Giám sát của quốc hội đối với hoạt động xét xử của tòa án nhân dân - Pdf 35

LUẬN VĂN:

Giám sát của Quốc hội đối với hoạt
động xét xử của Tòa án nhân dân


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bộ máy nhà nước nói riêng và trong hệ thống chính trị nói chung ở Việt
Nam hiện nay, Tòa án nhân dân (TAND) có một vị trí đặc biệt quan trọng. Với những
đặc trưng của hoạt động xét xử, hệ thống tòa án có khả năng đem đến cho các bên tranh
tụng sự công bằng, góp phần thiết lập trật tự xã hội. Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống
tòa án cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ nếu những nguyên tắc sống còn của hoạt động tố
tụng không được bảo đảm. Khi đó, không những quyền lợi chính đáng của các đương sự
không được bảo đảm, mà uy tín của Nhà nước cũng bị giảm sút.
Trước tình hình trên, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba (khóa
VIII), Đảng đã đặt vấn đề tiếp tục đổi mới hoạt động giám sát của Quốc hội, trong đó có
giám sát hoạt động xét xử của TAND. Tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XI năm 2003,
Quốc hội đã thông qua Luật hoạt động giám sát. Đây là đạo luật rất quan trọng, thể chế
hóa đường lối của Đảng và cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, các luật về tổ chức
bộ máy nhà nước, về trình tự, thủ tục thẩm quyền giám sát của Quốc hội nói chung và
hoạt động xét xử của hệ thống tòa án nói riêng. Trên cơ sở đường lối chủ trương của
Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, những năm qua công tác giám sát của
Quốc hội đối với công tác xét xử của Tòa án đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.
Thông qua hoạt động giám sát giúp cho hoạt động xét xử của Tòa án, đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật hơn, tránh được những oan, sai trong xét xử... Tuy nhiên, bên cạnh
những kết quả đạt được, hoạt động giám sát của Quốc hội đối với công tác xét xử của
TAND cũng còn nhiều bất cập như: hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ này còn
thiếu tính cụ thể. Công tác giám sát còn mang tính thời điểm, không thường xuyên.
Kiến thức pháp luật nói chung và kiến thức pháp luật tố tụng nói riêng của các đại biểu

văn có những đóng góp khoa học mới cụ thể như sau:
Đưa ra khái niệm, đặc điểm, giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử
của TAND.


Phân tích chỉ ra được thực trạng, nguyên nhân của hoạt động giám sát của Quốc
hội đối với TAND từ năm 2003 đến nay, trên cơ sở đó đưa ra hệ giải pháp tăng cường
giám sát của Quốc hội đối với TAND trong thời gian tới.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
* ý nghĩa lý luận:
Với kết quả đạt được, luận văn làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về
giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND qua đó nâng cao hơn nữa
nhận thức của nhân dân nói chung, của cán bộ công chức nhà nước nói riêng về vị trí
pháp lý, vai trò tầm quan trọng của Quốc hội - là một thiết quyền lực nhà nước.
* ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy
vấn đề liên quan đến hoạt động giám sát của Quốc hội đối với TAND.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 6 tiết.


Chương 1
Cơ sở lý luận về giám sát của Quốc hội
đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân

1.1. Khái niệm, đặc trưng, nguyên tắc, vai trò hoạt động xét xử của Tòa án
nhân dân
1.1.1. Khái niệm
Hoạt động xét xử của TAND là biểu hiện tập trung cao nhất của cả quá trình

Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân và từ tính quyền lực của Nhà nước là quyền lực của nhân dân.
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) đã khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa (XHCN) Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Vì vậy, các hoạt động quyền lực của Nhà nước
đều phải có sự tham gia của nhân dân. Trong hoạt động tư pháp mà chủ yếu là hoạt
động xét xử của Tòa án phải đảm bảo cho nhân dân trực tiếp tham gia. Nguyên tắc này
được thể hiện ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa năm 1946. Điều 65: "Trong khi xét xử việc hình thì có phụ thẩm nhân dân để hoặc
tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết định với thẩm phán nếu là việc
đại hình". Điều này tiếp tục được khẳng định tại Điều 99 Hiến pháp năm 1959 và quy
định rõ thẩm quyền của Hội thẩm nhân dân là: "Việc xét xử ở các Tòa án nhân dân có
Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của pháp luật khi xét xử thì hội thẩm nhân
dân ngang quyền với thẩm phán". Đến Hiến pháp năm 1992, nguyên tắc này còn quy định
rõ thêm chế độ Hội thẩm nhân dân như sau: "Việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm
nhân dân của Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp
luật khi xét xử, hội thẩm ngang quyền với thẩm phán"[12].
Như vậy, trong hoạt động xét xử gồm có thẩm phán là người có nghiệp vụ
chuyên môn do nhà nước bổ nhiệm và các Hội thẩm nhân dân và Tòa án quân sự có Hội
thẩm quân nhân tham gia vào hoạt động xét xử. Cơ cấu thành phần như vậy giúp cho


TAND đưa ra những phán quyết đúng đắn, khách quan, công bằng, đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật.
1.1.3.2. Nguyên tắc khi xét xử, thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật
Đây là nguyên tắc quan trọng mang tính nền tảng đối với hoạt động xét xử của
TAND. Nguyên tắc này xuất phát từ đòi hỏi, yêu cầu của xã hội dân chủ đồng thời.
chống lại sự can thiệp của các cá nhân và cơ quan nhà nước khác vào hoạt động tư pháp
nói chung và hoạt động xét xử của Tòa án nói riêng. ở Việt Nam, nguyên tắc này được

hoặc thẩm phán và hội thẩm nhân dân, ít nhất ba thành viên trở lên. Hiện nay, nhiều nhà
khoa học pháp lý cũng cho rằng, để đáp ứng yêu cầu xét xử nhanh, có hiệu quả các vụ
án cũng có thể áp dụng nguyên tắc xét xử một thẩm phán đối với vụ án đơn giản như
một số nước trên thế giới.
1.1.3.4. Nguyên tắc Tòa án xét xử công khai
Nguyên tắc này xuất phát từ phát huy dân chủ đối với nhân dân trong tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và TAND nói riêng. Nguyên tắc này đảm
bảo cho nhân dân tham gia phiên tòa xét xử, giám sát việc xét xử của Tòa án, đồng thời
góp phần nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân thông qua hoạt động xét xử của Tòa
án. Trong một số trường hợp đặc biệt có những vụ án không xét xử công khai theo luật
định. Điều 131 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001), Điều 7 Luật tổ chức TAND quy
định: "Tòa án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định". Nguyên tắc này
đòi hỏi các TAND phải có lịch xét xử các vụ án, công khai lịch xét xử hàng tuần tại trụ
sở Tòa án. Thông báo cho những người liên quan đến vụ án về thời gian địa điểm xét
xử. Riêng các vụ án xét xử kín thì khi tuyên án phải công khai cho mọi người biết.
1.1.3.5. Nguyên tắc xét xử bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng trước pháp
luật
Đây là nguyên tắc phán ánh bản chất của nền dân chủ trong hoạt động tư pháp.
Nguyên tắc này được quy định tại Điều 8 Luật tổ chức TAND năm 2002: "Tòa án xét
xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật". Với nguyên tắc này,
tính công bằng trước pháp luật và niềm tin vào công lý xã hội được thông qua Tòa án.


Nội dung của nguyên tắc này khẳng định: mọi hành vi phạm tội, mọi tranh chấp pháp lý
dù người đó là ai thì đều bị Tòa án xét xử nghiêm minh, công bằng.
Ngoài những nguyên tắc cơ bản trên trong hoạt động xét xử của Tòa án còn
phải tuân theo các nguyên tắc. Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự, bảo đảm cho những người tham gia tố tụng dùng chữ viết tiếng
nói của dân tộc mình, đảm bảo xét xử hai cấp.
1.1.4. Vai trò hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân

kém hiệu lực hiệu quả, chính thông qua hoạt động xét xử đảm bảo quyền lực nhà nước
đi vào đời sống xã hội. và là chất kích thích mạnh mẽ cho sự phát triển tiến bộ của pháp
luật XHCN. Do vậy, công tác đấu tranh, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật và
tội phạm của hoạt động xét xử là cần thiết nhằm duy trì trật tự, kỷ cương của đất nước,
các quyết định của Tòa án không chỉ buộc người vi phạm pháp luật phải hành sử theo
đúng pháp luật, mà tạo nên một môi trường an toàn cho cộng đồng xã hội.
Trong xã hội, các mâu thuẫn, tranh chấp nẩy sinh là một hiện tượng tự nhiên và
việc giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp trong xã hội là việc làm cần thiết nhằm ổn
định xã hội. Thông qua hoạt động xét xử góp phần củng cố sự đoàn kết, gắn bó, thương
yêu, đùm bọc ở từng gia đình trong cộng đồng xã hội.
Hai là, hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân là một công cụ quan trọng trong
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.
Vai trò tích cực của TAND đối với tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật
được thể hiện ở chỗ: Thông qua việc xét xử các vụ án đúng pháp luật đã tác động vào ý
thức các tầng lớp nhân, qua đó nâng cao ý thức pháp luật, góp phần định hướng dư luận
xã hội nâng cao ý thức lên án những hành vi tội ác, đồng thời khuyến khích hành vi tôn
trọng pháp luật và răn đe các tư tưởng coi thường pháp luật. Nếu Tòa án xét xử nghiêm
minh, khách quan đúng người đúng tội, đúng pháp luật sẽ góp phần to lớn vào đấu tranh
phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Ngược lại, nếu xét xử không nghiêm
minh, thiếu khách quan thì dẫn đến tư tưởng xem thường pháp luật. Mặt khác, vai trò
tuyên truyền giáo dục pháp luật của Tòa án còn được thể hiện ngay trong mục đích
những hình phạt mà Tòa áp dụng. Ví dụ: Điều 26 Bộ luật hình sự năm 1999 của nước ta
quy định: "Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội, mà còn giáo dục họ trở


thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc
sống XHCN, ngăn chặn họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn
trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa chống tội phạm. Luật tổ chức TAND cũng khẳng
định: "Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với
Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những nguyên tắc của cuộc sống

UBTVQH [15].
Quan điểm thứ tư cho rằng: Giám sát tối cao là việc Quốc hội xem xét tại kỳ
họp các hoạt động của Chủ tịch nước, TANDTC… trong việc tuân theo Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội [24, tr. 181].
Các quan điểm giám sát của Quốc hội nêu trên ở chừng mực nhất định có
những nhân tố hợp lý của nó, nhưng chưa có quan điểm nào đưa ra được khái niệm đầy
đủ và khoa học. Từ các quan điểm nêu trên có thể hiểu: Giám sát tối cao của Quốc hội
là quyền của Quốc hội thực hiện việc theo dõi, kiểm tra tính hợp hiến tính hợp pháp đối
với các văn bản, hoạt động của các chủ thể do Quốc hội bầu và phê chuẩn. Đồng thời xử
lý những vi phạm Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội do những chủ thể đó gây ra
nhằm đảm bảo cho Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội được thực hiện nghiêm
chỉnh. Với quan niệm giám sát như vậy, có thể hiểu:
Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
là quyền của Quốc hội tiến hành các hoạt động giám sát tối cao tại kỳ họp
Quốc hội đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân
thông qua hoạt động giám sát của ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ
quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội [13, tr. 59].
Để góp phần hiểu rõ về giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của
TAND, cần phân biệt giữa giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND
với những hoạt động khác.
Giám sát khác với kiểm tra: Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học
xuất bản năm 1998, kiểm tra là "xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét". Do
đó, so với giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND thì kiểm tra là
khái niệm có tính bao hàm những thao tác có tính xác định và tính cụ thể rõ hơn kiểm
tra thường được dùng xem lại sự việc, những sai phạm đã xảy ra. Kiểm tra có thể là tự


bản thân tự kiểm tra, cũng có thể là cấp trên cùng hệ thống kiểm tra, cũng có thể là cơ
quan tổ chức có thẩm quyền đến kiểm tra.
Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND khác với thanh tra

sát và phương thức thực hiện kiểm tra giám sát.
Tóm lại, giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm sát là những khái niệm gần nghĩa,
dùng để chỉ những hoạt động có phạm vi gần nhau, thậm chí có những biểu hiện khách
quan khá giống nhau như xem xét, đánh giá, tuy nhiên, giữa chúng có sự khác nhau và
phân biệt với nhau bởi đặc thù trong quan hệ pháp lý, đối tượng chủ thể, phạm vi
phương pháp thực hiện và biện pháp xử lý.
Giám sát mang tính quyền lực nhà nước là hình thức giám sát do cơ quan quyền
lực nhà nước có thẩm quyền tiến hành đối với hoạt động xét xử của tòa án theo những
nguyên tắc phân công quyền lực nhà nước do Hiến pháp và pháp luật quy định. Chủ thể
tiến hành hoạt động giám sát theo hình thức này là Quốc hội. Để có thể xem xét giám
sát của Quốc hội đối hoạt động xét xử của TAND có đạt được hiệu quả không đòi hỏi ta
phải xem xét mục đích của giám sát.
Mục đích của giám sát là phạm vi cho việc đánh giá các kết quả đã đạt được,
còn mức độ gần với mục đích là mức độ của hiệu quả. Bởi vì, về mặt thực hiện mục
đích của giám sát là tiêu chuẩn, thước đo trong việc đánh giá hiệu quả của nó, vì rằng
mục đích bao giờ cũng xem xét việc đạt được kết quả thực tế nhất định; việc thu nhận
thông tin cần thiết về chất lượng hoạt động của TAND, về chất lượng của quyết định
của tòa án, về việc thi hành, chấp hành các quyết định đó. Việc tuân thủ Hiến pháp và
pháp luật v.v...
ở đây, mục đích chung của việc giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử
của TAND là việc đảm bảo cho sự hoạt động đứng đắn, minh bạch, liên tục của từng cơ
quan nhà nước, của từng người có chức vụ quyền hạn nói chung trên cơ sở tuân thủ
thường xuyên, nghiêm chỉnh pháp luật quy định nhiệm vụ chức năng thẩm quyền của
họ.
Kết quả cuối cùng, tức là tổng thể các hậu quả khách quan của giám sát; là tiêu
chuẩn chính của việc xác định hiệu quả của giám sát. giám sát của Quốc hội đối với
hoạt động xét xử của TAND bao giờ cũng nhằm củng cố kỷ luật trong hoạt động xét xử,


kỷ luật công tác, nâng cao trách nhiệm của đội ngũ thẩm phán cũng như đội ngũ cán bộ

Thủ tướng Chính phủ, Chánh án TANDTC. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
do Quốc hội bầu ra và phải chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội. Chế độ
chịu trách nhiệm của cơ quan nhà nước nói chung và của TAND nói riêng trước Quốc
hội là thể hiện tập trung nhất nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong việc tổ chức, thực
hiện quyền lực nhà nước. Theo tinh thần đó, một mặt, quyền lực nhà nước cần phải
được phân công một cách rõ ràng, bảo đảm cho mỗi chủ thể thực hiện quyền lực nhà
nước đều được phân công, được thực hiện đầy đủ, tập trung quyền lực của mình. Mặt
khác, cần phải có những biện pháp, cơ chế kiểm tra giám sát việc thực hiện quyền lực
đó nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền lực nhà nước được đứng đắn và đầy đủ; đồng
thời hạn chế những vi phạm lạm quyền trong việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước
từ phía chủ thể đó.
Là một bộ phận của quyền lực nhà nước hoạt động xét xử của TAND là nơi
biểu hiện tập trung của quyền tư pháp, nơi mà kết quả của các hoạt động điều tra, công
tố, bào chữa, giám định tư pháp được kiểm tra xem xét, đánh giá công khai thông qua
các thủ tục tố tụng để đưa ra những phán xét cuối cùng mang tính quyền lực nhà nước,
nơi thể hiện quyền công lý, sự công bằng và bình đẳng, tính công minh của pháp luật,
đồng thời cũng là nơi thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống cơ quan tư
pháp trong tổ chức bộ máy nhà nước.
Các cơ quan tư pháp nói chung, hoạt động xét xử của TAND nói riêng có nhiệm
vụ bảo vệ và giữ gìn sự tôn nghiêm của pháp luật bằng cách áp dụng các biện pháp do
pháp luật quy định, nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xét xử công minh kịp
thời mọi hành vi vi phạm pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần
giải quyết các tranh chấp xảy ra trong đời sống xã hội, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần bảo vệ pháp chế XHCN, giữ gìn trật tự kỷ
cương, bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ chế độ XHCN.
Quyền giám sát của Quốc hội, chế độ tự chịu trách nhiệm của cơ quan tư pháp
trước quốc hội, các cơ quan của Quốc hội được thực hiện thông qua cơ chế giám sát
được quy định trong Hiến pháp và luật giám sát hoạt động của Quốc hội theo đó:



tiễn các hoạt động cụ thể thể hiện ở các quyết định cụ thể có hợp hiến, hợp pháp, hợp lý
hay không, có hiệu lực hiệu quả hay không, vì thế hoạt động giám sát không thể thiếu
các giám sát hoạt động thực tiễn.
Thứ tư, Quốc hội tiến hành xem xét, đánh giá trình độ, năng lực, trách nhiệm cá
nhân, tổ chức do Quốc hội bầu, hoặc phê chuẩn.
Đây là nội dung giám sát được thể hiện được quy định trong Hiến pháp về bỏ
phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Mà
còn là cơ sở thực hiện một quyền hạn và nhiệm vụ cũng được quy định trong Hiến pháp
đó là bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê
chuẩn.
Từ những vấn đề trên đây có thể thấy rằng, vấn đề cơ bản xét trên phương diện
những quy định của pháp luật, thì những quy định về quyền giám sát của Quốc hội, về
chế độ trách nhiệm của các cơ quan tư pháp đối với Quốc hội, UBTVQH, các cơ quan
khác của Quốc hội khá rõ ràng. Đó là vai trò của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội
trong việc giám sát hoạt động của cơ quan này hoạt động ban hành văn bản hướng dẫn
áp dụng pháp luật, cũng như về chế độ báo cáo công tác trước Quốc hội, UBTVQH;
thẩm quyền của Quốc hội, UBTVQH đối với văn bản trái với Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH đối với chức danh do Quốc
hội bầu hoặc phê chuẩn việc bổ nhiệm.
Xác định nội dung giám sát của Quốc hội đối với các cơ quan tư pháp phải căn
cứ vào Hiến pháp, luật tổ chức Quốc hội, luật tổ chức TAND, Luật tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân và văn bản luật, pháp lệnh khác, nhất là các văn bản về tố tụng. ở mỗi thời
kỳ, pháp luật có những điều chỉnh về chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan tư pháp
nên việc xác định nội dung giám sát của Quốc hội cũng phải căn cứ vào văn bản pháp
luật tương ứng của thời kỳ đó. Ví dụ, trong lĩnh vực xét xử, trước đây TAND chỉ được
pháp luật trao thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, nên nội
dung giám sát của Quốc hội đối với TAND việc thực hiện pháp luật về xét xử các vụ án
hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình. Từ năm 1994, để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế
thị trường, Quốc hội đã quyết định giao cho TAND giải quyết các vụ án kinh tế, tiếp


Sự phân định các nhóm vấn đề giám sát đối với mỗi cơ quan tư pháp trên đây
chỉ có ý nghĩa tương đối theo pháp luật thực định. Thông qua nội dung giám sát cũng có
thể rút ra kết luận về việc thực hiện pháp luật của cơ quan khác nhau do các cơ quan tư
pháp có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau theo thủ tục tố tụng. Trên thực tế, khi thực hiện
nhiệm vụ của mình Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội cần giám sát
nội dung cụ thể gì còn phụ thuộc yêu cầu, mục đích của cuộc giám sát việc xác định nội
dung giám sát mới chỉ là bước đi ban đầu.
1.2.3. Hình thức giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án
nhân dân
Quốc hội là cơ quan làm việc theo chế độ tập thể, phần lớn các chức năng,
quyền hạn của Quốc hội được hoạt động thông qua hoạt động của UBTVQH, Hội đồng
Dân tộc và các ủy ban khác: thông qua hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội: thông
qua các đoàn đại biểu Quốc hội. Trong hoạt động giám sát, Quốc hội có thể sử dụng các
hình thức giám sát như: xem xét báo cáo, xem xét chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ
họp, tổ chức đoàn giám sát … Các hình thức thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối
với hoạt động xét xử của TAND được thể hiện sau đây.
1.2.3.1. Hình thức thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với Tòa án
nhân dân tại kỳ họp
- Quốc hội xem xét báo cáo công tác của TAND:
Đây là một hình thức thể hiện nội dung giám sát việc tổ chức thực hiện Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, trong các hoạt động thực tiễn trong một thời gian
nhất định (sáu tháng, một năm) và cũng là một hình thức giám sát quan trọng nhất mà
Chánh án TANDTC là người phải chịu trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội. Nguồn
thông tin để Quốc hội xem xét báo cáo này gồm có: thông tin tổng hợp được đề cập
trong các báo cáo, thông tin do đại biểu tiếp nhận được qua tiếp xúc với cử tri, thông tin
từ dư luận xã hội, thông tin được đề cập trong báo cáo thẩm tra.
- Xem xét chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp:




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status