Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Phạm Thanh Hải
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
--------o0o--------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN –
CHI NHÁNH HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2013 -2015
Giáo viên hướng dẫn
: ThS. Trần Thị Thu Trang
Họ và tên sinh viên
: Phạm Thanh Hải
Mã sinh viên
: 12D180013
Lớp
: K48H1
Hà Nội – 2016
Bảng 2.2
Nội dung
Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Hà Nội
Tốc độ tăng trưởng quy mô và hiệu quả HĐKD của ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi
nhánh Hà Nội giai đoạn 2013 – 2015
Cơ cấu nguồn vốn huy động theo sản phẩm của ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi
Trang
32
33
40
Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Phạm Thanh Hải
nhánh Hà Nội giai đoạn 2013 – 2015
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5
Bảng 2.6
Bảng 2.7
Bảng 2.8
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Từ đầy đủ
TMCP
Thương Mại Cổ Phần
ATM
Automated Teller Machine
NHTM
Ngân Hàng Thương Mại
TSCĐ
Tài Sản Có Định
42
43
44
45
Việt Nam Đồng
TĐH
Trung Dài Hạn
TCKT
Tổ Chức Kinh Tế
TCTD
Tổ Chức Tín Dụng
NHNN
Ngân Hàng Nhà Nước
Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Phạm Thanh Hải
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Vốn luôn là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản nhất thiết phải có của bất cứ hoạt động
kinh doanh nào trong mỗi doanh nghiệp. Nếu không có vốn thì không thể thực hiện được các
mục tiêu kinh tế xã hội nói chung của Nhà nước, cũng như các mục tiêu của doanh nghiệp nói
6
Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Phạm Thanh Hải
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài đi sâu vào nghiên cứu công tác huy động vốn tại ngân hàng TMCP
-
Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung vào hoạt động huy động vốn của Ngân hàng TMCP Sài
Gòn Thương Tín – Chi nhánh Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2013 tới năm 2015.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được đề tài nghiên cứu này, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau
-
đây:
Phương pháp thu thập dữ liệu
Thực hiện khóa luận, tôi đã dùng các dữ liệu được thu thập từ nguồn sau:
Thực hiện phỏng vấn các chuyên gia tại
+ Thực hiện các cuộc phỏng vấn các chuyên gia tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi
nhánh Hà Nội.
+ Giáo trình, tài liệu về hoạt động của NHTM, các quy định pháp luật về các TCTD, các điều luật
liên quan đến lĩnh vực huy động tiền gửi của NHTM.
+ Số liệu thực tế trên báo cáo thường niên, báo cáo tài chính của Ngân hàng TMCP Sài Gòn
8
Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Phạm Thanh Hải
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1.
Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về NHTM
Theo Luật ngân hàng của Pháp (1941) đã định nghĩa: "NHTM là những xí nghiệp hay cơ
sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc
dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết
khấu, tín dụng và tài chính".
NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt
động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. (Theo khoản 3,
Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng 2010).
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc
trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và
cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả
mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
1.1.2.
Chức năng của NHTM
Trong quá trình hoạt động của mình, NHTM thực hiện các chức năng sau:
-
-
Chức năng tạo tiền
Đây là hệ quả của hai chức năng trên trong hoạt động ngân hàng: Từ một số dự trữ ban đầu
thông qua quá trình cho vay và thanh toán bằng chuyển khoản của ngân hàng thì lượng tiền gửi
mới được tạo ra và nó lớn hơn so với lượng dự trữ ban đầu gấp nhiều lần, gọi là quá trình tạo tiền
của hệ thống ngân hàng.
Một ngân hàng sau khi nhận một món tiền gửi, trên tài khoản tiền gửi của khách hàng tại
ngân hàng sẽ có số dư. Với số tiền này sau khi đã để lại một khoản dự trữ bắt buộc, ngân hàng sư
đem đi đầu tư, cho vay từ đó nó sẽ chuyển sang vốn tiền gửi của ngân hàng khác. Với vòng quay
của vốn thông qua chức năng tín dụng và thanh toán của ngân hàng, NHTM thực hiện được chức
năng tạo tiền.
10
Khoá luận tốt nghiệp
1.1.3.
SVTH: Phạm Thanh Hải
Vai trò của NHTM
Cùng với sự phát triển đa dạng các nghiệp vụ kinh doanh, ngân hàng ngày càng thực hiện
nhiều vai trò mới để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và dáp ứng nhu cầu xã hội. Các ngân
hàng ngày nay có những vai trò cơ bản sau:
Thứ nhất, NHTM là trung gian tài chính, thực hiện vai trò điều tiết các khoản tiết kiệm,
chủ yếu từ hộ gia đình thành vốn tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và cá thành phần kinh tế
khác để đầu tư vào nhà cửa, trang thiết bị và các tài sản khác.
Thứ hai, NHTM giữ vai trò là trung gian thanh toán, thay mặt khách hàng thực hiện thanh
Tuỳ theo chiến lực kinh doanh, mỗi ngân hàng có thể có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng
nhìn chung các ngân hàng thương mại đều có các hoạt động chính sau:
-
Huy động vốn
Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân
hàng. Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như huy động dưới hình
thức tiền gửi, đi vay, phát hành giấy tờ có giá. Mặt khác trên cơ sở nguồn vốn huy động được,
ngân hàng tiến hành cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, cho các mục tiêu phát triển
kinh tế của địa phương và cả nước. Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng,
tạo uy tín của ngân hàng ngày càng cao, các ngân hàng chủ động trong hoạt động kinh doanh,
mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế và các tổ chức dân cư, mang lại lợi nhuận
cho ngân hàng. Do đó các NHTM phải căn cứ vào chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của đất
nước, của địa phương. Từ đó đưa ra các loại hình huy động vốn phù hợp nhất là các nguồn vốn
-
trung, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Hoạt động sử dụng vốn
Đây là nghiệp vụ trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, nghiệp vụ sử dụng vốn của
ngân hàng có hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của ngân hàng, quyết định năng lực cạnh tranh của
ngân hàng trên thị trường. Do vậy, ngân hàng cần phải nghiên cứu và đưa ra chiến lược sử dụng
vốn của mình sao cho hợp lý nhất.
-
Hoạt động cho vay
Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM. Theo thống kê, nhìn chung thì
khoảng 60%- 75% thu nhập của ngân hàng là từ các hoạt động cho vay. Thành công hay thất bại
của một ngân hàng tuỳ thuộc chủ yếu vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng và thành công của tín
được để đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do
NHNN đề ra.
-
Nghiệp vụ khác
Là trung gian tài chính, ngân hàng có rất nhiều lợi thế. Một trong những lợi thế đó là ngân
hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ. Để thanh toán nhanh
chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh
toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ, cung cấp mạng lưới thanh toán
điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Mặt khác, các NHTM còn tiến
hành môi giới, mua, bán chứng khoán cho khách hàng và làm đại lý phát hành chứng khoán cho
các công ty. Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay, uỷ thác
đầu tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ.
Như vậy, các nghiệp vụ trên nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo cho ngân hàng tồn tại và phát
triển vững mạnh trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay.Vì các nghiệp vụ
trên có mối liên hệ chặt chẽ thường xuyên tác động qua lại với nhau. Nguồn vốn huy động ảnh
hưởng tới quyết định sử dụng vốn, ngược lại nhu cầu sử dụng vốn ảnh hưởng tới quy mô, cơ cấu
của nguồn vốn huy động. Các nghiệp vụ trung gian tạo thêm thu nhập cho ngân hàng nhưng mục
13
Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Phạm Thanh Hải
đích chính là thu hút khách hàng, qua đó tạo điều kiện cho việc huy động và sử dụng vốn có hiệu
quả.
1.2.
Vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM
lý. Nguồn vốn này chính là nền tảng ban đầu cho mọi hoạt động, nó thể hiện tính tự chủ tài chính
cũng như khả năng của một ngân hàng. Một ngân hàng mới thành lập cần vốn để xây dựng cơ sở
-
hạ tầng, trang bị những điều kiện làm việc, thuê nhân viên…
Nguồn vốn là cơ sở và phát triển hoạt động cho vay
14
Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Phạm Thanh Hải
Huy động vốn và cho vay là hai hoạt động cơ bản của NHTM. Hai hoạt động này có mối
quan hệ tương hỗ nhau, nếu không có nguồn vốn huy động thì ngân hàng khó lòng cho vay và
thực hiện cung cấp các dịch vụ, ngược lại hoạt động cho vay có tác động trở lại hoạt động tạo
-
nguồn thông qua kích thích NHTM gia tăng nguồn vốn.
Nguồn vốn dùng để bù đắp rủi ro
Việc trích lập các quỹ để phòng ngừa và bù đắp rủi ro luôn được thực hiện định kì ở các
NHTM vì thế mỗi quốc gia đều có quy định về tỉ lệ an toàn vốn so với tài sản. Nếu NHTM
không đáp ứng được tỉ lệ an toàn như quy định, ngân hàng đó sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng
-
thanh khoản
Nguồn vốn là cơ sở tạo niềm tin cho khách hàng.
Vốn điều lệ
Là nguồn vốn đầu tư ban đầu của chủ ngân hàng. Vốn điều lệ được ghi trong bản điều lệ
của ngân hàng. Vốn điều lệ phải đạt mức tối thiểu theo quy định của pháp luật và được gọi là vốn
-
pháp định. Tuỳ vào từng loại ngân hàng mà Chính phủ quy định mức vốn pháp định khác nhau.
Vốn bổ sung trong quá trình kinh doanh
15
Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Phạm Thanh Hải
Ngân hàng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên những điều kiện pháp lý về vốn phải tuân
thủ nghiêm ngặt. Ngoài ra, việc bổ sung vốn trong quá trình hoạt động luôn là nhiệm vụ hàng
đầu của mỗi ngân hàng, góp phần nâng cao vị thế của NHTM trên thương trường. Tuỳ vào điều
kiện cụ thể mà ngân hàng có thể gia tăng vốn theo các phương thức khác nhau và tuân thủ các
quy định của pháp luật:
Một là, bổ sung vốn từ lợi nhuận.
Việc bổ sung vốn từ nguồn thu nhập luôn là mong muốn của hầu hết các ngân hàng vì khi
thu nhập ròng lớn ngân hàng có thể thực hiện việc gia tăng vốn bằng cách chuyển một phần thu
nhập ròng thành vốn đầu tư. Luật pháp cho phép các ngân hàng giữ lại một phần lợi nhuận để mở
rộng hoạt động kinh doanh hoặc đầu tư.
Hai là, bổ sung thêm vốn phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm.
Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần việc phát hành thêm cổ phiếu là phương thức
hiệu quả để tăng vốn chủ sở hữu. Công việc này được thực hiện bằng cách ngân hàng phát hành
quyền mua cổ phần cho các cổ đông hiện hữu, mỗi cổ đông sẽ được mua cổ phiếu theo tỉ lệ cổ
16
Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Phạm Thanh Hải
+ Tiền gửi là nguồn vốn không ổn định, khách hàng vẫn có thể rút tiền của họ và không bị rằng
buộc, nếu có ngân hàng chỉ phạt bằng việc trả lãi thấp hơn lãi đã cam kết với khách hàng.
-
Các loại tiền gửi
+ Tiền gửi thanh toán
Việc mở tài khoản và cung cấp dịch vụ thanh toán là một trong những dịch vụ đầu tiên của
một NHTM. Khách hàng nộp tiền vào ngân hàng và khoản này sẽ được hạch toán vào tài khoản
thanh toán. Thực chất đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng nhờ ngân
hàng giữ và thanh toán hộ.
+ Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội
Nhiều doanh nghiệp, tổ chức xã hội có hoạt động thu, chi tiền theo các chu kỳ xác định. Họ
gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi đồng thời tình toán như cầu vốn ở một thời điểm nhất định
để lựa chọn kỳ hạn tiền gửi. Mức lãi suất tiền gửi có kì hạn phụ thuộc vào thời hạn ghi trên hợp
đồng và thông thường thời hạn gửi càng dài thì lãi suất càng cao và ngược lại.
+ Tiền gửi tiết kiệm
Trong dân chúng luôn tồn tại các khoản thu nhập tậm thời chưa sử dụng. Khi đó họ có thể
tới ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ hộ và mong muốn ngân hàng sẽ trả một khoản lãi. Đó là
hành vi gửi tiết kiệm tại ngân hàng. Để có thể sử dụng tiền gửi, ngân hàng cam kết cho người gửi
tiền một khoản lãi. Phần lãi này sẽ được tính toán dựa trên số tiền gửi và kỳ hạn.
+ Tiền gửi của các ngân hàng khác
Để đảm bảo khả năng thanh khoản hoặc nhờ thanh toán hộ hoặc nằm trong chiến lược sử
phương pháp huy động này các NHTM xác nhận nghĩa vụ trả nợ trọng một thời hạn nhất định,
điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác. Thời hạn huy động vốn có thể là ngắn hạn,
-
trung hạn và dài hạn.
Vốn phi tiền gửi
Ngoài vốn vay, vốn phi tiền gửi khác gồm: tiền trong thanh toán, nguồn uỷ thác,
thuế chưa nộp, tiền lương chưa trả.
+ Tiền trong thanh toán
Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm hoạt động thanh toán quốc tế, thanh
toán trong nước và thanh toán nội bộ. Các hoạt đồng này hình thành nguồn vốn trong thanh toán
của các NHTM.
+ Các khoản treo chờ xử lý
Ngân hàng trong quá trình hoạt động thường có những giao dịch chưa xác định đúng phát
sinh giao dịch mà phải chờ xử lý.Ngân hàng có thể coi đây như một nguồn vốn và được phép sử
dụng khi chưa xác định nguyên nhân và quyết toán.
+ Tiền uỷ thác
Tiền uỷ thác là nguồn tiền mà NHTM được Nhà nước hoặc các tổ chức tín dụng khác uỷ
thác cho nhiệm vụ nào đó. Các nghiệp vụ uỷ thác bao gồm: uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư, uỷ
thác cấp phát… Với chức năng này, NHTM thể hiện vay trò là một tổ chức tài chính trung gian,
kênh dẫn vốn cho những chủ thể nhận vốn đúng mục đích. Nguồn vốn này bổ sung vào tổng vốn
1.3.
kinh doanh của NHTM.
Một số vấn đề lý luận về hoạt động huy động vốn của NHTM
1.3.1. Khái niệm huy động vốn
Huy động vốn là nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn tạm thời nhàn dỗi từ các tổ chức và nhân
bằng nhiều hình thức khác nhau để tạo thành nguồn vốn hoạt động của ngân hàng. (Nguồn: Giáo
trình quản trị tác nghiệp NHTM – Đại học Thương Mại)
tiền tiết kiệm để dự phòng cho những nhu cầu chi dùng cho tương lai. Khi xã hội càng phát triển
thì khoản dự phòng này càng lớn. Nắm được tình hình đó, các NHTM đã tìm mọi hình thức
nhằm huy động tối đa các khoản tiết kiệm này, từ đó tạo ra một nguồn vốn không nhỏ để đáp ứng
nhu cầu vốn của nền kinh tế và thu được lợi nhuận cho bản thân ngân hàng.
+ Vốn vay từ ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn vốn mà ngân hàng
có được nhờ quan hệ vay mượn giữa NHTM với NHNN, giữa các NHTM với nhau và với các tổ
chức tín dụng khác. Nguồn vốn này ngân hàng phải chịu với chi phí cao hơn, vì vậy chỉ trong
trường hợp ngân hàng thiếu vốn khả dụng trong thời gian ngắn thì ngân hàng mới đi vay.
-
Cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền gửi
+ Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng mà không có sự thoả
thuận trước về thời gian rút tiền. Với loại tiền gửi này ngân hàng chỉ phải trả với một mức lãi
suất thấp. Bởi vì tiền gửi loại này rất biến động, khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào, do đó
ngân hàng không chủ động sử dụng số vốn này, ngân hàng phải dự trữ một số tiền đảm bảo để có
thể thanh toán ngay khi khách hàng có nhu cầu.
19
Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Phạm Thanh Hải
+ Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng có sự thoả thuận trước về thời
hạn rút tiền. Loại tiền gửi này tương đối ổn định vì ngân hàng xác định được thời gian rút tiền
của khách hàng. Do đó ngân hàng có thể chủ động sử dụng số tiền gửi đó vào mục đích kinh
doanh trong thời gian ký kết. Đối với loại tiền gửi này, ngân hàng có rất nhiều loại thời hạn từ 1
tháng, 3 tháng, 6 tháng… mục đích là tạo cho khách hàng có được nhiều kỳ hạn gửi phù hợp với
thời gian nhàn rỗi của khoản tiền mà họ có. Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn cao hơn lãi suất tiền gửi
Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Phạm Thanh Hải
Phát hành chứng chỉ tiền gửi: Nó là những giấy tờ xác nhận tiền gửi định kỳ ở một ngân
hàng, người sở hữu giấy này sẽ được thanh toán tiền lãi theo kỳ và nhận đủ vốn khi đến hạn.
Chứng chỉ sau khi phát hành được lưu thông trên thị trường.
+ Huy động vốn qua hình thức khác
Ngoài các nghiệp vụ trên, ngân hàng có thể huy đông vốn bằng cách sử dụng nguồn tiền
trong thanh toán, tiền treo chờ xử lý, tiền uỷ thác. Đây cũng là nguồn vốn ngân hàng có thể tận
dụng để phục vụ cho nhu cầu cho vay và cung cấp các dịch vụ cho thị trường.
1.4.
Chất lượng huy động vốn và các chỉ tiêu đánh giá chất lượng huy động vốn của NHTM
1.4.1. Khái niệm chất lượng huy động vốn
Chất lượng huy động vốn là một chuỗi các chỉ tiêu để đánh giá nguồn vốn huy động được
trong quá trình hoạt động của NHTM, nó phản ánh tiềm lực, sức mạnh và quy mô nguồn vốn của
NHTM qua các năm. Từ đó, ta có thể đánh giá sơ bộ về khả năng phát triển của NHTM đó.
(Nguồn: Giáo trình quản trị tác nghiệp NHTM – Đại học Thương Mại)
1.4.2. Các chỉ tiêu định lượng
Sự biến đổi về quy mô, kết cấu nguồn vốn huy động sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu cho vay, đầu
tư và kéo theo sự thay đổi trong lợi nhuận, rủi ro của hoạt động kinh doanh. Xu hướng biến đổi
nguồn vốn huy động phải đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong tương lai về cho vay ngắn hạn,
trung dài hạn, cho vay nội tệ và ngoại tệ.
21
Khoá luận tốt nghiệp
Chi tiêu này thể hiện khả năng tăng trưởng lượng vốn huy động qua từng năm. Chỉ tiêu này
càng cao, thì chứng tỏ ngân hàng đó có sức tăng trưởng mạnh, tính cạnh tranh cao trong thị
trường.
-
Chi phí huy động vốn
+
Tỉ lệ chi phí huy động vốn =
Chi phí huy động vốn
Tổng chi phí
Chỉ tiêu này đánh giá chi phí của ngân hàng phải bỏ ra cho hoạt động huy động vốn so với
tổng chi phí hoạt động, tỉ lệ này càng cao thì càng tốt.
+
Chênh lệch lãi suất = Lãi suất cho vay – Lãi suất huy động
Chỉ tiêu này phản ảnh lợi nhuận thu được trong quá trình huy động vốn và cho vay
-
Đảm bảo an toàn vốn
+
Tổng vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
Tỉ lệ vốn chủ sở hữu/Tổng nguồn vốn =
tiền mặt.
-
Mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn
Nguồn vốn và sử dụng vốn đó là hai quá trình hoạt động của ngân hàng. Công tác cân đối
vốn của ngân hàng là một chiến lược huy động vốn đúng đắn, phù hợp với kế hoạch sử dụng vốn
trong từng thời kỳ sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại đạt được mục tiêu lợi nhuận
tối đa và tăng trưởng nguồn vốn kinh doanh. Sự hài hoà giữa huy động vốn và sử dụng vốn chính
là công tác cân đối vốn của ngân hàng. Công tác cân đối vốn là hết sức quan trọng và cần thiết
đối với bất kỳ ngân hàng nào. Đó là một biện pháp nghiệp vụ, là một công cụ quản lý của nhà
lãnh đạo ngân hàng, thông qua bảng cân đối đa lập, các cán bộ ngân hàng xem xét, phân tích cơ
cấu, tỷ trọng các nguồn và từng khoản sử dụng để dự đoán nhu cầu vốn biến động trong tương
lai, từ đó có chính sách huy động vốn thích hợp.
1.4.3. Các chỉ tiêu định tính
Ngoài các chỉ tiêu định lượng kể trên ta còn phải xét đến các chỉ tiêu định tính là chất
lượng và tiện ích của dịch vụ, khả năng tích hợp với các dịnh vụ khác, khả năng linh hoạt của sản
phẩm dịch vụ,…
Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay, khi mà khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, sản
phẩm ra đời ngày càng phong phú, đa dạng, tạo thuận lợi cho sự lựa chọn của người tiêu dùng và
đặt nhà sản xuất trước các áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt và để chiến thắng trong cạnh
tranh thì bắt buộc các nhà sản xuất phải nghiên cứu vận dụng nhiều phương thức và công cụ cạnh
tranh khác nhau. Một công cụ quan trọng hay được vận dụng hiện nay là nâng cao chất lượng sản
phẩm dịch vụ cung cấp. Vì thế, việc nâng cao chất lượng sản phẩm hàm ý phải từng bước thỏa
mãn cao nhất những yêu cầu, đòi hỏi từ phía khách hàng.
23
Khoá luận tốt nghiệp
Sự thay đổi của các yếu tố: tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỉ lệ lạm phát, thu nhập bình quân
đầu người thay đổi, chính sách đầu tư, tiết kiệm của chính phủ… sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiêu
dùng và tiết kiệm của dân cư và từ đó ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn của NHTM. Ví dụ
khi thu nhập bình quân đầu người tăng thì tiêu dùng và tiết kiệm tăng và người dân gửi tiền vào
NH tăng và ngược lại.
-
Dân số
Môi trường dân số là yếu tố rất quan trọng bởi nó không chỉ tạo thành nhu cầu và kết cấu
nhu cầu của dân cư về sản phẩm dịch vụ ngân hàng mà còn là căn cứ để hình thành hệ thống
phân phối của ngân hàng. Đồng thời, môi trường dân số là cơ sở để xây dựng và điều chỉnh hoạt
24
Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Phạm Thanh Hải
động huy động vốn của ngân hàng. Môi trường dân số ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của ngân
hàng do đó ngân hàng phải nghiên cứu kĩ lưỡng môi trường kinh tế trước khi đưa ra chiến lược
huy động để có thể có được nguồn vốn phù hợp với nhu cầu của ngân hàng về chất lượng, số
lượng và thời hạn…
-
Môi trường công nghệ
Sự thay đổi về công nghệ có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế và xã hội. Hoạt động ngân
hàng là một trong những hoạt động chịu sự tác động mạnh mẽ của công nghệ, hoạt động ngân
hàng là hoạt động không thể tách rời khỏi sự phát triển của công nghệ đặc biệt là công nghệ
thông tin.