Hoàn thiện phương thức thanh toán quốc tế đối với hoạt động xuất khẩu ở Công ty XNK Tổng hợp 1 - Bộ Thương mại - Pdf 61

LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 15 năm thực hiện chính sách mở cửa để hội nhập và phát triển,
nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Có được kết quả này
chúng ta phải kể đến những đóng góp đáng kể của hoạt động xuất khẩu. Trong
những năm qua, hoạt động xuất khẩu hàng hoá đã đem về cho nước ta hàng tỷ
USD, góp phần tăng dự trữ ngoại tệ, trang trải một phần nhu cầu nhập khẩu
máy móc, trang thiết bị tiên tiến phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nước, đưa đất nước ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, hội nhập với nền
kinh tế khu vực và thế giới.
Với sự phát triển không ngừng của hoạt động thương mại quốc tế nói
chung cũng như hoạt động xuất khẩu nói riêng thì yêu cầu thanh toán nhanh,
chính xác càng khẳng định là một khâu quan trọng không thể thiếu trong việc
thực hiện giao dịch buôn bán. Đối với đơn vị xuất khẩu, việc thanh toán chính
là yếu tố quyết định đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Chính vì vậy, việc xem xét, phân tích, đánh giá hoạt động thanh toán quốc tế
là hết sức cần thiết.
Mục tiêu “hướng nền kinh tế vào xuất khẩu “ mà Đảng và Nhà nước chủ
trương lựa chọn đã được các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập
khẩu hưởng ứng và tích cực tham gia trong đó có sự đóng góp không nhỏ của
Công ty Xuất nhập khẩu Tổng hợp I - Bộ Thương Mại. Qua thời gian thực tập
tại Công ty, em thấy hoạt động thanh toán quốc tế đối với hoạt động xuất khẩu
của Công ty là một vấn đề cần quan tâm và tìm hiểu. Được sự giúp đỡ của
PGS.TS Hoàng Đức Thân và các cô chú trong phòng nghiệp vụ 6, em đã lựa
chọn đề tài : “Hoàn thiện phương thức thanh toán quốc tế đối với hoạt động
xuất khẩu ở Công ty Xuất nhập khẩu Tổng hợp I - Bộ Thương Mại” cho luận
văn tốt nghiệp của mình.
Luận văn bao gồm các nội dung sau:

1
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động thanh toán quốc tế đối với
hàng hoá xuất khẩu

trọng. Tuy vậy, đứng trước những cơ hội và thách thức của toàn cầu hoá, hoạt
động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam có nhiều lợi thế và cũng không ít
những hạn chế. Muốn có hiệu quả cao cho đất nước thì phải phát triển những
mặt lợi thế và giảm bớt những mặt hạn chế.
1.1.1. Lợi thế của Việt Nam trong hoạt động xuất khẩu hàng hoá
Thứ nhất, Việt Nam có một vị trí địa lý hết sức thuận lợi, thiên nhiên ưu
đãi và lịch sử để lại đã hình thành nên các vùng chuyên canh, các làng nghề do
vậy chúng ta có thế mạnh về hàng hoá nông, lâm sản nhiệt đới, thủy sản, hàng
công nghiệp nhẹ, hàng tiểu công nghiệp và mỹ nghệ, hàng gia công và một số
sản phẩm công nghệ cơ khí. Đây có thể nói là hướng chính cho mặt hàng xuất
khẩu của Việt Nam, có tính cạnh tranh trên thị trường thế giới do nhân công rẻ,
tài nguyên thiên nhiên, đất đai nông nghiệp lớn, rừng biển khoáng sản phong
phú.
Các vùng chuyên canh sản xuất, kinh doanh hàng hoá xuất khẩu được
chia thành:

3
- Đồng bằng Nam Bộ: Sản xuất và xuất khẩu lúa gạo, thịt, thuỷ sản, cây ăn
quả.
- Đông Nam Bộ: Cây công nghiệp như cao su, cà phê, hạt tiêu, thịt...
- Duyên hải miền Trung: Thịt, lâm sản, thủy sản...
- Tây Nguyên: Cà phê, cao su, dâu tằm, lâm sản.
- Khu bốn cũ: Thịt, cây công nghiệp ngắn ngày (lạc), cây công nghiệp dài
ngày (cà phê), khoáng sản (quặng sắt, thiếc)
- Đồng bằng sông Hồng: Thịt, cây công nghiệp ngắn ngày, rau , quả...
Thứ hai, tham gia đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hoá trong điều
kiện nền kinh tế thị trường tất yếu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi, kiểm soát lẫn
nhau rất chặt chẽ giữa các đơn vị, các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu trong
việc tìm kiếm khách hàng, nguồn hàng, giá cả...Chính nhờ vậy, chất lượng
hàng hoá xuất khẩu luôn được các đơn vị, doanh nghiệp Việt Nam quan tâm và

hiệu quả hoạt động xuất khẩu mang lại cho đất nước không cao.
Thứ hai, hoạt động kiểm soát giám sát quá trình xuất khẩu còn lỏng lẻo,
có nhiều kẽ hở tạo điều kiện cho một số đơn vị khai thác, xuất khẩu các mặt
hàng quý hiếm của quốc gia, các hàng hoá nằm trong danh mục cấm xuất
khẩu.
Thứ ba, Thông tin về thị trường, về giá cả cũng như mặt hàng xuất khẩu
đến với các đơn vị, các doanh nghiệp xuất khẩu còn rất chậm thậm chí bị sai
lệch ảnh hưởng tới mục tiêu cũng như chiến lược phát triển khiến nhiều doanh
nghiệp lúng túng, không dám đầu tư, phát triển xuất khẩu. Đây là một thiệt
thòi lớn cho các đơn vị, doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam vì không cập nhập
được thông tin, không đánh giá, tìm hiểu kỹ được thị trường thì khả năng dẫn
đến thất bại là rất lớn.
Thứ tư, các vấn đề liên quan tới thanh toán, các nghiệp vụ cần thiết cho
hoạt động xuất khẩu còn hạn chế, lúng túng dẫn tới kéo dài thời gian; hệ thống
luật pháp điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động xuất khẩu chưa được đề cập
một cách cụ thể do đó những tranh chấp xảy ra thường khó giải quyết và
thường các đơn vị, doanh nghiệp Việt Nam là bên phải chịu thiệt thòi.
1.2. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA.
Với định hướng phát triển kinh tế xã hội của Đảng, chính sách kinh tế đối
ngoại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng phải được coi là một chính
sách quan trọng nhằm phục vụ quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân.

5
Đảng và Nhà nước ta chủ trương mở rộng phát triển kinh tế đối ngoại, đặc biệt
hướng mạnh vào sản xuất xuất khẩu hàng hoá là một chủ trương đúng đắn, phù
hợp với quy luật kinh tế khách quan. Sở dĩ như vậy là vì xuất khẩu có vai trò
thực sự quan trọng, thể hiện:
1.2.1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu và tích luỹ phát triển sản
xuất, phục vụ công nghiệp hoá đất nước.

triển chế biến thực phẩm xuất khẩu (gạo, dầu thực vật, cà phê...) có thể kéo
theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ nó.
- Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần cho sản xuất
ổn định và phát triển.
- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất
nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
1.2.3. Xuất khẩu có vai trò tích cực đổi mới trang thiết bị và công nghệ
sản xuất.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động hướng ra thị trường thế giới, một thị
trường mà ngày càng cạnh tranh quyết liệt. Sự tồn tại và phát triển của hàng
hoá xuất khẩu phụ thuộc rất lớn vào chất lượng, giá cả, do đó phụ thuộc rất lớn
vào kỹ thuật, công nghệ sản xuất chúng, điều này thúc đẩy các doanh nghiệp
sản xuất trong nước phải luôn luôn đổi mới, luôn luôn tìm tòi sáng tạo để cải
tiến , nâng cao chất lượng. Mặt khác, xuất khẩu trong nền kinh tế cạnh tranh
còn đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao tay nghề cho người lao động.
1.2.4. Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm
và cải thiện đời sống của nhân dân.
Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt. Trước hết,
thông qua hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu, với nhiều công đoạn khác nhau
đã thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập không thấp, tăng
giá trị ngày công lao động, tăng thu nhập quốc dân. Xuất khẩu còn tạo nguồn
để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu, phục vụ đời sống và đáp ứng ngày
một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần cho người lao động.
1.2.5. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối
ngoại của nước ta.
Đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tăng cường sự hợp tác quốc tế với các
nước, nâng cao địa vị và vai trò của nước ta trên thị trường quốc tế... Xuất
khẩu và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quỹ tín dụng đầu tư,


- Thanh toán mậu dịch:
Khác hoàn toàn với thanh toán phi mậu dịch, thanh toán mậu dịch phát sinh
trên cơ sở trao đổi hàng hoá và các dịch vụ thương mại, theo giá cả quốc tế.

8
Thông thường trong nghiệp vụ thanh toán mậu dịch phải có chứng từ hàng hóa
kèm theo. Các bên mua bán bị ràng buộc với nhau bởi hợp đồng thương mại
hoặc bằng một hình thức cam kết khác như thư, điện giao dịch... Mỗi hợp đồng
chỉ ra một mối quan hệ nhất định, nội dung hợp đồng phải quy định rõ cách
thức thanh toán dịch vụ thương mại phát sinh.
Về cơ bản, thanh toán quốc tế phát sinh dựa trên cơ sở hoạt động ngoại
thương. Thanh toán là khâu cuối cùng của một quá trình sản xuất và lưu thông
hàng hoá, vì vậy nếu công tác thanh toán quốc tế được tổ chức tốt thì giá trị
của hàng hoá xuất khẩu mới được thực hiện, góp phần thúc đẩy ngoại thương
phát triển. Thanh toán quốc tế trở thành một yếu tố quan trọng để đánh giá
hiệu quả của hoạt động kinh tế đối ngoại. Quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng
được mở rộng. Hàng năm một khối lượng lớn hàng hoá được giao lưu trên thị
trường thế giới, chính vì vậy thanh toán quốc tế yêu cầu phải có những phương
thức thanh toán cho phù hợp.
Trong giai đoạn hiện nay, với sự tác động mạnh mẽ của thành tựu khoa
học kỹ thuật, cùng với xu hướng mới của thời đại, quan hệ quốc tế đã và đang
chuyển sang một thời kỳ mới. Sự giao lưu hàng hoá không còn bị giới hạn bởi
chế độ chính trị của mỗi quốc gia, thị trường quốc tế mở rộng, vì vậy nội dung
thanh toán quốc tế của mỗi nước cũng đổi mới, sử dụng các điều kiện thanh
toán, phương thức thanh toán hiện đại...
Thanh toán quốc tế thực sự là phức tạp, nhất là trong điều kiện hiện nay,
tỷ giá tiền tệ luôn biến động trên thị trường tiền tệ quốc tế, yêu cầu đặt ra cho
công tác thanh toán là : đảm bảo an toàn cho các hợp đồng nhập khẩu, các
khoản doanh thu hàng xuất khẩu thu về một cách kịp thời, an toàn, chính xác.
Quan hệ mua bán và thanh toán giữa các nước rất phức tạp vì thường xuyên

luôn hướng tới lợi ích của mình đó là: người xuất khẩu mong muốn thu tiền
nhanh, đầy đủ, đúng hạn còn yêu cầu cần đáp ứng của người nhập khẩu là
nhận hàng kịp thời, đúng số lượng và chất lượng. Hoạt động thanh toán chính
là để làm sao nhằm điều hoà lợi ích các bên một cách tốt nhất.
Thứ tư, thanh toán quốc tế là nghĩa vụ quan trọng và phức tạp của quá
trình thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu. Do đó rủi ro thường xuyên xảy ra
trong khâu thanh toán. Lo ngại lớn nhất của người xuất khẩu là giao hàng rồi

10
nhưng không thu được tiền đầy đủ, đúng thời hạn và địa điểm quy định. Rủi ro
trong thanh toán chủ yếu phụ thuộc vào hai yếu tố: sự yếu kém về nghiệp vụ
và ý thức thực hiện hợp đồng của phía đối tác.Các phương thức thanh toán nếu
được vận dụng một cách hợp lý đối với đặc điểm của từng loại hình xuất khẩu
cũng như từng loại khách hàng chắc chắn sẽ tránh được và giảm thiểu những
rủi ro không đáng có, hoạt động thanh toán sẽ được thông suốt.
Nói chung, đối với hoạt động xuất khẩu, quá trình thanh toán đảm bảo
cho việc trao đổi hàng hóa dịch vụ được tiến hành thông suốt từ đó thu hồi vốn
nhanh để đáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở rộng của nền sản xuất xã hội.
1.3.2. Các phương tiện thanh toán quốc tế:
Phương tiện thanh toán là công cụ mà người ta thực hiện trả tiền cho
nhau trong quan hệ buôn bán với nhau. Tiền mặt là phương tiện thanh toán
nhưng trong thanh toán quốc tế nó giữ vai trò thứ yếu. Phương tiện thanh toán
chủ yếu dùng trong thanh toán quốc tế là hối phiếu (Bill of exchange, Drafts),
séc (cheque), thẻ tín dụng...Mỗi công cụ thanh toán đều có công dụng riêng
của nó, thích hợp cho từng đối tượng và loại hình giao dịch thanh toán của các
chủ thể kinh tế.
* Hối phiếu:
Là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho một
người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy phiếu, hoặc đến một ngày cụ thể
nhất định hoặc đến một ngày có thể xác định trong tương lai phải trả một số

- Séc cũng được chia ra làm nhiều loại: séc vô danh, séc đích danh, séc theo
lệnh, séc gạch chéo, séc chuyển khoản, séc xác nhận, séc du lịch
Ngoài hối phiếu và séc là những phương tiện thanh toán thông dụng, còn
có các phương tiện khác như: kỳ phiếu, thẻ tín dụng...
1.3.3. Các điều kiện trong thanh toán quốc tế
Trong quan hệ thanh toán giữa các nước, nảy sinh các vấn đề có liên quan
đến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong vấn đề thanh toán, buộc các bên
phải đề ra để giải quyết và thực hiện. Những vấn đề này được qui kết lại thành
những điều kiện gọi là điều kiện thanh toán quốc tế.
Các điều kiện đó là:
* Điều kiện về tiền tệ: Trong hợp đồng thương mại quốc tế, bao giờ cũng phải
sử dụng đồng tiền của một nước nào đó để làm đồng tiền tính toán và/hoặc
đồng tiền thanh toán. Do đó phải quy định về điều kiện tiền tệ. Tiền tệ được sử
dụng có thể là tiền tệ quốc tế, tiền tệ thế giới hay tiền tệ quốc gia, hoặc cũng có

12
thể là tiền mặt hay tiền tín dụng...tuỳ vào từng trường hợp và thoả thuận của
các bên mua bán.
* Điều kiện địa điểm thanh toán:
Trong hoạt động thương mại quốc tế, địa điểm thanh toán có thể ở nước
nhập khẩu, hoặc ở nước xuất khẩu, hoặc ở nước thứ ba. Nhưng trong thực tế,
việc xác định địa điểm thanh toán là do sự so sánh lực lượng ở hai bên quyết
định, đồng thời cũng còn thấy rằng dùng đồng tiền thanh toán của nước nào thì
địa điểm thanh toán thường là nước ấy.
* Điều kiện thời gian thanh toán:
Điều kiện thời gian thanh toán có quan hệ chặt chẽ tới việc luân chuyển
vốn, lợi tức, khả năng có thể tránh được những biến động về tiền tệ, do đó nó
là vấn đề quan trọng, thường xảy ra tranh chấp giữa các bên trong đàm phán
ký kết hợp đồng. Trong thương mại quốc tế có ba cách quy định về thời gian
thanh toán, đó là: trả tiền trước, trả tiền ngay và trả tiền sau.

người mua lẫn người bán.
Việc chuyển tiền xem như hoàn tất khi thanh toán hết số tiền cho người
thụ hưởng; trước thời điểm này, số tiền trong tài khoản vẫn thuộc quyền sở
hữu của người chuyển tiền và người này có quyền huỷ bỏ lệnh chuyển tiền mà
người thụ hưởng không khiếu nại gì với ngân hàng. Như vậy, việc trả tiền phụ
thuộc vào thiện chí của người mua, quyền lợi của người xuất khẩu không đảm
bảo.
Trong quan hệ mua bán, thanh toán quốc tế, phương thức chuyển tiền chỉ
được chọn làm phương tiện thanh toán đối với các nhà kinh doanh xuất nhập
khẩu, cung ứng dịch vụ có quan hệ thân thiết, tin cậy lẫn nhau, vì khâu thanh
toán này dễ làm nảy sinh việc chiếm dụng vốn của người bán, nếu bên mua cố
tình dây dưa, kéo dài việc ra lệnh thanh toán, trong khi phương thức chuyển
tiền, đặc biệt là chuyển tiền điện, là phương thức thanh toán nhanh nhất hiện
nay.
Có hai hình thức chuyển tiền: chuyển tiền băng thư (mail transfer, M/T)
và chuyển tiền bằng điện báo (telegraphic transfer, T/T). Hình thức chuyển
tiền có lợi cho người xuất khẩu vì nhận tiền nhanh, không có lợi cho người
nhập khẩu vì chi phí cao.
* Phương thức ghi sổ (open account):
Phương thức thanh toán này được thực hiện bằng cách người xuất khẩu
mở một tài khoản, trên đó ghi các khoản tiền mà người nhập khẩu nợ về tiền
mua hàng hoá hay những khoản chi phí khác có liên quan đến việc mua hàng.

14
Người nhập khẩu định kỳ (hàng tháng, quí hay nửa năm một lần) thanh toán
khoản nợ của mình trên tài khoản cho người xuất khẩu.
Đặc điểm:
- Đây là một phương thức thanh toán chỉ có hai bên tham gia thanh toán là
người mua và người bán, ngân hàng không tham gia với chức năng là
người mở tài khoản và thực thi thanh toán.

xuất khẩu và nhà nhập khẩu, nó có bảo đảm hơn hai hình thức séc và chuyển
tiền ở chỗ, nhà xuất khẩu yêu cầu ngân hàng bên mua không giao chứng từ đi
lãnh hàng cho nhà nhập khẩu, khi người này chưa thanh toán tiền. Tuy nhiên,
tốc độ thanh toán vẫn chậm, rủi ro cho bên xuất khẩu lớn. Trường hợp nhà
nhập khẩu không chịu thanh toán, từ chối nhận hàng vì lý do giá mua sản
phẩm đó đang xuống thấp mà người bán không chấp nhận giảm giá, và nhất là
vì lô hàng nhập về không còn phù hợp thị hiếu người tiêu dùng, người bán chỉ
còn cách nhờ ngân hàng bên mua lấy hàng cất vào kho, mua bảo hiểm và tìm
nguồn tiêu thụ hết số hàng này. Trường hợp ngân hàng không nhận làm công
việc này, nhà xuất khẩu sẽ phải xử lý ra sao khi hàng hoá đã cách xa mình
hàng vạn kilomét?
* Phương thức tín dụng chứng từ
Một trong những phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng phổ biến
hiện nay đó là phương thức tín dụng chứng từ.
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó một ngân
hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở
thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho người khác (người hưởng lợi số
tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong
phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ
thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng.
Thư tín dụng (letter of credit - L/C) là một phương tiện rất quan trọng
trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Không mở được thư tín dụng
thì phương thức này không được xác lập và người bán không thể giao hàng
cho người mua. Thư tín dụng còn là một văn bản pháp lý trong đó ngân hàng
đứng ra cam kết trả tiền cho người bán trong một thời hạn nhất đinh được quy
định trong thư tín dụng.
Các nội dung của một thư tín dụng bao gồm:
- Số hiệu của thư tín dụng
- Địa điểm và ngày mở thư tín dụng


căn cứ điều khoản của thư uỷ thác mua mà trả tiền hối phiếu, ngân hàng bên
mua thu tiền của người mua và giao chứng từ cho họ.
* Phương thức thư bảo đảm trả tiền ngay (letter of guarantee - L/G)

17
Dùng phương thức này tức là ngân hàng bên người mua theo yêu cầu của
người mua viết cho người bán một cái thư gọi là “thư bảo đảm trả tiền” bảo
đảm sau khi hàng của bên bán đã gửi đến địa điểm của bên mua qui định sẽ trả
tiền hàng.
Phương thức thư bảo đảm trả tiền khác với phương thức tín dụng chứng
từ và phương thức uỷ thác mua ở chỗ phương thức này căn cứ vào hàng hoá để
trả tiền còn hai phương thức kia căn cứ vào chứng từ để trả tiền.
Thanh toán theo phương thức L/G có ba loại: Hàng đến trả tiền, kiểm
nghiệm xong trả tiền và hàng đến trả tiền một phần, phần còn lại trả nốt sau
khi có kết quả giám định.
1.4. QUI TRÌNH THANH TOÁN QUỐC TẾ HÀNG XUẤT KHẨU:
Trong hoạt động thương mại quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩu
nói riêng, việc thanh toán là một khâu quyết định, đứng về phía là một doanh
nghiệp xuất khẩu việc thanh toán càng nhanh thì càng tạo điều kiện cho doanh
nghiệp thu hồi và quay vòng vốn, tiếp tục đầu tư sản xuất. Hiện nay, có ba
phương thức thanh toán chủ yếu thường được sử dụng trong hoạt động xuất
khẩu hàng hoá, đó là: chuyển tiền, nhờ thu và tín dụng chứng từ trong đó thanh
toán bằng phương thức tín dụng chứng từ vẫn luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất về
kim ngạch so với các phương thức khác.
Qui trình nghiệp vụ thanh toán của các phương thức chủ yếu được lần
lượt xem xét như sau:
1.4.1. Phương thức chuyển tiền:
Trong phương thức thanh toán này , có các bên liên quan:
- Người phát hành lệnh chuyển tiền (người mua, nhập khẩu...)
- Ngân hàng nhận thực hiện việc chuyển tiền (ngân hàng nơi đơn vị chuyển

hàng đại lý của mình ở nước ngoài để chuyển tiền trả cho người nhận tiền.
Bước 5: Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người được hưởng (trực tiếp
hoặc gián tiếp qua ngân hàng khác) và gửi giấy báo Có cho đơn vị.
1.4.2. Phương thức thanh toán nhờ thu:
Trong phương thức thanh toán nhờ thu, có các bên liên quan như sau:
- Tổ chức xuất khẩu, người cung ứng dịch vụ, người ký phát hối phiếu tức là
người ra lệnh.
- Ngân hàng nhờ thu là ngân hàng nhận sự uỷ thác thu tiền, ngân hàng bên
xuất khẩu.
- Ngân hàng nhận nhiệm vụ thu tiền: thông thường là ngân hàng đại lý của
ngân hàng bên xuất khẩu tại nước nhập khẩu.

19
- Tổ chức nhập khẩu là người quyết định thanh toán, là người mà hối phiếu,
chứng từ sẽ gửi đến cho họ.
Căn cứ vào nội dung chứng từ thanh toán gửi đến ngân hàng nhờ thu,
người ta chia phương thức thanh toán này thành hai loại:
+ Nhờ thu phiếu trơn (clean collection)
Đây là phương thức thanh toán mà trong đó tổ chức xuất khẩu sau khi
gửi hàng cho tổ chức nhập khẩu, uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền của người
mua căn cứ vào hối phiếu (bill of exchange) do mình lập ra còn chứng từ hàng
hoá thì gửi thẳng cho người mua không thông qua ngân hàng.

Sơ đồ 2: phương thức thanh toán nhờ thu phiếu trơn
(6)
(3)
(7) (2) (4) (5)
(1)
hoặc chấp nhận trả tiền thì ngân hàng mới trao cho bộ chứng từ để đi nhận
hàng.Sơ đồ 3: phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ
(6)
(3)
(7) (2) (4) (5)
(1)
Bước 1: Người xuất khẩu tiến hành giao hàng cho người nhập khẩu
Bước 2: Người xuất khẩu lập bộ chứng từ hàng hoá và ký phát hối phiếu
gửi đến ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ tiền ở người nhập khẩu.
Bước 3: Ngân hàng uỷ thác gửi thư uỷ nhiệm kèm theo hối phiếu và toàn
bộ bộ chứng từ cho ngân hàng đại lý nhờ thu hộ tiền của người nhập khẩu.
Bước 4: Ngân hàng đại lý sau khi kiểm tra, giữ lại bộ chứng từ và gửi hối
phiếu cho người nhập khẩu để yêu cầu thanh toán kèm theo bản sao hoá đơn.

21
Ngân h ng uà ỷ
thác
Ngân hàng đại

Người nhập
khẩu
Người xuất
khẩu
Bước 5: Người nhập khẩu tiến hành trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền tuỳ
thuộc vào hai trường hợp:
- Nhờ thu trả tiền đổi chứng từ (Documentary against payment - D/P):
người nhập khẩu phải trả tiền thì mới được ngân hàng trao cho bộ chứng từ để

- Người thụ hưởng (beneficiary bank): phần lớn trên các thư tín dụng
chứng từ có chỉ định rõ tên một ngân hàng thanh toán để chi trả tiền cho người
bán hoặc một ngân hàng chấp nhận trả tiền các hối phiếu (accepting bank)
hoặc cho phép chiết khấu hối phiếu trả chậm để lấy tiền ở bất cứ một ngân
hàng nào.
Sơ đồ 4: Quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
(6)
(5)
(2)
(8) (7) (1) (3) (5) (6)
(4) Bước 1: Người nhập khẩu làm đơn xin mở L/C gửi đến ngân hàng phục vụ
mình yêu cầu mở một bức thư tín dụng để cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu.
Bước 2: Căn cứ vào yêu cầu và nội dung của đơn xin mở thư tín dụng, ngân
hàng mở L/C sẽ lập ra một bức thư tín dụng và qua ngân hàng đại lý của mình
sẽ thông báo và chuyển L/C đến cho nhà xuất khẩu.
Bước 3: Nhận được thông báo, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho
người xuất khẩu biết toàn bộ nội dung của thông báo về việc mở L/C và khi
nhận được L/C thì chuyển đến cho người xuất khẩu.
Bước 4: Người xuất khẩu tiến hành giao hàng nếu chấp nhận thư tín dụng,
ngược lại nếu không chấp nhận thì không giao hàng và yêu cầu bổ sung, sửa
đổi L/C.

23
Ngân hàng mở L/
C
Ngân h ng thôngà
báo L/C

dịch vụ có quan hệ thân tín,
tin cậy lẫn nhau.
2. Phương thức nhờ thu

24
* Nhờ thu phiếu trơn:
- Việc giao hàng và thanh
toán tách rời nhau.
- Ngân hàng chỉ giữ vai trò
trung gian, không có trách
nhiệm khi số tiền ghi trên
hối phiếu có được thanh
toán hay không.
Không đảm bảo việc
nhận tiền của người
bán
* Nhờ thu kèm chứng từ
- Ngân hàng vẫn chỉ là trung
gian, không bị ràng buộc
trách nhiệm phải kiểm tra
các chứng từ gửi nhờ thu
cũng như việc giấy nhờ thu
có được nhà nhập khẩu chấp
nhận thanh toán hay không.
- Tốc độ thanh toán chậm
- Không định đoạt
được việc phải trả tiền
của người mua
- Người mua có thể từ
chối nhận hàng.

đúng những điều kiện mà L/
C quy định:
+ Thời gian giao hàng chậm
Người xuất khẩu không
nhận được tiền thanh
toán
- Lựa chọn ngân hàng có uy tín
ngay từ khâu kí kết hợp đồng
hoặc ngân hàng có bảo lãnh.
- Phải nghiên cứu thời gian có
phù hợp với thực tế không:
thời gian thu mua và chuẩn bị
hàng hóa, thời gian đưa hàng
lên tàu..., nếu không thoả mãn
thì phải tu chỉnh ngay.

25

Trích đoạn Lịch sử hỡnh thành và phỏt triển của Cụng ty
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status