TÓM LƯỢC
Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao
so với khu vực. Với mức độ tăng trưởng như hiện nay, nhu cầu vốn cho nền kinh tế là
hết sức lớn. Thị trường chứng khoán Việt Nam mới được hình thành và chưa thật sự
trở thành kênh cung cấp vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Thực tế cho thấy phần lớn các
doanh nghiệp Việt Nam năng lực tài chính còn yếu kém, hoạt động chủ yếu dựa trên
nguồn vốn vay ngân hàng. Do đó, tín dụng ngân hàng trong giai đoạn hiện nay là một
kênh cung cấp vốn quan trọng của nền kinh tế.
Trong quá trình cho vay, các Ngân hàng thương mại phải có trách nhiệm với
khoản tiền cho vay, đảm bảo thu hồi được cả vốn và lãi nên việc áp dụng các biện
pháp bảo đảm là tất yếu tại các ngân hàng. Đối với hoạt động tín dụng, tài sản bảo đảm
được xem như “phao cứu sinh” nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, đảm bảo ngân
hàng có thể thu hồi một phần hoặc toàn bộ gốc và lãi khi khách hàng không trả được
nợ.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Đông đã qua hơn 19 năm hoạt động và
phát triển, cũng đã dần khẳng định được vị thế và uy tín trên thị trường tài chính tiền tệ
Việt Nam với nhiều thành tựu vượt bậc.Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động vẫn có
không ít những vướng mắc và khó khăn. Khi đến thực tập tại phòng giao dịch Đông
Đô, bên cạnh những thành công đã đạt được nhiều năm qua thì việc xử lý tài sản bảo
đảm để thu hồi nợ gặp nhiều vướng mắc và cán bộ tín dụng không khỏi lúng túng
trong quá trình thu hồi, hoàn thiện hợp đồng bảo đảm cũng như xử lý tài sản bảo đảm.
Do đó, việc xây dựng khung pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, rõ ràng và đảm bảo khả
năng “cưỡng chế” thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng rất cần thiết. Bởi vậy, em đã
chọn đề tài: " Pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm trong ngân hàng – Thực tiễn thực
hiện tại Ngân hàng TMCP Phương Đông, Phòng giao dịch đặc thù Đông Đô " để
làm đề tài nghiên cứu của mình.
1
1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
4
NHTM
Ngân hàng thương mại
TMCP
Thương mại cổ phần
PGD
Phòng giao dịch
TSBĐ
Tài sản bảo đảm
VAMC
Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
BLDS
Bộ luật dân sự
TCTD
đảm bằng tài sản đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân
Đội” (bảo vệ năm 2011); Đề tài :“Bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng”, Luận văn Thạc sỹ tác giả
Lương Minh Trí, bảo vệ tại Đại học Đà nẵng năm 2011. Luận văn thạc sỹ luật học của
tác giả Trương Thị Kim Dung với đề tài “Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng
tín dụng Ngân hàng” (bảo vệ năm 1996). Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Trần
Thị Thu Thủy với đề tài “Chế định bảo đảm hợp đồng tín dụng ngân hàng – Thực
trạng và giải pháp” (bảo vệ năm 1998).
Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu mới dừng lại ở việc đánh giá, tổng kết
thực tiễn chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống các cơ sở lý luận về
bảo đảm tiền vay. Mặt khác, những công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ tập trung
làm rõ vấn đề về cho vay có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng cá nhân, đa số
5
các đề tài tập trung nghiên cứu về những khía cạnh pháp lý của vấn đề bảo đảm tiền
vay. Tuy nhiên, trong thực tế cho vay có thể có bảo đảm bằng tài sản hoặc không có
tài sản bảo đảm bằng tài sản; khách hàng vay có thể là khách hàng cá nhân hoặc khách
hàng doanh nghiệp... Một số vấn đề các đề tài trước chưa tập trung nghiên đó là:
Những các tiêu chí đánh giá kết quả hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay, xác định
những nhóm nhân tố ảnh hưởng đến công tác bảo đảm tiền vay…Hơn nữa, hầu hết các
công trình nghiên cứu đã được thực hiện khá lâu, đến nay bối cảnh kinh tế - xã hội đã
có những thay đổi nhất định, nhất là kể từ khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO) và trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, tác
động không ít đến khu vực tài chính - ngân hàng của Việt Nam.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu.
Với những kiến thức đã được học tại trường Đại học Thương mại, đồng thời qua
thời gian tham gia thực tập và tìm hiểu tại Phòng giao dịch Đông Đô – Ngân hàng
TMCP Phương Đông, em nhận thấy phòng giao dịch đã đạt được nhiều thành tựu, tuy
nhiên hoạt động xử lý tài sản bảo đảm còn một số hạn chế, cần phải có những giải
Phương pháp nghiên cứu cụ thể : Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng
tổng hợp các phương pháp phân tích diễn giải, thống kê mô tả, phương pháp tổng hợp,
phương pháp so sánh, tư duy logic, phân tích hệ thống, …, kết hợp giữa lý luận với
thực tiển để giải quyết các vấn đề liên quan của luận văn.
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp.
Ngoài Lời nói đầu, lời cám ơn, mục lục, danh mục từ viết tắt,…thì nội dung Luận
văn được chia làm 3 chương :
Chương 1 : Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh xử lý tài sản bảo đảm
trong ngân hàng.
Chương 2 : Thực trạng pháp luật điều chỉnh về xử lý tài sản bảo đảm trong ngân
hàng và thực tiễn thực hiện tại Ngân hàng TMCP Phương Đông, Phòng giao dịch đặc
thù Đông Đô.
Chương 3 :Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật xử lý tài sản bảo đảm trong
ngân hàng.
7
CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH XỬ LÝ
TÀI SẢN BẢO ĐẢM TRONG NGÂN HÀNG
1.1.
Một số khái niệm cơ bản liên quan đến pháp luật điều chỉnh về xử lý tài sản bảo
đảm trong ngân hàng.
1.1.1. Khái niệm về giao dịch bảo đảm.
Giao dịch bảo đảm là một thiết chế ra đời khá sớm ở nhiều quốc gia có hệ thống
pháp luật phát triển trên thế giới. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy
thiết chế này được xây dựng đã tạo ra một hành lang pháp lý an toàn cho hoạt động tín
dụng nói chung và sự phát triển của nền kinh tế nói riêng; góp phần không nhỏ vào sự
ổn định của các quan hệ dân sự, kinh tế, tránh các tranh chấp phát sinh từ việc không
nghĩa, tác dụng nhất định. Do đó, các hình thức cho vay của tổ chức tín dụng được
phân loại :
Căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng có thể
được phân chia thành hai loại :
Cho vay ngắn hạn : Là hình thức cho vay trong thời hạn sử dụng vốn vay do các
bên thỏa thuận là đến một năm. Hình thức cho vay này nhằm tài trợ cho tài sản lưu
động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất.
Cho vay trung và dài hạn : Là hình thức cho vay trong đó thời hạn sử dụng vốn
vay do các bên thỏa thuận là từ trên một năm trở lên. Hình thức cho vay này thường
được sử dụng để thỏa mãn nhu cầu mua sắm tài sản cố định của khách hàng trong kinh
doanh hoặc thỏa mãn nhu cầu như : sinh hoạt, tiêu dùng, mua sắm nhà ở, phương tiện
đi lại,…
Căn cứ vào tính chất có bảo đảm của khoản vay, hoạt động cho vay của tổ chức
tín dụng có thể phân chia thành hai loại :
Cho vay có bảo đảm bằng tài sản : Đây là những khoản cho vay mà bên cạnh
việc cho khách hàng vay vốn, Ngân hàng còn nắm giữ tài sản của người vay với mục
đích xử lý tài sản đó để thu hồi vốn vay khi người đi vay vi phạm hợp đồng tín dụng.
Quá trình cung ứng vốn của Ngân hàng thương mại, không kể dưới hình thức nào đều
làm tăng khối lượng tiền vào nền kinh tế, làm tăng khối lượng hàng hoá trên thị
trường. Ngoài ra khi thực hiện việc cho vay Ngân hàng không trực tiếp quản lý nguồn
vốn của mình vì thế có rất nhiều rủi ro xảy ra, nguy cơ không thu hồi đủ vốn vay là rất
cao vì thế các Ngân hàng khi cho vay thường yêu cầu người vay phải có tài sản bảo
đảm cho khoản vay.
Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản : Là khoản cho vay mà Ngân hàng
không nắm giữ tài sản của người đi vay để xử lý nhằm thu hồi nợ mà thay vào đó là
điều kiện ràng buộc khác khi ký hợp đồng tín dụng. Những điều kiện này có thể là:
người đi vay không được giao dịch với Ngân hàng nào khác, hoạt động kinh doanh của
người đi vay phải được Ngân hàng quản lý. Có như vậy Ngân hàng mới quản lý được
tình hình tài chính của người đi vay.
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng với
vay và khách hàng cùng thoả thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được
chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ trong thời hạn cho vay.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng : Khi cho vay theo phương này thì
ngân hàng cho vay và khách hàng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng: hạn mức tín
dụng dự phòng thời hạn hiệu lực của tín dụng dự phòng: ngân hàng cho vay cam kết
đáp ứng nguồn vốn cho khách hàng bằng Việt Nam đồng hoặc ngoại tệ.
Cho vay theo hạn mức thấu chi : Là việc cho vay mà Ngân hàng nhà nước Việt
Nam thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt quá số tiền có trên
tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của chính phủ và Ngân
hàng nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ
thanh toán.
10
1.1.3. Khái niệm, đặc điểm và các hình thức bảo đảm tiền vay bằng tài sản.
Khi tiến hành cho vay, ngân hàng thường ưu tiên cho những khách hàng truyền
thống có uy tín hoặc những khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh, phương án
sản xuất kinh doanh hiệu quả hoặc theo chỉ định của chính phủ. Uy tín của khách hàng
trên quan điểm của ngân hàng được cấu thành bởi các yếu tố như quan hệ lâu dài, trả
nợ sòng phẳng. Hiệu quả của các dự án cũng được các ngân hàng đặc biệt quan tâm.
Đây là những tài sản bảo đảm vô tình có tính an toàn khá cao đối với ngân hàng.
Tuy nhiên rủi ro trong hoạt động cho vay không thể đoán trước được vì nó phụ
thuộc vào nhiều yếu tố chứ không chỉ phụ thuộc vào khách hàng. Lúc đó việc xử lý
những rủi ro này lại trở nên dễ dàng hơn với những khách hàng được cho vay với hình
thức có tài sản bảo đảm có thực.
Do đó, Tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm.
Nhìn chung các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản có đặc điểm đó là :
được coi là hoàn thành nghĩa vụ chuyển giao tài sản bảo đảm khi bên nhận cầm cố
hoặc người thứ ba được bên nhận cầm cố ủy quyền đã giữ tài sản. Như vậy, tài sản
cầm cố có thể do bên nhận cầm cố trực tiếp giữ tài sản hoặc ủy quyền cho người thứ
ba giữ tài sản (Điều 16 Nghị định 163/2006/NĐ-CP)
Thế chấp tài sản.
Là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế
chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp (khoản 1 Điều 342 Bộ
luật dân sự 2005).
Hợp đồng cầm cố tài sản và thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, ghi rõ
giá trị tài sản và thời hạn bảo đảm.
Có hai điểm khác biệt quan trọng giữa hai biện pháp cầm cố và thế chấp đó là :
Thứ nhất, đó là việc chuyển giao tài sản bảo đảm : nếu áp dụng biện pháp cầm cố
thì tài sản phải được chuyển giao cho bên nhận cầm cố giữ. BLDS 2005 không căn cứ
vào việc phân biệt tài sản bảo đảm là động sản hay bất động sản để quy định hình thức
hợp đồng bảo đảm là cầm cố hay thế chấp, mà căn cứ vào tiêu chí là khả năng dịch
chuyển của tài sản. Nếu là cầm cố tài sản thì phải chuyển giao tài sản từ bên cầm cố
sang bên nhận cầm cố. Còn nếu là thế chấp tài sản thì không phải chuyển giao tài sản
từ bên thế chấp sang cho bên nhận thế chấp mà bên thế chấp chỉ phải chuyển giao các
giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, sử dụng của mình đối với tài sản cho bên nhận thế
chấp mà bên thế chấp chỉ phải giao các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, sử dụng của
mình đối với tài sản cho bên nhận thế chấp.
Thứ hai, người thứ ba giữ tài sản cầm cố và người thứ ba giữ tài sản thế chấp :
Trong trường hợp thế chấp, việc người thứ ba giữ tài sản thế chấp phải do cả hai bên
thế chấp và bên nhận thế chấp thỏa thuận và thống nhất ý kiến, đồng thời người này có
các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 352 và Điều 353 BLDS 2005. Còn
trường hợp cầm cố, việc người thứ ba giữ tài sản hoàn toàn do ý chí của bên nhận cầm
cố thông qua việc ủy quyền. Thực chất, quan hệ giữa bên nhận cầm cố và người thứ ba
giữ tài sản cầm cố là quan hệ độc lập mang tính chất của hợp đồng gửi giữ tài sản. Do
đó, ngay cả khi người thứ ba giữ tài sản thì bên nhận cầm cố vẫn phải chịu trách nhiệm
Xử lý tài sản bảo đảm là việc các ngân hàng và các tổ chức tín dụng thực hiện
các biện pháp đối với tài sản bảo đảm tiền vay của khách hàng để thu nợ.
Xử lý tài sản bảo đảm không chỉ đơn thuần là biện pháp để thu hồi nợ vay cho
ngân hàng, mà còn giúp cho ngân hàng giảm được chi phí do việc bảo quản, bảo
dưỡng các tài sản bảo đảm trong khi các tài sản này đã ngừng hoạt động để đưa vào
diện xử lý, thu hồi nợ. Việc bán các tài sản bảo đảm trên sẽ giúp cho ngân hàng thu hồi
được nợ và tránh rơi vào tình trạng rủi ro phá sản do không có khả năng thanh toán các
khoản tiền gửi của khách hàng khi đến hạn. Xử lý tài sản bảo đảm là một biện pháp
nhằm đẩy mạnh quá trình lành mạng hóa hoạt động tài chính đối với các ngân hàng
Việc xử lý tài sản bảo đảm có những đặc điểm đó là :
13
Xử lý tài sản bảo đảm tiền vay nhằm mục đích thu hồi khoản nợ của tổ chức tín
dụng đã cho khách hàng vay khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
Khi ngân hàng và các tổ chức tín dụng cho khách hàng vay tiền, họ biết rằng có
thể sẽ có những rủi ro bất ngờ xảy ra cho khách hàng của mình và dẫn đến việc thu hồi
nợ của mình gặp nhiều khó khăn, có thể là không thể thu hồi lại vốn đã cho vay ban
đầu. Chính vì vậy tài sản bảo đảm được sử dụng để bảo đảm tại các ngâm hàng có thể
thu hồi khoản vay đã cấp cho khách hàng.
Việc xử lý tài sản bảo đảm không phải là mục đích mà các ngân hàng và tổ chức
tín dụng hướng tới khi họ cho khách hàng vay tiền. Chỉ khi bên bảo đảm vi phạm
nghĩa vụ với bên nhận bảo đảm thì xử lý tài sản bảo đảm mới được xét đến nhằm mục
đích thu hồi nợ. Xử lý tài sản bảo đảm cần được thực hiện một cách nhanh chóng để tổ
chức tín dụng có thể bảo đảm khả năng thanh toán, khả năng chi trả và cấp tín dụng
cho nền kinh tế.
Chủ thể của việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay đa dạng và được trao quyền
mạnh mẽ hơn trong việc xử lý tài sản bảo đảm thông thường.
Việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp trong các giao dịch dân sự thường thông qua
việc yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền bán đấu giá nếu các bên không có thỏa thuận
trả nợ hoặc khi khách hàng vay vi phạm các cam kết khác về việc sử dụng vốn với các
tổ chức tín dụng thì việc xử lý tài sản không cần phải đợi đến thời điểm khoản nợ đến
hạn trả nợ.
Tóm lại, với các đặc điểm của việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay đã đặt ra yêu
cầu về việc xây dựng cơ chế điều chỉnh, cơ chế hỗ trợ xử lý tài sản bảo đảm trong lĩnh
vực tín dụng ngân hàng vừa đảm bảo nguyên tắc cơ bản chung của giao dịch bảo đảm,
vừa phù hợp với các đặc điểm riêng của việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay.
1.2.
Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về hoạt động xử lý tài sản bảo
đảm trong ngân hàng
1.2.1. Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh về hoạt động xử lý tài sản bảo đảm trong ngân
hàng.
Hoạt động xử lý tài sản bảo đảm trong ngân hàng được thực hiện dựa trên các
căn cứ pháp lý mà Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Các văn bản luật điều chỉnh về xử lý tài sản bảo đảm trong ngân hàng đó là: Bộ
luật Dân sự 2005, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ
họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Luật Ngân hàng Nhà nước 2010, Quốc hội ban hành ngày 16 tháng 6 năm 2010;
Luật các tổ chức tín dụng 2010, Quốc hội ban hành ngày 16 tháng 6 năm 2010.
Các văn bảo dưới luật điều chỉnh về xử lý tài sản bảo đảm trong ngân hàng đó là:
Văn bản hợp nhất 8019/VBHN-BTP về giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp ban hành
ngày 10 tháng 12 năm 2013;
Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN giữa Bộ Tư pháp,
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước về hướng dẫn một số vấn đề xử
lý tài sản bảo đảm, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường,
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 6 tháng 6 năm 2014;
Thông tư số 05/2011/TT-BTP hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp
thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án
theo phương thức trực tiếp, bưu điện, fax, thư điện tử tại trung tâm đăng ký giao dịch,
15
phạm cam kết sử dụng vốn và các cam kết khác tại hợp đồng tín dụng.
Thủ tục cần thiết để thực hiện việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay bao gồm :
Bước thứ nhất, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản cho bên bảo
đảm về việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay trước khi tiến hành xử lý tài sản.
Nội dung văn bảo phải ghi rõ lý do xử lý tài sản bảo đảm, loại tài sản, phương
thức xử lý tài sản bảo đảm, giá trị nghĩa vụ được bảo đảm tại thời điểm tiến hành xử lý
tài sản bảo đảm, thời hạn và địa điểm chuyển giao tài sản.
16
Cùng lúc đó, các ngân hàng cũng ấn định thời điểm xử lý tài sản bảo đảm trong
thông báo xử lý tài sản bảo đảm, nhưng không được sớm hơn 15 ngày kể từ ngày đăng
ký thông báo yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm.
Đối với giao dịch bảo đảm chưa hoạt động, thì thời hạn nêu trên được tính từ ngày
ngân hàng gửi thông báo xử lý tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm. Trong trường hợp tài
sản bảo đảm có nguy cơ dễ hư hỏng thì ngân hàng được xử lý tài sản ngay sau khi
thông báo xử lý tài sản bảo đảm.
Bên bảo đảm phối hợp với ngân hàng thực hiện các biện pháp chuẩn bị cho việc
xử lý tài sản bảo đảm như bàn giao tài sản bảo đảm cho ngân hàng, bàn giao giấy tờ có
liên quan đến tài sản bảo đảm theo yêu cầu của ngân hàng (trong trường hợp bên bảo
đảm hoặc bên thứ ba giữ giấy tờ, tài sản bảo đảm), tạo điều kiện cho bên mua xem tài
sản và thực hiện các biện pháp cần thiết khác để xử lý tài sản bảo đảm.
Bước hai, lập biên bản xử lý tài sản bảo đảm.
Biên bảo xử lý tài sản bảo đảm phải ghi rõ việc bàn giao, tiếp nhận tài sản bảo
đảm, phương thức xử lý tài sản bảo đảm, quyền và nghĩa vụ của các bên và các thỏa
thuận khác (nếu có).
Về nguyên tắc, tổ chức tín dụng và bên bảo đảm phải thỏa thuận về giá trị xử lý
tài sản bảo đảm tại thời điểm xử lý tài sản bảo đảm và lập biên bảo thỏa thuận việc
định giá tài sản. Trường hợp các bên không thỏa thuận được về giá xử lý tài sản bảo
ngân hàng phải yêu cầu xóa đăng ký giao dịch bảo đảm.
Nội dung pháp luật còn quy định về các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm. Biện
pháp xử lý tài sản bảo đảm được thực hiện trước hết theo thỏa thuận đã quy định trong
hợp đồng bảo đảm, hợp đồng tín dụng mà bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm đã ký
kết. Nếu không có thỏa thuận về biện pháp xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm
có thể lựa chọn các biện pháp sau :
Bán tài sản bảo đảm.
Bán tài sản bảo đảm là biện pháp thông dụng thường được ngân hàng và các
TCTD sử dụng. Thực tế, các khoản vay của khách hàng từ ngân hàng và các TCTD
phổ biến là tiền mặt. Vì vậy, mục đích của ngân hàng và các TCTD là thu lại chính
khoản tiền đã cho vay và lãi suất. Tài sản bảo đảm tiền vay có thể không hữu dụng cho
ngân hàng nhưng họ luôn cần tiền để duy trì hoạt động cung cấp vốn của mình. Đồng
thời biện pháp bán tài sản bảo đảm cũng bảo đảm được tính khách quan bởi nó xác
đính chính xác nhất giá trị thực của tài sản bảo đảm tại thời điểm bán trên thị trường,
giúp các bên giải quyết nợ một cách nhanh chóng, thuận tiện.
Bán tài sản bảo đảm là việc bên nhận bảo đảm hoặc bên bán bảo đảm, hoặc các
bên phối hợp để bán tài sản trực tiếp cho người mua hoặc ủy quyền cho bên thứ ba bán
tài sản bảo đảm cho người mua. Bên thứ ba này phải là tổ chức có tư cách pháp nhân
và được thực hiện quyền thu hồi nợ hoặc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp
luật.
Các chủ thể được bán tài sản bảo đảm bao gồm :
• Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản bảo đảm theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp
luật nếu không xử lý được tài sản bảo đảm theo thỏa thuận (trừ trường hợp tài sản bảo
đảm là quyền sử dụng đất và các tài sản khác mà pháp luật quy định phải được tổ chức
bán đấu giá). Trong trường hợp này, bên nhận bảo đảm phải thông báo công khai về
18
việc bán đấu giá tài sản bảo đảm trên các phương tiện thông tin đại chúng và trực tiếp
ký kết hợp đồng bán tài sản bảo đảm.
Tùy từng trường hợp và hoàn cảnh cụ thể mà ngân hàng và các TCTD sẽ áp dụng
biện pháp xử lý tài sản bảo đảm phù hợp, bảo đảm quyền lợi của mình cũng như của
bên bảo đảm.
19
1.3.
Phương thức nhận tài sản từ bên thứ ba trong trường hợp bên thứ ba có nghĩa
vụ trả tiền hoặc tài sản cho khách hàng vay, bên bảo lãnh.
Khi khách hàng vay không trả được nợ hoặc bên thứ ba bảo lãnh bằng tài sản
không thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, ngân hàng có quyền chuyển giao quyền thu hồi lại
hoặc ủy quyền cho bên thứ ba xử lý tài sản bảo đảm. Bên thứ ba là tổ chức có tư cách
pháp nhân và được thực hiện quyền thu hồi nợ hoặc xử lý tài sản bảo đảm theo quy
định của pháp luật. Các ngân hàng hoặc bên bảo dảm phải thông báo cho bên thứ ba
biết việc ngân hàng nhận được các khoản tiền, tài sản nêu trên, đồng thời yêu cầu bên
thứ bao giao các khoản tiền, tài sản đó cho các ngân hàng. Việc giao các khoản tiền,
tài sản cho ngân hàng phải thực hiện theo đúng thời hạn, địa điểm được ấn định trong
thông báo xử lý tài sản bảo đảm.
Trong trường hợp được ngân hàng chuyển giao quyền thu hồi nợ, bên thứ ba có
quyền thực hiện các biện pháp để thu hồi nợ hoặc xử lý tài sản bảo đảm như ngân
hàng. Trường hợp được ngân hàng ủy quyền xử lý tài sản, thì bên thứ ba được xử lý tài
sản bảo đảm trong phạm vi được ủy quyền.
Các ngân hàng sẽ lập biên bản nhận các khoản tiền, tài sản giữa ngân hàng, bên
bảo đảm và bên thứ ba. Biên bản nhận các khoản tiền, tài sản phải ghi rõ việc bàn giao,
tiếp nhận các khoản tiền, tài sản, việc định giá tài sản và thanh toán nợ từ việc xử lý tài
sản. Trong trường hợp bên thứ ba không giao các khoản tiền, tài sản nói trên theo yêu
cầu của ngân hàng thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền
áp dụng thủ tục buộc bên thứ ba phải giao tài sản hoặc khởi kiện ra tòa.
Điều này khiến khách hàng vay thường lâm vào thế bị động bởi họ là người cần tiền,
còn ngân hàng và các TCTD lại là bên có quyền quyết định khoản vay. Các TCTD sẽ
dễ dàng đưa ra các yêu cầu không hợp lý và bất lợi cho khách hàng vay. Ngược lại,
nếu ngân hàng không có các biện pháp bảo đảm thì bản thân ngân hàng sẽ gặp nhiều
rủi ro bởi có khả năng rơi vào tình trạng mất vốn. Như vậy, nguyên tắc bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo đảm tiền vay góp phần bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cả bên đi vay và bên cho vay.
Nguyên tắc này đòi hỏi việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay cần có quy trình cụ
thể, chặt chẽ hoặc xử lý tài sản thông qua bên thứ ba (có thể là trọng tài hoặc tòa án).
Việc xác định giá trị tài sản bảo đảm khi xử lý cũng cần được pháp luật quy định nhằm
bảo đảm mức giá xử lý tài sản hợp lý, đồng thời tôn trọng sự thỏa thuận, cho phép bên
được tham gia quá trình xử lý tài sản.
1.3.3. Nguyên tắc công khai, minh bạch.
Nguyên tắc này vừa bảo đảm không mất vốn và thu nợ tối đa của TCTD, vừa bảo
vệ quyền lợi chính đáng của bên bảo đảm có tài sản bị đưa ra xử lý thông qua phương
thức bán công khai, có sự tham gia của bên thứ ba hoặc giao cho bên thứ ba xử lý tài
sản.
1.3.4. Nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm nhanh chóng.
Đây là một nguyên tắc cần thiết trong xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để đảm bảo
khả năng thanh toán, chi trả của TCTD, đồng thời hạn chế triệt để thiệt hại cho TCTD
và khách hàng vay do tài sản bảo đảm bị xuống cấp, hư hỏng, mất giá, không luân
chuyển được nguồn vốn và khách hàng vẫn phải trả lãi cho các khoản vay tại ngân
hàng.
21
Tóm lại, việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng và các tổ chức tín dụng cần
phải tuân thủ các nguyên tắc trên. Điều này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo đảm tiền vay.
Theo như thống kê của Ngân hàng Nhà nước, nguồn vốn huy động tăng trưởng
ổn định tạo gối đệm thanh khoản an toàn cho các ngân hàng triển khai các chương
trình tín dụng. Các TCTD đẩy mạnh thực hiện các giải pháp tăng trưởng tín dụng có
trọng tâm, trọng điểm, đưa ra nhiều chương trình tín dụng ưu đãi... Nhờ các giải pháp
tín dụng linh hoạt, hiệu quả, tốc độ tăng trưởng tín dụng đã có mức tăng tốt ngay từ
những tháng đầu năm. Một trong những điểm nhấn trong hoạt động của ngành ngân
hàng trong 6 tháng đầu năm đó là công tác xử lý nợ xấu. NHNN thường xuyên giám
sát hoạt động của các TCTD, đồng thời có các văn bản khuyến cáo, cảnh báo các
TCTD có tỷ lệ nợ quá hạn lớn, tỷ lệ nợ xấu cao, thu nhập nhỏ hơn chi phí và yêu cầu
xây dựng biện pháp chấn chỉnh, khắc phục.
23
Đặc biệt, trong năm 2015 với nhiệm vụ Đảng, Quốc hội giao cho toàn Ngành đưa
nợ xấu về dưới mức 3%, ngay từ đầu năm, ngành ngân hàng đã rốt ráo triển khai nhiều
giải pháp đồng bộ tiếp tục rà soát, thực hiện tổ chức, sắp xếp lại bộ phận xử lý nợ
chuyên trách theo đặc điểm khách hàng, khả năng tái cấu trúc khoản vay hoặc tiến
hành khởi kiện, xử lý TSBĐ...
Tổng nợ xấu mà 13 Ngân hàng TMCP có trụ sở chính tại Hà Nội được NHNN
giao xử lý hoàn thành trước 30/9/2015 (trừ GPBank) là: 30.778 tỷ đồng. Song, theo
tiết lộ của lãnh đạo NHNN chi nhánh Hà Nội, tính đến 30/6/2015, tổng số nợ xấu đã
xử lý là 24.705 tỷ đồng, đạt 80% kế hoạch được giao.
Mặc dù, tỷ lệ nợ quá hạn của các TCTD trên địa bàn đã giảm nhưng theo đánh
giá của lãnh đạo NHNN chi nhánh Hà Nội thì con số này vẫn ở mức cao, tính đến
30/6/2015 chiếm 5,06% trong tổng dư nợ. Và một trong những vấn đề khó khăn nhất
đối với các NH trong quá trình xử lý nợ xấu đó là xử lý, thu hồi TSBĐ. NHNN chi
nhánh Hà Nội cho biết, năm 2014 tỷ lệ nợ xấu có bảo đảm bằng tài sản chiếm tỷ lệ khá
cao tới 91% trên tổng nợ xấu. Vì lẽ đó, nếu khâu xử lý TSBĐ bị vướng mắc chắc chắn
tác động đến tốc độ xử lý nợ xấu của các ngân hàng.
tế cao. Từ đó, các ngân hàng mới có thể đưa ra quyết định cho vay hay không, nếu
cho vay thì với số tiền là bao nhiêu, lãi suất, thời hạn cho vay và các điều kiện khác.
Đặc biệt là đối với những khoản có tài sản bảo đảm thì càng đòi hỏi năng lực và
trình độ của cán bộ tín dụng càng phải cao. Hơn nữa, nếu cám bộ tín dụng có khả năng
phân tích tình hình biến động của thị trường sẽ giúp cho việc định giá tài sản bảo đảm
được chính xác, không gây ảnh hưởng cho ngân hàng khi xử lý tài sản để thu hồi nợ.
Bên cạnh chuyên môn giỏi thì đạo đức của cán bộ tín dụng cũng là một nhân tố
ảnh hưởng quan trọng đến công tác xử lý tài sản bảo đảm. Đây là vấn đề cần được
quan tâm bởi vì môi trường làm việc của ngân hàng luôn tiếp xúc với tiền nên dễ làm
con người ta sa ngã, dẫn đến tình trạng móc ngoắc giữa cán bộ tín dụng và khách hàng
để rút tiền của ngân hàng.
Nếu cán bộ tín dụng đánh giá không đúng giá trị thực của tài sản bảo đảm, cho
khách hàng vay một số tiền lớn hơn so với giá trị thật của tài sản bảo đảm thì sẽ ảnh
hưởng nghiêm trọng đến công tác xử lý tài sản bảo đảm sau này nếu khoản nợ đó
không có khả năng được hoàn trả. Do vậy, cán bộ tín dụng cần có đầy đủ năng lực
cũng như đạo đức thì mới đem lại hiệu quả cao cho hoạt động kinh doanh của ngân
hàng.
Thông tin về tài sản bảo đảm.
Thực tế chứng minh rằng, việc tập hợp những dữ liệu thông tin đầy đủ chính xác
của khách hàng vay và phân tích khoa học những thông tin đó sẽ tạo điều kiện nâng
cao hiệu quả công tác tín dụng, bảo đảm an toàn nợ vay cũng như xử lý tài sản để thu
hồi nợ vay trong trường hợp bất khả kháng. Những thông tin chính xác giúp ích rất
nhiều đến việc cho vay có an toàn hay không, dến quản lý khoản vay và tình ình thu
nợ cũng như xử lý nợ vay.Các ngân hàng cũng cần phải có hệ thống thu thập thông tin
nhanh chóng và chính xác. Trong đó, việc thu thập thông tin về tài sản bảo đảm có ảnh
hưởng không nhỏ đến công tác xử lý tài sản bảo đảm.
Các loại tài sản bảo đảm thường rất đa dạng, phức tạp về chất lượng và giá cả.Vì
vậy, việc thu thập thông tin về tài sarnbaro đảm một cách đầy đủ sẽ giúp cán bộ tín
dụng có thể đánh giá chính xác về chúng để từ đó ra quyết định cho vay một cách hợp
25