Hoàn thiện pháp luật đảm bảo dân chủ trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở việt nam hiện nay - Pdf 35

LUẬN VĂN:

Hoàn thiện pháp luật đảm bảo dân chủ
trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà
nước ở Việt Nam hiện nay


mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định
dân chủ là bản chất, là mục tiêu và là động lực của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn cách
mạng nước ta qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã
chứng minh rằng: Thực hiện và mở rộng dân chủ, tập hợp được sức mạnh vật chất và tinh
thần của nhân dân là yếu tố quyết định để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mục tiêu chiến
lược của đất nước. Trong thời kỳ đổi mới, đất nước ta đứng trước những thời cơ và thách
thức của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế là
nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cũng hết sức khó khăn đặt ra đối với Đảng, Nhà nước và
nhân dân ta. Cũng như bất kỳ một quốc gia nào khác, để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ,
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi chúng ta phải có một hệ thống doanh nghiệp
năng động, làm ăn có hiệu quả, có sức cạnh tranh cao và phát triển bền vững. ở nước ta, hệ
thống doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã thực sự đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế,
là nguồn lực quan trọng phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
(CNXH), là công cụ quan trọng để nhà nước điều tiết vĩ mô, định hướng xã hội chủ nghĩa
(XHCN) nền kinh tế. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, DNNN đã bộc lộ những điểm
yếu khá rõ ràng, đó là sự kém năng động trong sản xuất kinh doanh, năng lực cạnh tranh
yếu, hiệu quả kinh doanh thấp. Nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, không có lãi hoặc lãi ở
mức độ không đáng kể vẫn đang tồn tại bởi cơ chế quản lý, cơ chế ưu đãi, bảo hộ, đang
thực sự trở thành rào cản kìm hãm sức mạnh nội lực của nền kinh tế. Chính vì vậy, sắp xếp,
đổi mới để phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN là một yêu cầu khách quan,
một nhiệm vụ bức thiết của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta hiện nay.

ứng yêu cầu dân chủ hóa trong lĩnh vực kinh tế, nâng cao chất lượng và hiệu quả CPH
DNNN ở nước ta hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cổ phần hóa DNNN là một đề tài được nhiều nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều
khía cạnh khác nhau. Dưới góc độ pháp lý có nhiều công trình nghiên cứu về CPH DNNN,
tiêu biểu như:


- PGS.TS Lê Hồng Hạnh: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - những vấn đề lý
luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004. Đây là công trình có nội dung đề
cập tương đối toàn diện những khía cạnh pháp lý về CPH DNNN, đánh giá thực trạng pháp
luật về CPH DNNN, đưa ra những kiến nghị có tính chất bao quát cao, góp phần hoàn thiện
chính sách và pháp luật về CPH DNNN.
- Nguyễn Thị Vân Anh: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - cơ sở lý luận và
thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1997.
- Phan Vũ Anh: Hoàn thiện khung pháp luật về cổ phần hóa tổng công ty nhà nước
ở Việt Nam, Luật văn thạc sĩ luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.
- Hoàng Thị Quỳnh Chi: Cơ sở pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở
nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1997.
- Võ Thị Thùy Dương: Cổ phần hóa hình thức chủ đạo trong việc sắp xếp lại
doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Luật
Hà Nội, 2003.
- Trần Hồng Điệp: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam - Lý luận và
thực tiễn, Luật văn thạc sĩ luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004.
- Hàn Mạch Thắng: Những vấn đề pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
(qua thực tiễn cổ phần hóa DNNN trong quân đội), Luật văn thạc sĩ luật, Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2004.
- Lê Văn Tâm: Cổ phần hóa và quản trị doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004...
Ngoài ra, còn rất nhiều công trình, bài viết về đề tài CPH DNNN khác như: Cổ phần

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về dân chủ và kinh tế
trong giai đoạn hiện nay.


Trong quá trình nghiên cứu, viết luận văn, tác giả sử dụng tổng hợp các phương
pháp: Phân tích, tổng hợp; quy nạp, diễn giải; lịch sử cụ thể, thống kê, so sánh...
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn làm rõ nội dung dân chủ trong CPH DNNN, đưa ra khái niệm và
tiêu chí hoàn thiện pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN.
- Phân tích, đánh giá một cách hệ thống, toàn diện các quy định của pháp luật đảm
bảo dân chủ trong CPH DNNN, làm rõ thực trạng hạn chế, tồn tại.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp pháp lý cụ thể nhằm hoàn thiện pháp
luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN ở nước ta hiện nay.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về dân chủ trong CPH
DNNN, về pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN.
- Các kiến nghị, giải pháp đưa ra trong luận văn có thể dùng làm tài liệu tham
khảo cho việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về CPH DNNN.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương, 9 tiết.


Chương 1
cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật đảm bảo dân chủ trong cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước

1.1. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và dân chủ trong cổ phần hóa doanh

kiểm soát của Nhà nước đối với doanh nghiệp là tuyệt đối, điểm tiến bộ quan trọng ở đây
là sự dỡ bỏ yếu tố kế hoạch áp đặt của Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Đó là sự dỡ bỏ cơ bản những trói buộc của cơ chế kinh tế kế hoạch tập
trung đối với DNNN, tạo cho DNNN quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh theo cơ
chế thị trường. Tuy nhiên, trong thực tiễn vận dụng, Luật DNNN 1995 nói chung và khái
niệm DNNN nêu trên chưa thực sự bao quát được sự đa dạng phong phú về hình thức
pháp lý, chưa đáp ứng được các yêu cầu liên doanh, liên kết của DNNN trong điều kiện
phát triển nền kinh tế thị trường với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Luật DNNN 2003
được ban hành thay thế Luật DNNN 1995 là kết quả tất yếu của những yêu cầu đòi hỏi
khách quan đó.
Theo quy định tại Điều 1 Luật DNNN 2003: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức
kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối được
tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
Như vậy, tiêu chí quyền sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp đã được xem xét
linh hoạt trong mối quan hệ với tiêu chí quyền kiểm soát doanh nghiệp của Nhà nước,
theo quy định tại Điều 3, tỷ lệ này là từ 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp trở lên. Tuy
vẫn còn những quan điểm cho rằng có sự bất hợp lý trong khái niệm DNNN của pháp
luật hiện hành, nhưng nhìn chung khái niệm DNNN của chúng ta có nội dung cơ bản
tương đồng với quan niệm DNNN của nhiều quốc gia và các tổ chức kinh tế quốc tế. Quy
định đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đa dạng các loại hình DNNN, cho
công tác quản lý đối với DNNN và phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, DNNN đã và đang thể hiện vai trò quan
trọng ở các nội dung như sau:
Thứ nhất, DNNN đang nắm giữ những ngành, những lĩnh vực then chốt có tính
huyết mạch đối với sự phát triển của nền kinh tế như tài chính tiền tệ, bưu chính viễn


thông, năng lượng, dầu khí, công nghiệp quốc phòng, công nghiệp khai khoáng... Hiệu
quả hoạt động của DNNN có ý nghĩa quyết định đối với việc ổn định và phát triển kinh tế
của đất nước, trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác, sử dụng các nguồn lực về tài

Vốn bình quân của một doanh nghiệp chỉ có 45 tỷ đồng, trong đó vốn
lưu động chưa đầy 10 tỷ nhưng phần lớn lại tập trung vào các tổng công ty lớn
như dầu khí, xi măng, xăng dầu, hàng không, hàng hải, đường sắt, điện lực. Vì
vậy còn tới 47% doanh nghiệp nhà nước có vốn dưới 5 tỷ đồng (VNĐ) trên
một doanh nghiệp... [41, tr. 820].
Với nguồn lực về vốn như nêu trên, các doanh nghiệp không đủ khả năng để thực
hiện đổi mới công nghệ sản xuất - một yếu tố có tính chất quyết định đến vấn đề nâng cao
năng suất lao động, đa dạng hóa sản phẩm.
Hai là, về khoa học - công nghệ.
Hơn 50% số tài sản cố định của các doanh nghiệp nhà nước đã sử
dụng trên 20 năm... Nhiều doanh nghiệp nhà nước còn sử dụng công nghệ sản
xuất cũ từ những năm 1960 - 1970. Số mua sắm sau năm 1990 chỉ chiếm 10%,
chỉ có 3% số dây chuyền sản xuất được hiện đại hóa, còn lại là ở trình độ thủ
công và trình độ cơ khí, hiện tại có 38% tải sản cố định chờ thanh lý [35, tr.
107].
Theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên viên cao cấp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
có đến 47% trong tổng số hơn 160.000 doanh nghiệp đang hoạt động ở Việt Nam không
quan tâm đến đổi mới công nghệ, không hề có chiến lược dài hạn, không phân tích thị
trường, không hề biết đối thủ cạnh tranh (theo Báo Đầu tư, ngày 5, 7/1/2005). Đây là một
trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng giá thành sản phẩm của DNNN thường
cao hơn giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, tỷ suất
lợi nhuận trên vốn của DNNN là rất thấp, hạn chế khả năng tích lũy cho việc tái đầu tư.
Ba là, về vấn đề quản trị doanh nghiệp.
Theo Giáo sư Nguyễn Văn Thường:


Chúng ta vẫn còn lúng túng trong việc xác định loại hình pháp lý phù
hợp để "chứa đựng" doanh nghiệp 100% sở hữu nhà nước bởi quản trị doanh
nghiệp 100% vốn nhà nước không được thiết kế trên những nguyên tắc và
thông lệ đã được quốc tế thừa nhận. Vừa thiếu giám sát đối với người quản lý,

được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Phần vốn góp của một cổ phần tương ứng với một lượng đơn vị tiền tệ nhất định - được gọi là mệnh giá cổ phần. Trong
luận án tiến sĩ luật học về đề tài "Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với công ty cổ
phần ở Việt Nam", tác giả Nguyễn Thanh Bình đã nêu khái niệm công ty cổ phần như
sau:
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp thuộc công ty đối vốn. Vốn
của công ty cổ phần được chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và
được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu. Việc góp vốn vào công ty được thực
hiện bằng cách mua cổ phiếu. Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản
nợ của công ty trong phạm vi giá trị cổ phiếu mà họ sở hữu. Công ty cổ phần
có tư cách pháp nhân độc lập, mang tính tổ chức cao, có cấu trúc vốn phức tạp.
Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chứng để huy động
vốn [5, tr. 13-14].
So sánh với các loại hình doanh nghiệp khác như công ty hợp doanh, công ty
trách nhiệm hữu hạn... công ty cổ phần có những ưu điểm có tính vượt trội đó là:
Thứ nhất, công ty cổ phần có khả năng huy động vốn, điều chỉnh cơ cấu vốn - tài
chính linh hoạt có được từ quyền phát hành chứng khoán huy động vốn của công ty và
quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông. Đây là ưu điểm cho phép công ty
cổ phần có thể huy động vốn ở một phạm vi chủ thể đầu tư rộng lớn và đa dạng, có thể
huy động vốn từ những nguồn nhỏ lẻ, thậm chí chỉ bằng mệnh giá cổ phần - rất phù hợp và
thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong các nền kinh tế có nhiều nguồn lực nhỏ lẻ
phân tán như ở nước ta. Ưu điểm này cũng cho phép các công ty cổ phần có thể điều
chỉnh cơ cấu vốn, cơ cấu sở hữu vốn giữa các cổ đông một cách linh hoạt theo cơ chế thị
trường mà không gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của công ty.


Thứ hai, công ty cổ phần có nguyên tắc tổ chức và hoạt động nội tại theo cơ chế
của "nền dân chủ cổ phần". Quyền biểu quyết, lợi ích vật chất và trách nhiệm của cổ
đông được qui định bởi số cổ phần mà cổ đông đó sở hữu theo nguyên tắc mỗi cổ phần
cùng loại có quyền biểu quyết, được hưởng lợi tức cũng như chịu trách nhiệm rủi ro như
nhau đối với các vấn đề về tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần. Việc quyết định

DNNN và đặc biệt là để khắc phục trạng thái "vô chủ" của DNNN. Quá trình này được
thực hiện bằng biện pháp DNNN phát hành cổ phần ra công chúng, bán một tỷ lệ nhất
định vốn Nhà nước tại DNNN cho các chủ đầu tư khác, đồng thời DNNN đó được đăng ký
thành lập và hoạt động dưới hình thức pháp lý mới đó là công ty cổ phần, toàn bộ quá trình
đó được gọi là cổ phần DNNN.
Như vậy, CPH DNNN là giải pháp đổi mới DNNN được thực hiện bằng hình
thức DNNN phát hành cổ phần để bán một tỷ lệ vốn nhà nước tại DNNN cho các chủ đầu
tư, nhằm chuyển đổi DNNN từ doanh nghiệp một chủ sở hữu (sở hữu nhà nước) thành
doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần.
ở nước ta, cải cách DNNN luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, trở thành một
nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Trải qua hơn 15 năm thực hiện,
cơ sở pháp lý cho hoạt động CPH luôn được nghiên cứu, điều chỉnh và ngày càng được
hoàn thiện. Sau khi Luật DNNN 2003 được ban hành qui định hình thức duy nhất của
DNNN là các loại hình công ty bao gồm: Công ty nhà nước; công ty cổ phần; công ty trách
nhiệm hữu hạn. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về
việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần (thay thế Nghị định số 64/2002/NĐCP ngày 19/6/2002 về việc chuyển DNNN thành công ty cổ phần), đây là văn bản pháp
luật qui định cụ thể trình tự thủ tục về CPH DNNN có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ
thống các văn bản pháp luật về CPH DNNN ở nước ta hiện nay.
Theo qui định tại Điều 1 Nghị định 187/2004/NĐ-CP: CPH DNNN là việc
chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần.
- Đối tượng CPH là các DNNN không thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ 100%
vốn.
- Mục tiêu của việc CPH DNNN bao gồm:


+ Chuyển DNNN sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu.
+ Huy động vốn của cá nhân tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nước
để tăng năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý, nhằm nâng
cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
- Nguyên tắc thực hiện CPH.

xây dựng các chương trình kế hoạch CPH DNNN.
- Tổ chức thực hiện các chương trình kế hoạch CPH DNNN, các qui định của
pháp luật về CPH đã được ban hành.
- Kiểm tra, giám sát đối với hoạt động chấp hành pháp luật của các chủ thể tham gia
quá trình CPH và xử lý các vi phạm pháp luật về CPH DNNN.
Thứ hai, CPH DNNN là hoạt động định đoạt tài sản thuộc sở hữu toàn dân.
Theo qui định tại Điều 17 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001) "vốn,
tài sản do Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp là tài sản thuộc sở hữu toàn dân". Chính
phủ thực hiện chức năng chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước
theo qui định của luật tổ chức Chính phủ. Trong quá trình CPH DNNN, dù thực hiện theo
hình thức bán một phần vốn nhà nước hay giữ nguyên vốn nhà nước phát hành cổ phiếu
để thu hút vốn đầu tư, DNNN CPH đều phải phát hành cổ phiếu, bán cổ phần cho các chủ sở
hữu khác, thông qua các giao dịch này tỷ trọng vốn thuộc sở hữu nhà nước trong tổng số
vốn và tài sản hiện có tại DNNN CPH giảm xuống, đồng thời xác lập quyền sở hữu đối
với một tỷ lệ nhất định tiền vốn tài sản hiện có tại doanh nghiệp CPH cho người mua cổ
phần, tương ứng với số cổ phần đã mua được.
Như vậy trong quá trình CPH DNNN, tài sản thuộc sở hữu toàn dân tồn tại dưới
hình thức vốn, tài sản do DNNN quản lý được định đoạt bằng hình thức bán cổ phần do
doanh nghiệp phát hành ra công chúng.
Thứ ba, CPH DNNN là hoạt động tham gia đầu tư của các chủ thể có vốn đầu tư.


Đây là hoạt động của các chủ sở hữu đầu tư tiền vốn vào doanh nghiệp bằng hình
thức mua cổ phần của doanh nghiệp, người đầu tư vốn mua cổ phần trở thành chủ sở hữu
có quyền sở hữu chung cùng với các chủ sở hữu khác đối với doanh nghiệp CPH - sau
này là công ty cổ phần.
1.1.2. Vấn đề dân chủ trong thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
1.1.2.1. Khái quát về dân chủ
Dân chủ là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm, cùng với sự tồn tại và

ý chí của nhân dân ở đây không thể là gì khác hơn là nội dung có được từ sự thống
nhất nội dung ý chí của các cá thể nhân dân chiếm đa số hoặc tuyệt đại bộ phận nhân dân
trong xã hội, ý chí đó được hình thành trong các lĩnh vực, các phạm vi của đời sống xã
hội với ý nghĩa là mong muốn, nguyện vọng của nhân dân để giải quyết các vấn đề thực
tiễn. ý chí của nhân dân với ý nghĩa là một bộ phận của phạm trù ý thức luôn được quy
định bởi các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể trong một xã hội cụ thể.
Trong mỗi chế độ xã hội đã và đang tồn tại, sự thống nhất hay đối lập về ý chí
giữa các cá nhân, các nhóm, các tầng lớp, các giai cấp, giữa ý chí của một bộ phận thiểu
số nhân dân với ý chí của đa số nhân dân trong xã hội là một thực tế khách quan. Sự đối
lập về ý chí đó và quá trình hiện thực hóa các ý chí đối lập là nguyên nhân nội tại duy
nhất dẫn đến những rối loạn trật tự xã hội. Là quyền lực của nhân dân, quyền lực trong
nội dung dân chủ phải là công cụ hiện thực hóa ý chí của nhân dân, là công cụ đàn áp ý
chí của các cá nhân, các nhóm thiểu số là bộ phận trong nhân dân (với ý nghĩa là cái duy
nhất đối lập với ý chí của nhân dân)
Như vậy, quyền lực của nhân dân ở đây không phải là quyền lực tự nhiên hay bất
kỳ một loại hình quyền lực nào khác tách rời khỏi yếu tố nhân dân, quyền lực đó phải bao
trùm toàn bộ xã hội với ý nghĩa là giới hạn thực tế của khái niệm nhân dân cụ thể. Quyền
lực đó phải bao quát được mọi mặt, mọi lĩnh vực, mọi phạm vi của đời sống xã hội mà ở
đó có sự xuất hiện, sự đòi hỏi, một nội dung, một mục tiêu nào đó theo ý chí của nhân
dân; quyền lực đó được sử dụng để trực tiếp duy trì trật tự xã hội, quyền lực đó là quyền


lực công (quyền lực xã hội) trong xã hội chưa có nhà nước, là quyền lực nhà nước trong
xã hội có nhà nước.
Trong quan điểm của các nhà sáng lập của chủ nghĩa Mác - Lênin, quyền lực nhà
nước, ý chí của nhân dân được xem xét, được xác định là những yếu tố cấu thành cơ bản
của dân chủ, quan điểm đó được biểu hiện ở các nội dung sau:
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, theo quan điểm của C.Mác và
Ph.Ăngghen: Để trở thành giai cấp thống trị với ý nghĩa trực tiếp là giành lấy dân chủ,
"giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên trở

quyền lực nhà nước, các nguyên tắc dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước như cơ chế bầu cử, cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước,
nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, nguyên tắc công khai
minh bạch...
- Một nội dung dân chủ về vấn đề nhà nước có ý nghĩa thực tiễn hết sức quan
trọng đó là: nội dung, phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước với tư
cách là đại diện thực thi quyền lực của nhân dân và đại diện ủy quyền của nhân dân tham
gia vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, đối ngoại,... xuất phát từ đặc điểm đa
dạng luôn chuyển biến, thay đổi, phát sinh của các vấn đề thực tiễn, nội dung dân chủ ở
đây thường thể hiện dưới dạng cơ chế thực hiện, cơ chế kiểm tra giám sát; giới hạn nội
dung, phạm vi quyền hạn, trách nhiệm và xác lập các mục tiêu tổng thể đối với các cơ
quan, tổ chức nhà nước thừa hành. Như vậy yêu cầu của dân chủ ở đây là các chính sách,
giải pháp, quyết định được ban hành cần có sự tham gia ý kiến của nhân dân, phải tính
đến lợi ích của nhân dân. Mọi chính sách giải pháp có nội dung chưa phù hợp, hoặc tạo
sơ hở nhằm đem lại lợi ích cục bộ cho ngành, cho địa phương, cho một nhóm cá nhân,
gây thiệt hại đến lợi ích của nhân dân, đều là những chính sách, giải pháp vi phạm dân
chủ.
Thứ hai, nội dung dân chủ đối với công dân.
Cần phải khẳng định rằng, công dân với ý nghĩa là những nhân tố hiện thực của
chủ thể trừu tượng là nhân dân, là trung tâm của vấn đề dân chủ. Đem lại lợi ích tốt nhất
cho mọi công dân, đem lại điều kiện sống hoạt động và phát triển tốt nhất cho mọi công
dân là mục tiêu của dân chủ, đồng thời khi mỗi công dân có được những điều kiện sống,


hoạt động và phát triển tốt nhất, sẽ tạo ra động lực to lớn của dân chủ cho sự phát triển
của xã hội.
Nội dung dân chủ đối với công dân là toàn bộ nội dung ý chí của nhân dân về
việc xác lập địa vị chủ thể của mỗi người dân trong xã hội, nhằm tạo cho mỗi người dân
vị thế của người làm chủ xã hội, làm chủ đất nước.
Thực hiện dân chủ ở nội dung này đòi hỏi Nhà nước bằng pháp luật thể chế hóa

doanh.
- Quyền dân chủ trong lĩnh vực văn hóa xã hội.
Đó là các quyền cho phép nhân dân được tham gia vào các lĩnh vực văn hóa - xã
hội như: quyền học tập, quyền sáng tác văn học, nghệ thuật; quyền thưởng thức, phổ biến
các giá trị văn hóa, quyền tham gia các hoạt động từ thiện xã hội, cứu trợ xã hội, quyền
được đảm bảo các điều kiện vật chất, thu nhập thiết yếu cho cuộc sống, quyền được
hưởng lợi ích vật chất từ các nguồn phúc lợi xã hội...
Thứ ba, nội dung dân chủ đối với các chủ thể khác.
Ngoài hai chủ thể cơ bản trong xã hội và là Nhà nước và công dân, các chủ thể
còn lại chủ yếu là chủ thể phái sinh từ hai chủ thể trên. Đó là các pháp nhân, các tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các hội,
hiệp hội... do Nhà nước thành lập hoặc thừa nhận hoặc do công dân tổ chức nên.
Nội dung dân chủ chỉ đặt ra với các tổ chức này khi hoạt động của nó ảnh hưởng
đáng kể đến quyền làm chủ của nhân dân, ảnh hưởng đến lợi ích của nhân dân và trật tự
của đời sống xã hội như: các doanh nghiệp; tổ chức công đoàn; các pháp nhân sự
nghiệp... Nội dung dân chủ ở đây là các quyền và nghĩa vụ trong tổ chức và hoạt động
của các chủ thể này do pháp luật qui định trên cơ sở ý chí của nhân dân, nhằm đảm bảo
cho hoạt động của các chủ thể này đem lại lợi ích cho nhân dân, hoặc không xâm phạm
các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các chủ thể khác.
1.1.2.2. Nội dung và yêu cầu dân chủ trong cổ phần hóa DNNN
Trong mỗi một lĩnh vực, một phạm vi cụ thể của đời sống xã hội đều có những
nội dung dân chủ và những yêu cầu dân chủ cụ thể, nội dung dân chủ ở đó bao gồm
những nội dung ý chí của nhân dân đã được Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật, thành


các chính sách, biện pháp cụ thể để giải quyết các vấn đề thực tiễn, để điều chỉnh hoạt
động của các chủ thể tham gia vào các lĩnh vực các phạm vi hoạt động đó, nội dung dân
chủ ở đó còn là các nội dung ý chí nhân dân mới hình thành, nhằm định hướng, chỉ đạo
hoạt động của các chủ thể đó theo những cách thức nhất định, để đạt được các mục tiêu
cụ thể. Như vậy trong mỗi một lĩnh vực hoạt động, yêu cầu dân chủ là việc Nhà nước

phải rõ ràng, cụ thể gắn quyền hạn với trách nhiệm và được đặt trong sự kiểm tra giám
sát có hiệu lực, hiệu quả, đảm bảo cho quá trình thực hiện CPH DNNN đạt được các mục
tiêu đã đề ra.
- Nội dung và yêu cầu dân chủ đối với việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu toàn
dân
Tiền vốn, tài sản Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp là tài sản thuộc sở hữu toàn
dân, đó là một nội dung dân chủ hết sức quan trọng, được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận và
bảo vệ. Yêu cầu dân chủ ở đây đòi hỏi các hoạt động xử lý tài chính, kiểm kê, phân loại tài
sản, xác định giá trị doanh nghiệp và bán cổ phần phải được thực hiện chính xác, khách
quan, công khai minh bạch theo các căn cứ và nguyên tắc của thị trường, phù hợp với các qui
định của pháp luật, tránh tình trạng tiền vốn tài sản của Nhà nước bị thất thoát, bị thao túng
giá bán, hoặc bị chiếm đoạt, nhằm đảm bảo quyền lợi của chủ sở hữu là nhân dân.
- Các nội dung và yêu cầu dân chủ đối với các nhà đầu tư
Nội dung dân chủ ở đây là quyền tự do kinh doanh, tự do tham gia đầu tư vốn mua
cổ phần, quyền được đối xử bình đẳng giữa các chủ đầu tư, quyền được tiếp nhận thông tin
về doanh nghiệp về bán cổ phần... của các nhà đầu tư tham gia mua cổ phần của doanh
nghiệp CPH, theo qui định của pháp luật.
Yêu cầu dân chủ ở nội dung này đòi hỏi các tiêu chí xác định nhà đầu tư chiến
lược, các quy định về quyền được mua cổ phần ưu đãi phải khách quan, công bằng và
bình đẳng. Các qui định về điều kiện, trình tự thủ tục mua cổ phần phải nhanh gọn hợp lý,
tránh gây phiền hà cản trở việc mua cổ phần của nhân dân. Nội dung công khai thông tin về
doanh nghiệp về bán cổ phần phải đầy đủ, chính xác và trung thực để các nhà đầu tư có đủ
cơ sở phân tích, lựa chọn, quyết việc mua cổ phần.
- Nội dung và yêu cầu dân chủ đối với người lao động
Đó là yêu cầu đảm bảo một cách tốt nhất vấn đề việc làm cho người lao động. Có
chính sách phù hợp giải quyết thỏa đáng quyền lợi của người lao động bị mất việc, thôi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status