về nền kinh tế thị trường và việc chuyển sang nền kinh tế thị trường như một chủ
trương, chính sách đúng đắn, phù hợp với kinh doanh kinh tế - xã hội của Lào.
Phát triển kinh tế thị trường ở Lào bắt đầu từ việc chính thức thừa nhận, bảo vệ
và khuyến khích về chính trị, pháp lý đến việc thừa nhận tạo mọi điều kiện xã hội cho

cạnh tranh ngày càng gay gắt thật sự là một cuộc cách mạng. Đó là cuộc cách mạng
không chỉ trong xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mà còn
là cuộc cách mạng trong lĩnh vực tư tưởng và văn hóa. Do vậy, tuyên truyền, giáo dục
nhân dân mạnh dạn chuyển đổi cách làm ăn, đầu tư vốn cho sản xuất, kinh doanh, đóng
góp sức người, sức của xây dựng đất nước. Tuyên truyền giáo dục trong cán bộ, đảng
viên cách làm ăn mới trong điều kiện của thị trường, qua đó mà rèn luyện cán bộ
trưởng thành.
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường tất yếu đặt ra yêu cầu và tạo ra những điều
kiện cần thiết, hiện thực cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở CHDCND Lào. Quá trình
đổi mới kinh tế luôn đặt ra yêu cầu đổi mới chính trị và tạo điều kiện cho đổi mới chính trị, trong
đó có Nhà nước, là một tất yếu khách quan.
1.1.2.2. Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả chính sách phát triển
các thành phần kinh tế, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng tỷ lệ công
nghiệp và dịch vụ
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào xây dựng đất nước từng bước đi lên CNXH
trong điều kiện xuất phát triển còn thấp, sản xuất nhỏ là phổ biến, cơ sở vật chất nghèo
nàn, lạc hậu lại bị một phần được chiến tranh tàn phá nặng nề. Do đó, sự tồn tại các
thành phần kinh tế là một tất yếu khách quan để khai thác các nguồn lực cho sự phát
triển. Phát triển các thành phần kinh tế, là chính sách phù hợp với điều kiện cụ thể của


nước Lào. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ làm thế nào để phát huy tốt các thành phần kinh tế
để phát triển kinh tế được mục tiêu chung mà Đảng, Nhà nước Lào đã xác định là phục
vụ nhiều nhất cho lợi ích của đất nước, của nhân dân các bộ tộc Lào. Vấn đề đặt ra
chúng ta phải làm như thế nào để đưa các thành phần kinh tế phát triển theo quỹ đạo
chung gắn liền giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng tiến bộ xã hội. Cho nên phải lựa
chọn hình thức và bước đi thích hợp để khai thác tốt các tiềm năng, thế mạnh của các
thành phần kinh tế, về vốn, năng lực, tổ chức quản lý, khoa học kỹ thuật của các thành
phần này, nhất là kinh tế tư bản tư nhân của các nhà tư bản nước ngoài.
Để là được điều đó, Nhà nước phải từng bước làm tốt vai trò điều tiết vĩ mô đối

triển đi lên và nâng cao cuộc sống vật chất lẫn tinh thần của nhân dân các
bộ tộc Lào” [34, tr.5].
Việc chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế
thị trường đòi hỏi Nhà nước phải từng bước thiết lập một hệ thống các thể chế, các cơ
chế quản lý mới, phù hợp với sự vận động và phát triển của kinh tế hàng hóa.
Nhà nước phải tự đổi mới toàn diện, từ chính sách, pháp luật, tổ chức, bộ máy
quy chế làm việc đến đội ngũ công chức nhà nước.
Mọi hoạt động của nhà nước phải hướng vào việc tạo môi trường thuận lợi, khuyến
khích cho sự phát triển kinh tế - xã hội theo cơ chế kinh tế mới giúp các thành phần kinh tế
phát huy năng lực hoạt động có hiệu quả phù hợp với những quy luật khách quan, đảm bảo
cho sự phát triển có hiệu quả của thị trường phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Nhìn tổng thể, có thể thấy thực trạng của nền kinh tế đất nước đã đặt ra những
yêu cầu bức thiết phải đổi mới và hoàn thiện Nhà nước CHDCND Lào theo hướng xây
dựng nhà nước pháp quyền thì mới có khả năng và điều kiện quản lý, điều tiết kinh tế
theo cơ chế mới - cơ chế thị trường. Hiến pháp 1991 - Hiến pháp đầu tiên của nước
CHDCND Lào - ra đời đã phản ánh xu thế vận động phát triển khách quan, tất yếu của
xã hội Lào khi bước vào công cuộc đổi mới, đáp ứng những yêu cầu công cuộc đổi mới
kinh tế, chính trị và xã hội ở Lào và là điều kiện để Lào hội nhập với thế giới. Trên cơ sở
Hiến pháp Quốc hội Lào đã xây dựng và công bố hơn 40 đạo luật các loại để quản lý đất
nước, quản lý xã hội trong đó 10 đạo luật về lĩnh vực kinh tế. Trên cơ sở Hiến pháp 1991


Nhà nước Lào đã từng bước chuyển dần sang quản lý xã hội, quản lý kinh tế bằng Hiến
pháp và pháp luật.
Trong đó, Nhà nước tập trung vào xây dựng các thể chế pháp lý đảm bảo và
phát huy các hình thức sở hữu như sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu cá thể, sở
hữu tư nhân của tư bản trong nước và sở hữu của tư bản người nước ngoài đầu tư tại
CHDCND Lào. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng hàng đầu cho quá trình đa dạng hóa các
hình thức sản xuất kinh doanh, thu hút các nguồn vốn từ trong và ngoài nước vào phát triển

kiện thị trường. Nhà nước chủ động và tích cực tham gia vào việc xây dựng - phát triển
- hoàn thiện các yếu tố, các lĩnh vực của kinh tế thị trường, củng cố hoàn thiện các thị
trường đã có, chủ động hình thành các thị trường mới.
Thứ ba, xây dựng một nhà nước trong sạch vững mạnh, tập trung khơi dậy được
mọi nguồn lực vật chất cả tinh thần của toàn dân vào sự nghiệp xây dựng đất nước, xây
dựng kinh tế. Quyền lực nhà nước được tập trung và giám sát chặt chẽ quyền lực; tổ
chức và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; có nền hành
chính tinh giản hiệu lực, hiệu quả, thống nhất; có đội ngũ công chức, có đạo đức chuyên
nghiệp.
1.2. Tuyên truyền, giáo dục ý thức dân chủ, ý thức pháp luật và nâng cao
dân trí trong nhân dân
1.2.1. Tuyên truyền, giáo dục ý thức dân chủ
Dân chủ trong hiện thực được thể hiện bằng các quy định của pháp luật với các
cơ quan thực thi pháp luật tương ứng. Dân chủ cần đến pháp luật như là những công cụ
phương thức thực hiện. Không phải nhà nước nào cũng là dân chủ, nhưng bất cứ nền
dân chủ nào cũng phải qua nhà nước, thông qua pháp luật. Nhà nước pháp quyền là nhà
nước xác lập những cơ chế, thiết chế thực hiện các quyền dân chủ của nhân dân bằng
những công cụ pháp lý, hợp hiến, hợp pháp.
Dân chủ phải gắn liền với nhà nước, với pháp luật, kỷ cương - dân chủ xã
hội chủ nghĩa, không thể tách rời việc xây dựng nhà nước pháp quyền của
dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Dân chủ còn gắn
với dân trí, với trình độ học vấn [10, tr.28].


Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, không có nhà nước pháp quyền không có pháp
luật thì không thể có dân chủ. Nói đến dân chủ là nói đến pháp luật, pháp luật là sự phản
ánh yêu cầu dân chủ, vừa là công cụ để thực hiện dân chủ. Quá trình dân chủ hóa xã hội
là quá trình xây dựng hoàn thiện không ngừng pháp luật, càng dân chủ hóa càng cần
pháp luật.
Dân chủ trước hết là dân chủ về chính trị, có nội dung cốt lõi là quyền lực

Chính ý thức pháp luật cao cho phép đánh giá đúng tầm quan trọng của các quan hệ xã
hội cần phải điều chỉnh. Vì vậy, bất kỳ một tổ chức, cá nhân tham gia trong quá trình
xây dựng pháp luật cũng cần một trình độ ý thức pháp luật nhất định.
ý thức pháp luật là một nhân tố thúc đẩy việc thực hiện pháp luật, việc thực hiện
pháp luật bao giờ cũng phụ thuộc vào trình độ nhận thức pháp luật và trạng thái tâm lý
pháp luật của con người. ý thức pháp luật của các chủ thể để càng cao thì sự tuân thủ
pháp luật, sử dụng pháp luật, chấp hành pháp luật của họ càng đúng đắn.
ý thức pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động áp dụng pháp
luật. áp dụng pháp luật là quá trình vận dụng các quy phạm pháp luật để xem xét phán
xét các trường hợp cụ thể trong thi hành pháp luật. Muốn áp dụng pháp luật giải quyết
tốt các việc cụ thể, đòi hỏi người có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải phân tích chính
xác các tình tiết của vụ việc trên cơ sở đó lựa chọn quy phạm pháp luật thích ứng để áp
dụng. Muốn thế, người áp dụng phải có kiến thức rộng, trong đó ý thức pháp luật là yếu
tố quan trọng để áp dụng đúng đắn pháp luật. Chính vì vậy để sự nghiệp đổi mới và
hoàn thiện nhà nước ở CHDCND Lào đạt được kết quả thì không thể không tính đến
việc tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức pháp luật cho mọi người trong xã hội.
ý thức pháp luật gắn liền với từng con người cụ thể. Mỗi người lại có hoàn cảnh
kinh tế - xã hội, gia đình, giáo dục, ý thức đạo đức, ý thức chính trị, tâm lý, sức khỏe
v.v.. không giống nhau. Do đó, sự hiểu biết pháp luật và thái độ đối với pháp luật suy
cho cùng là do bản thân mỗi người - mỗi công dân quyết định. Trong điều kiện kinh tế
và xã hội hiện nay mọi công dân đều cần pháp luật, hiểu biết pháp luật và chấp hành
pháp luật.
Để nâng cao ý thức pháp luật trong điều kiện ở Lào hiện nay, cần tập trung vào
những nội dung sau đây:


Một là, nâng cao trình độ văn hóa nói chung làm cơ sở để nâng cao văn hóa dân
chủ, văn hóa pháp luật.
Hai là, từng bước đưa việc tuyên truyền, giáo dục dân chủ, giáo dục pháp luật
vào chương trình giáo dục phổ thông và các cấp sau phổ thông, các trường đào tạo cán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status