Sưu tầm và thiết kế một số bài dạy học môn tự nhiên và xã hội lớp 1, 2, 3 ở tiểu học theo phương pháp dạy học bàn tay nặn bộ - Pdf 35

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay ở nước ta, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) là vấn đề quan
trọng, cấp bách diễn ra sôi nổi về lí luận cũng như thực tiễn. Định hướng đổi mới
PPDH được nghị quyết TW lần 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII khẳng định
“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện nết tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng phương pháp
tiên tiến, các PPDH hiện đại vào quá trình dạy học đảm bảo thời gian tự học, tự
nghiên cứu của học sinh (HS)”. Từ định hướng này và đáp ứng yêu cầu của xã hội,
Đảng ta đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27 tháng 3 năm 2015 của Thủ
tướng Chính Phủ về việc phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa (SGK)
phổ thông. Chương trình mới, SGK mới lấy HS làm trung tâm, phát huy tính chủ
động, tích cực, sáng tạo, khả năng tự học của HS; tăng cường tính tương tác trong dạy
và học giữa thầy với trò, trò với trò và giữa các thầy giáo, cô giáo đòi hỏi phải có
PPDH tích cực để thực hiện được mục tiêu đó.
Phương pháp dạy học Bàn tay nặn bột (PPDH BTNB) là PPDH tích cực, thích
hợp cho việc giảng dạy các kiến thức khoa học tự nhiên, đặc biệt là đối với bậc tiểu
học khi HS đang ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểu mạnh mẽ các kiến thức khoa học, hình
thành khái niệm cơ bản về khoa học tập trung phát triển khả năng nhận thức của HS,
giúp các em tìm ra lời giải đáp cho những thắc mắc trẻ thơ, từ đó khám phá ra bản chất
của vấn đề. Phương pháp này giúp các em hiểu rõ câu trả lời mình tìm được và quan
trọng hơn các em biết cách tự tìm ra tri thức, HS trở thành chủ thể của việc tìm kiếm
tri thức phát huy hết khả năng của mình. Qua đó HS sẽ hình thành khả năng suy luận
theo phương pháp nghiên cứu từ nhỏ và hình thành tác phong, phương pháp làm việc
khi trưởng thành. Tạo lập cho HS thói quen làm việc như các nhà khoa học và niềm
say mê sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề.
Môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học là môn có chương trình nội dung phù hợp để
vận dụng PPDH BTNB. Kiến thức được đánh giá là nhẹ nhàng, thực tế, gần gũi với
HS. Nhiều nội dung áp dụng dễ kiếm mẫu vật có thể làm thí nghiệm hoặc quan sát

- Thực nghiệm sư phạm dạy học theo PPDH BTNB.
4. Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lí luận của PPDH BTNB.
- Thực tiễn của việc sử dụng PPDH BTNB trong dạy học môn Tự nhiên và Xã
hội ở tiểu học.
- Sưu tầm các bài dạy học theo PPDH BTNB đã được sử dụng ở tiểu học.
- Vận dụng PPDH BTNB trong thiết kế một số bài dạy học môn Tự nhiên và Xã
hội lớp 1, 2, 3.


3

- Đánh giá tác dụng của PPDH BTNB trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp
1, 2, 3 ở tiểu học.
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
PPDH BTNB trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3.
5.2. Khách thể nghiên cứu
- Quá trình giáo dục và dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở lớp 1, 2, 3.
- GV và HS khối lớp 1, 2, 3.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích các tài liệu có liên quan đến phạm vi, nội dung nghiên cứu để thu thập
thông tin, tổng hợp các vấn đề mà xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở
trường Tiểu học để thu thập thông tin cần thiết cho đề tài.
6.2.2. Phương pháp điều tra: Điều tra được tiến hành theo mẫu phiếu hỏi để thu được
những thông tin làm rõ việc vận dụng dạy học Bàn tay nặn bột trong tổ chức cho HS
khám phá nội dung môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3.



5

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Đặc điểm tâm lý của HS tiểu học
1.1.1.1. Đặc điểm hoạt động nhận thức của HS tiểu học
HS tiểu học thuộc lứa tuổi từ 6 đến 11 tuổi (từ lớp 1 đến lớp 5). Điều kiện sống
và hoạt động của HS tiểu học có những thay đổi lớn, do đó đặc điểm tâm lý nói chung
và đặc điểm nhận thức của các em cũng có những thay đổi cơ bản.
Tri giác của các em HS đầu tiểu học còn thiên về cảm xúc, việc tri giác thiếu mục
đích, kế hoạch rõ ràng, tri giác vẫn thường gắn với hoạt động. HS cuối cấp tiểu học đã
biết tìm các dấu hiệu đặc trưng, chi tiết để đi đến so sánh, tổng hợp, xác định mối liên
hệ giữa các sự vật. Tri giác của các em mang tính mục đích, phương hướng rõ ràng,
khả năng quan sát tinh tế, nhạy bén, tìm ra được những nét đặc thù của đối tượng. Tuy
nhiên tri giác về thời gian, không gian cũng như ước lượng về thời gian, không gian
của các em còn hạn chế.
HS tiểu học mang lối tư duy trực quan cụ thể, lấy các đối tượng cụ thể thay cho
định nghĩa về đối tượng. Hoạt động phân tích, tổng hợp của các em còn sơ đẳng. Các
em thường gặp một số khó khăn nhất định khi cần phải xác định mối quan hệ nhân
quả; dễ bị nhầm lẫn mối quan hệ nguyên nhân – kết quả.
Ngôn ngữ của HS tiểu học phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng.
Chỉ khi bước vào tiểu học các em mới được làm quen với hình thức mới của hoạt động
ngôn ngữ đó là ngôn ngữ viết. Nhờ tham gia các hoạt động trong và ngoài nhà trường,
tiếp xúc rộng rãi với những người xung quanh và tiếp thu tri thức các môn học mà vốn
từ ngữ của các em trở nên phong phú, chính xác. Trong quá trình học tập ở trường Tiểu
học, các em sẽ được học các quy tắc ngữ pháp cơ bản và rèn luyện cách phát âm, dùng
từ, trên cơ sở đó khả năng ngôn ngữ và năng lực nhận thức của trẻ được phát triển.

hành vi của HS tiểu học dễ có tính tự phát, dễ có những phản ứng nhanh chóng, dễ vi
phạm nội dung và bị xem là “vô kỷ luật”. Các em rất hồn nhiên trong quan hệ với mọi
người, với thầy cô, với người lớn, với bạn bè.
HS tiểu học rất hồn nhiên nên các em rất cả tin, trẻ thường tin tuyệt đối vào thầy
cô, tin vào sách, tin vào người lớn. Đặc biệt tính bắt chước của các em vẫn còn đậm
nét. Các em bắt chước hành vi, cử chỉ của GV, của những người được các em coi như
thần tượng, kể cả những nhân vật trong truyện, trong phim ảnh. Tính cách của HS tiểu
học có nhược điểm thường bất thường, bướng bỉnh, thích hoạt động và thích làm việc
gì đó phù hợp với mình, nên có thể sớm hình thành ở các em thói quen đối với lao
động. HS tiểu học thường thể hiện cảm xúc mạnh mẽ, dễ xúc động, khó kiềm chế, khó


7

làm chủ tình cảm của mình. Tình cảm của HS tiểu học thường chưa bền vững. Tình
cảm đạo đức phát triển mạnh mẽ.
Tóm lại, HS tiểu học là độ tuổi nhiều xúc cảm. nhiều tình cảm mới đang được
hình thành nhưng chưa bền vững. Vì thế, trong dạy học và giáo dục GV cần chú ý đầy
đủ những đặc điểm này để hình thành những tình cảm tích cực phong phú, đa dạng cho
các em [12].
1.1.2. Khái quát về môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3
1.1.2.1. Mục tiêu môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3
Môn Tự nhiên và Xã hội là một bộ phận của hệ thống các môn học chính khóa
trong chương trình tiểu học. Cũng như các môn học khác ở tiểu học, mục tiêu môn Tự
nhiên và Xã hội được thể hiện ở các mục tiêu thành phần sau:
* Kiến thức
Có một số kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực về:
- Con người và sức khoẻ (cơ thể người, cách giữ vệ sinh cơ thể và phòng tránh
bệnh tật, tai nạn).
- Một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội.

của cơ và xương trong cử động vận động; phòng cong vẹo cột sống; tập thể dục và vận
động thường xuyên để cơ, xương phát triển.
+ Cơ quan tiêu hoá: nhận biết trên sơ đồ; vai trò của từng bộ phận trong hoạt
động tiêu hoá; ăn sạch, uống sạch, phòng nhiễm giun.
- Xã hội:
+ Gia đình: công việc của các thành viên trong gia đình; cách bảo quản và sử
dụng một số đồ dùng trong nhà; giữ sạch môi trường xung quanh nhà ở và khu vệ sinh,
chuồng gia súc; an toàn khi ở nhà (phòng tránh ngộ độc).
+ Trường học: các thành viên và công việc của họ; cơ sở vật chất của nhà trường;
giữ vệ sinh trường học; an toàn khi ở trường.
+ Huyện hoặc quận nơi đang sống: Cảnh quan tự nhiên; Nghề chính của nhân
dân; Các đường giao thông và phương tiện giao thông; Một số biển báo trên đường bộ,
đường sắt; An toàn giao thông (quy tắc đi những phương tiện giao thông công cộng).
- Tự nhiên:
+ Thực vật và động vật: một số cây cối và một số con vật sống ở trên mặt đất,
dưới nước và trên không.
+ Bầu trời ban ngày và ban đêm: Mặt Trời, cách tìm phương hướng bằng Mặt
Trời; Mặt Trăng và các vì sao.
Lớp 2:
* Gồm 3 chủ đề lớn:
- Chủ đề Con người và sức khỏe: gồm 9 bài mới, 1 bài ôn tập và kiểm tra.


9

- Chủ đề Xã hội: gồm 12 bài mới, 1 bài ôn tập và kiểm tra.
- Chủ đề Tự nhiên: gồm 10 bài mới, 2 bài ôn tập và kiểm tra.
Môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 dạy 1 tiết/tuần x 35 tuần = 35 tiết
* Nội dung của các chủ đề:
- Con người và sức khoẻ:


+ Cơ quan hô hấp: nhận biết trên sơ đồ; tập thở sâu; thở không khí trong sạch;
phòng một số bệnh lây qua đường hô hấp).
+ Cơ quan tuần hoàn: nhận biết trên sơ đồ; hoạt động lao động và tập thể dục thể
thao vừa sức.
+ Cơ quan bài tiết nước tiểu: nhận biết trên sơ đồ; giữ vệ sinh.
+ Cơ quan thần kinh: nhận biết trên sơ đồ; ngủ, nghỉ ngơi và học tập, làm việc
điều độ.
- Xã hội:
+ Gia đình: mối quan hệ họ hàng nội, ngoại (cô dì, chú bác, cậu và các anh chị
em họ), quan hệ giữa sự tăng số người trong gia đình và số người trong cộng đồng, an
toàn khi ở nhà (phòng cháy khi đun, nấu).
+ Trường học: một số hoạt động chính ở nhà trường Tiểu học, vai trò của GV và
HS trong các hoạt động đó; an toàn khi ở trường (không chơi các trò chơi nguy hiểm).
+ Tỉnh hoặc thành phố nơi đang sống: một số cơ sở hành chính, giáo dục, y tế,
kinh tế…; làng quê và đô thị; giữ vệ sinh nơi công cộng; an toàn giao thông (quy tắc đi
xe đạp).
- Tự nhiên:
+ Thực vật và động vật: đặc điểm cấu tạo cơ thể thực vật và động vật; thực vật và
động vật là những cơ thể sống.
- Mặt Trời và Trái Đất:
+ Mặt Trời: nguồn sáng và nguồn nhiệt; vai trò của Mặt Trời đối với sự sống trên
Trái Đất; Trái Đất trong hệ Mặt Trời; Mặt Trăng và Trái Đất
+ Trái Đất: hình dạng, đặc điểm bề mặt và sự chuyển động của Trái Đất; Ngày
đêm, năm tháng, các mùa [5].
1.1.3. Một số vấn đề về PPDH BTNB
1.1.3.1. Khái niệm về PPDH BTNB
Theo Gioerges Charpak: PPDH BTNB là PPDH mà trong đó trẻ em hành động,
thí nghiệm, nghiên cứu, tìm kiếm và có những câu hỏi đi kèm, hướng tới xây dựng nên
những kiến thức cơ bản để hiểu biết thế giới tự nhiên và kỹ thuật [1].

trong khuôn khổ một đề tài đã được xây dựng chứ không phải chỉ lựa chọn theo các
“cơ hội”. Việc phát hiện, tiếp thu kiến thức của HS thông qua việc GV giúp HS tự đi
lại chính con đường mà các nhà khoa học đã nghiên cứu tìm ra chân lý (kiến thức).
- Dạy học theo PPDH BTNB giúp HS biết cách tự học, tự khám phá, tìm hiểu
nghiên cứu cuộc sống xung quanh.
- Dạy học theo PPDH BTNB nhằm tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, say
mê khoa học của HS.


12

- Giúp HS rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói, làm việc nhóm,
trao đổi và khả năng viết cho HS.
- PPDH BTNB đặt HS làm trung tâm của quá trình nhận thức, các em tự tìm câu
trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm,
quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra…
- Có sự tham gia của những dụng cụ nhưng những dụng cụ đó không đắt tiền. Đó
là những vật dụng hành ngày và vài vật liệu đơn giản. Thí nghiệm tiến hành đơn giản
và không cần có hiểu biết kỹ thuật gì đặc biệt.
- Trong quá trình nghiên cứu, HS phải sử dụng các giác quan để tìm ra tri thức
mới. HS huy động cả năm giác quan: xúc giác cũng như thị giác, thính giác và có cả
khứu giác và vị giác để phát triển trong các em sự tiếp xúc kì diệu với thế giới bao
quanh, để các em khám phá và tìm hiểu nó.
- Có vở ghi chép cá nhân: vở ghi chép cho phép HS ghi lại những ý tưởng của
mình, những điểm đã được sửa chữa lại, đánh dấu được tiến trình nghiên cứu. Vở ghi
chép được HS lưu giữ lại trong suốt thời gian học tiểu học và cuối cấp học sẽ hình
thành một tập ghi nhớ đặc biệt quý báu dành cho các em [3].
1.1.3.3. Các nguyên tắc cơ bản của PPDH BTNB
Dưới đây là 10 nguyên tắc cơ bản của PPDH BTNB được đề xuất bởi Viện Hàn
lâm Khoa học và Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp.

động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học. Tình huống xuất phát phải ngắn gọn,
gần gũi dễ hiểu đối với HS. Tình huống xuất phát nhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề.
Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn đề càng dễ.
Tuy nhiên có những trường hợp không nhất thiết phải có tình huống xuất phát mới đề
xuất được câu hỏi nêu vấn đề (tùy vào từng kiến thức và từng trường hợp cụ thể).
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học (hay môdun kiến thức mà HS sẽ
được học). Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu
thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của HS nhằm chuẩn
bị tâm thế cho HS trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức. GV phải dùng câu hỏi mở,
tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêu
vấn đề. Câu hỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêu cầu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy học
của GV càng dễ thực hiện thành công.
Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu
Hình thành biểu tượng ban đầu là bước quan trọng, đặc trưng của PPDH BTNB.
Bước này khuyến khích HS nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình trước
khi được học kiến thức. Hình thành biểu tượng ban đầu, GV có thể yêu cầu HS nhắc
lại kiến thức cũ đã học có liên quan đến kiến thức mới của bài học. Khi yêu cầu HS
trình bày biểu tượng ban đầu, GV có thể yêu cầu nhiều hình thức biểu hiện của HS, có


14

thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện
suy nghĩ.
Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án thí nghiệm
Từ những khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu của HS, GV giúp HS đề
xuất các câu hỏi từ những sự khác biệt đó. Chú ý xoáy sâu vào những sự khác biệt liên
quan đến kiến thức trọng tâm của bài học (hay mô đun kiến thức).
Ở bước này GV cần khéo léo chọn lựa một số biểu tượng ban đầu khác biệt trong
lớp để giúp HS so sánh, từ đó giúp HS đặt câu hỏi liên quan đến nội dung bài học. Đây

phút làm việc cá nhân.
* Một số chú ý khi lựa chọn biểu tượng ban đầu:
- Không chọn hoàn toàn các biểu tượng ban đầu đúng hoặc sai với câu hỏi.
- Nên lựa chọn các biểu tượng vừa đúng vừa sai, chỉ cần chọn một biểu tượng
ban đầu đúng với câu hỏi (nếu có).
- Tuyệt đối không có bình luận hay nhận xét gì về tính đúng sai của các ý kiến
ban đầu (biểu tượng ban đầu) của HS.
- Giữ nguyên các biểu tượng ban đầu này để đối chiếu và so sánh sau khi hình
thành kiến thức cho HS ở bước 5 của tiến trình phương pháp.
* Lưu ý khi so sánh, phân nhóm biểu tượng ban đầu của HS:
- Phân nhóm biểu tượng ban đầu chỉ mang tính tương đối.
- Không nên đi quá sâu vào chi tiết vì càng chi tiết thì càng mất thời gian.
- GV nên gợi ý, định hướng cho HS thấy những điểm khác biệt giữa các ý kiến
liên quan đến các kiến thức chuẩn bị học.
- GV tùy tình hình thực tế ý kiến phát biểu, nhận xét của HS để quyết định phân
nhóm biểu tượng ban đầu.
- GV nên khéo léo giải thích cho HS đưa ra ý kiến về đặc điểm khác biệt nhưng
không liên quan đến bài học.
* Đề xuất thí nghiệm nghiên cứu:
- Từ các câu hỏi được đề xuất, GV nêu câu hỏi cho HS, đề nghị các em đề xuất
thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó.
- Tùy theo kiến thức hay vấn đề đặt ra trong câu hỏi mà HS có thể đề xuất các
phương án thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu. Các phương án thí nghiệm mà HS đề xuất
có thể rất phức tạp và không thể thực hiện được nhưng GV cũng không nên nhận xét
tiêu cực để tránh làm HS ngại phát biểu.
- Nếu ý kiến của HS nêu lên có ý đúng nhưng ngôn từ chưa chuẩn xác hoặc diễn
đạt chưa rõ thì GV nên gợi ý và từng bước giúp HS hoàn thiện diễn đạt.
- Sau khi HS đề xuất phương án thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, GV nêu nhận
xét chung và quyết định tiến hành phương án thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn. Trường hợp


giải quyết, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa
chuẩn xác một cách khoa học.
GV có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để HS ghi vào vở coi như là
kiến thức của bài học. Trước khi kết luận chung, GV nên yêu cầu một vài ý kiến của
HS cho kết luận sau khi thực hiện thí nghiệm (rút ra kiến thức của bài học). GV khắc


17

sâu kiến thức cho HS bằng cách cho HS nhìn lại, đối chiếu lại với các ý kiến ban đầu
(biểu tượng ban đầu) trước khi học kiến thức. Như vậy từ những quan niệm ban đầu
sai lệch, sau quá trình thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, chính HS tự phát hiện ra mình
sai hay đúng mà không phải do GV nhận xét một cách áp đặt. Chính HS tự phát hiện
những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổi một cách chủ động. Những
thay đổi này sẽ giúp HS ghi nhớ lâu hơn, khắc sâu kiến thức.
Nếu có điều kiện, GV có thể in sẵn tờ rời tóm tắt kiến thức của bài học để phát
cho HS dán vào vở thí nghiệm hoặc tập hợp thành một tập riêng để tránh mất thời gian
ghi chép. Vấn đề này hữu ích cho HS các lớp nhỏ tuổi (lớp 1, 2, 3). Đối với các lớp 4,
5 thì GV nên tập làm quen cho các em tự ghi chép, chỉ in tờ rời nếu kiến thức phức tạp
và dài.
1.1.3.7. Ưu điểm của PPDH BTNB
Là một PPDH tích cực dựa trên nghiên cứu thí nghiệm, áp dụng cho việc giảng
dạy các môn thuộc khoa học tự nhiên, PPDH BTNB chú trọng đến việc hình thành
kiến thức cho HS thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay
điều tra, để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống.
Cũng như các PPDH tích cực khác, PPDH BTNB luôn coi HS là trung tâm của quá
trình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự
giúp đỡ của GV.
Mục tiêu của PPDH BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu và
say mê khoa học của HS. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, PPDH BTNB

Nội dung điều tra
Nghiên
cứu tài
liệu
Những thuận lợi khi sử dụng PPDH
BTNB ở tiểu học.
Những khó khăn khi sử dụng PPDH
BTNB ở tiểu học.
Nhận thức của GV về vai trò, đặc
trưng, ý nghĩa khi sử dụng PPDH
BTNB ở tiểu học.
Nhận thức của GV về sự cần thiết sử
dụng PPDH BTNB ở tiểu học.
Mức độ sử dụng PPDH BTNB ở tiểu
học.
1.2.1.4. Phương pháp khảo sát thực tiễn
* Nghiên cứu tài liệu:

Cách thức điều tra
Quan
Phiếu
sát, dự
điều tra
giờ

Phỏng
vấn

x


Trường Tiểu học
1
Tiểu học Thanh Lãng B
2
Tiểu học Thanh Lãng A
3

Tiểu học Tân Phong

Địa chỉ
TT Thanh Lãng – Bình Xuyên – Vĩnh Phúc
TT Thanh Lãng – Bình Xuyên – Vĩnh Phúc
Xã Tân Phong – Bình Xuyên
– Vĩnh Phúc
Tổng

Số phiếu
30
40
30
100

( Nội dung phiếu điều tra xem trong phụ lục 1)
* Quan sát, dự giờ
Nhằm tìm hiểu thực trạng tổ chức dạy học Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3 hiện
nay, người nghiên cứu tiến hành quan sát, dự giờ các bài dạy môn Tự nhiên và Xã hội
lớp 1, 2, 3 sau:
Bảng 1.3: Danh sách quan sát, dự giờ các bài dạy môn Tự nhiên và Xã hội ở
trường Tiểu học
Lớp

Tên GV

Tên trường

Số năm

Ngày

công tác

phỏng vấn


20

1

Nguyễn Thị Thắm

Tiểu học Thanh Lãng A

9

25-3-1016

2

Nguyễn Thị Tâm

Tiểu học Thanh Lãng A

ham học hỏi là điều kiện tốt thúc đẩy việc áp dụng PPDH BTNB vào trong dạy học
các môn khoa học ở trường Tiểu học.
- Qua quá trình thử nghiệm, áp dụng PPDH BTNB vào trong các lớp học, có thể
nhận thấy sự ham thích của HS. Các em hứng thú với những hoạt động tìm hiểu kiến
thức mới. Điều này chứng tỏ HS luôn ham thích được học tập, hăng say tìm tòi và
sáng tạo.
1.2.2.2. Những khó khăn khi sử dụng PPDH BTNB ở tiểu học
Qua phỏng vấn GV và tổng hợp các tài liệu liên quan có thể rút ra kết luận sau:
- Về điều kiện, cơ sở vật chất:
Trong các lớp học hiện nay, bàn ghế được bố trí theo dãy, nối tiếp nhau, không
thuận lợi cho việc tổ chức học theo nhóm. Trong khi đó, phần lớn các trường học chưa
có phòng học học bộ môn và phòng thí nghiệm để thuận lợi cho việc giảng dạy các bộ
môn khoa học.
Trang thiết bị nói chung trong các lớp học chưa đầy đủ phục vụ cho việc tổ chức
các hoạt động dạy học, nhất là còn thiếu các phương tiện hỗ trợ hoạt động báo cáo,
thảo luận của HS như máy tính, projector, máy chiếu sách, flip chart, máy chiếu bản


21

trong... Dụng cụ thí nghiệm còn chưa đồng bộ và thiếu chính xác. Nguồn tài liệu bổ
trợ cho hoạt động tìm tòi – khám phá của HS còn hạn chế.
Mặt khác, số HS trên một lớp quá đông nên việc tổ chức học tập theo nhóm rất
khó khăn. Điều này cũng gây khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động tham quan, dã
ngoại, điều tra tế cho HS.
- Về đội ngũ GV:
Trình độ GV hiện nay chưa đồng đều cả về chuyên môn và năng lực sư phạm.
Kiến thức chuyên sâu về khoa học của một bộ phận không nhỏ GV còn hạn chế. Vì
vậy, GV thường gặp nhiều khó khăn trong việc trả lời, giải đáp các câu hỏi cũng như
khó khăn trong việc lí giải thấu đáo các thắc mắc của HS nêu ra trong quá trình học.

tất cả các khâu trong một tiết học và vì thế mà giờ dạy lại không được đánh giá cao.
Công tác kiểm tra, đánh giá kiến thức của HS hiện nay cũng là một vấn đề gây
cản trở đến việc đổi mới phương pháp dạy học. Các bài thi và kiểm tra hiện nay chủ
yếu vẫn là kiểm tra sự ghi nhớ và vận dụng lí thuyết của HS. "Thi gì, học nấy" luôn là
tiêu chí lựa chọn của đại đa số mọi người trên thế giới. Chính vì vậy mà các phương
pháp dạy học tích cực nói chung và PPDH BTNB nói riêng chưa có được "chỗ đứng"
vững chắc trong mỗi GV, HS và trong cả nền giáo dục Việt nam khi mà công tác kiểm
tra, đánh giá, thi cử chưa đổi mới theo hướng đánh giá kĩ năng và sự sáng tạo của HS.
- Về chương trình học:
Việc sắp xếp các tiết dạy trong tuần khó để GV và HS thực hiện bài dạy học theo
các bước của PPDH này.
- Về tài liệu:
Khó có thể tìm được các loại sách nói về PPDH BTNB. Trong thư viện chưa có
các loại sách tham khảo, các loại sách hưỡng dẫn về PPDH BTNB dành cho GV.
1.2.2.3. Nhận thức của GV về vai trò, đặc trưng, ý nghĩa khi sử dụng PPDH
BTNB ở tiểu học
Qua phiếu điều tra và tổng hợp các tài liệu liên quan, có thể rút ra các kết quả sau:
- Về vai trò: Nhận xét qua phiếu điều tra:
Bảng 1.5. Đánh giá của GV về vai trò của PPDH BTNB
STT
1
2
3
4

Mức độ
Rất quan trọng
Quan trọng
Không quan trọng
Không có ý kiến gì

Đồng ý
Là PPDH phát huy tính chủ động,
tự lực trong học tập của HS.
Kích thích động cơ, hứng thú học
tập của HS.
Phát triển năng lực tự đánh giá.
Giúp HS tiếp cận dần với các khái
niệm khoa học và kĩ thuật thực
hành, kèm theo sự vững vàng
trong diễn đạt nói và viết.
Đặt người học vào vị trí của một
nhà nghiên cứu khoa học
Rèn luyện năng lực cộng tác
trong học tập của HS.
Phát triển khả năng sáng tạo của
HS.

Đồng ý 1 phần

Không đồng
ý

SL

%

SL

%


41

50

50

9

9

88

88

12

12

0

0

99

99

1

1


học vào vị trí của một nhà nghiên cứu khoa học và nó phát triển khả năng sáng tạo của
HS; 88% đồng ý PPDH BTNB giúp HS tiếp cận dần với các khái niệm khoa học và kĩ
thuật thực hành, kèm theo sự vững vàng trong diễn đạt nói và viết; 100% GV cho rằng
phương pháp rèn luyện năng lực cộng tác trong học tập của HS; có 78% GV nhận thấy
PPDH BTNB kích thích động cơ, hứng thú học tập của HS và 41% đồng ý PPDH
BTNB phát triển năng lực tự đánh giá ở HS. Ta có thể nhận thấy đa số GV đều hiểu rõ
về bản chất của PPDH BTNB. Như vậy ở đây đã có sự mâu thẫn giữa nhận thức với
việc vận dụng phương pháp này của GV trong dạy Tự Nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3.
Nhận xét qua phỏng vấn:
Trên thực tế, thông qua phỏng vấn, trò chuyện trực tiếp với GV, người nghiên
cứu nhận thấy phần lớn GV chưa hiểu biết sâu sắc về PPDH BTNB. Họ chỉ hiểu đơn
giản đây là một phương pháp cho HS được thực hành nhiều GV chưa hiểu đây là
PPDH tạo điều kiện cho HS tiếp cận dần với các khái niệm khoa học, kĩ thuật thực


24

hành kèm theo sự vững vàng trong diễn đạt nói và viết và nó đặt người học vào vị trí
của một nhà nghiên cứu khoa học thực thụ.
- Về ý nghĩa:
Nhận xét qua nghiên cứu tài liệu và phỏng vấn GV:
Phần lớn GV đều hiểu được ý nghĩa quan trọng của việc vận dụng PPDH BTNB
trong dạy học Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học góp phần nâng cao chất lượng dạy và học,
thay đổi tư duy, nhận thức của HS. Giúp HS phát huy tính tích cực chủ động HS là
người tự tìm ra tri thức dưới sự hướng dẫn của GV.
1.2.2.4. Nhận thức của GV về sự cần thiết khi sử dụng PPDH BTNB ở tiểu học
Qua phiếu điều tra và tổng hợp các tài liệu liên quan có thể rút ra các kết quả sau:
Bảng 1.7. Đánh giá của GV về sự cần thiết của PPDH BTNB
STT
1

Qua phiếu điều tra và nghiên cứu các tài liệu liên quan đều cho thấy: Phần lớn
GV đều cho rằng việc áp dụng PPDH BTNB vào dạy học Tự nhiên và Xã hội là rất
cần thiết. Tuy nhiên, việc vận dụng vào thực tế giảng dạy còn gặp nhiều khó khăn, hạn
chế. Vấn đề khó khăn với nhiều GV là từ nội dung bài học GV phải tạo cho HS niềm
đam mê, hứng thú nghiên cứu khoa học không chỉ với các hoạt động trong bài học mà
còn trong cuộc sống của các em.
1.2.2.5. Mức độ sử dụng PPDH BTNB ở tiểu học
Qua phiếu điều tra và tổng hợp các tài liệu liên quan có thể rút ra các kết quả sau:
Bảng 1.8: Mức độ sử dụng các PPDH trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội
STT

Tên phương
pháp

Mức độ


25

Thường xuyên
SL
%

Thỉnh thoảng
SL
%

Hiếm khi
SL
%

Trò chơi
Nêu vấn đề
Động não
Bàn tay nặn bột

93
80
60
40
70
50
11
0

93
80
60
40
70
50
11
0

7
20
23
51
27
38
76

Qua bảng trên chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, PPDH được sử dụng thường
xuyên nhất ở tiểu học là phương pháp thuyết trình (93%), đàm thoại (91%) và quan sát
(80%). Sau thuyết trình, đàm thoại và quan sát, trò chơi (70%) và thảo luận nhóm
(60%) cũng được nhiều GV lựa chọn. Xếp theo thứ tự giảm dần về mức độ sử dụng thì
tiếp theo là đến các phương pháp: nêu vấn đề (50%), thí nghiệm (40%). Cuối cùng là
nhóm các PPDH động não (11%) và PPDH BTNB (8% thỉnh thoảng sử dụng).
Một số PPDH hiện nay được xem là các PPDH hiệu quả nhằm phát huy tính tích
cực học tập của HS như PPDH BTNB, động não song mức độ vận dụng còn rất hạn chế.
Nhận xét qua quan sát dự giờ và phỏng vấn GV:
Qua quan sát và dự giờ một số tiết dạy của GV và phỏng vấn GV sau tiết dạy,
người nghiên cứu nhận thấy hầu hết GV có nghiên cứu và sử dụng PPDH BTNB trong
dạy học Tự nhiên và xã hội. Tuy nhiên, việc vận dụng từng PPDH BTNB chưa linh
hoạt, còn dập khuôn, dẫn đến hiệu quả chưa cao.
Nhận xét qua nghiên cứu tài liệu:
Nghiên cứu giáo án giảng dạy cho thấy việc xác định mục tiêu, nội dung, các
phương pháp dạy học thường phụ thuộc vào hướng dẫn trong SGK, SGV và sách thiết
kế môn học.
Tổng hợp các báo cáo về PPDH BTNB ở tiểu học cho thấy PPDH BTNB không
được GV sử dụng thường xuyên mà rất ít, việc sử dụng PPDH BTNB trong môn Tự
nhiên và Xã hội chỉ được GV áp dụng trong các tiết dạy chuyên đề của tổ chuyên môn
hay tiết dạy có người dự giờ.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status