Tài liệu Đề tài: Huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh Đống Đa - Pdf 10

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Vũ Ngọc Diệp
Luận văn
Đề tài: Huy động vốn tại
Ngân hàng TMCP Sài Gòn
Thương Tín – chi nhánh
Đống Đa
Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống
Đa 1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Vũ Ngọc Diệp
MỤC LỤC
2.1. GI I THI U CHUNG V NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN TH NG T N –Ớ Ệ Ề ƯƠ Í
CHI NHÁNH NG AĐỐ Đ 24
K T LU NẾ Ậ 63

LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại cổ phần là doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong
lĩnh vực tiền tệ, nhiệm vụ thường xuyên và chủ yếu là huy động vốn, cho vay
và cung cấp các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng
Đối với hoạt động Ngân hàng vốn là chủ yếu quyết định mọi hoạt động
kinh doanh. Thực tế tại các Ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay vốn tự
Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống
Đa 2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Vũ Ngọc Diệp
có chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ còn lại là vốn huy động, vốn đi vay và vốn khác.
Trong đó vốn huy động luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và ổn định nhất. Do vậy
có thể khẳng định vốn huy động hay công tác huy động vốn có vai trò to lớn
quyết định đến khả năng hoạt động và phát triển của Ngân hàng.
Tại Việt Nam hiện nay huy động vốn hay là việc khai thác lượng tiền nhàn

Chính vì thế chúng em đã quyết định chọn đề tài “ Huy động vốn tại Ngân
hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh Đống Đa” để làm chuyên đề
tốt nghiệp.
Kết cấu bài luận văn của Em chia làm ba chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung về huy động vốn của NHTMCP
Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn của NHTMCP
Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – Chi nhánh Đống Đa
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại
NHTMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Đống Đa
Để hoàn thành bài luận văn này, ngoài cố gắng của bản thân, chúng em đã
nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của cô giáo là Vũ Ngọc Diệp, đồng
thời là sự giúp đỡ của anh chị nhân viên của Ngân hàng TMCP Sài Gòn
Thương Tín – Chi nhánh Đống Đa. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô
giáo và các anh chị nhân viên đã giúp đỡ Em trong thời gian qua.
Em xin chân thành cảm ơn!
Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống
Đa 4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Vũ Ngọc Diệp
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM)
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NHTM
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại (NHTM)
 NHTM là tổ chức tài chính tiền gởi và cho vay tiền
 NHTM là nơi trực tiếp giao dịch với công chúng để nhận ký thác , cho
vay và cung ứng những dịch vụ tài chính
 Theo tinh thần luật của các tổ chức tín dụng (công bố ngày 26/12/1997)
và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật của các tổ chức tín dụng (có

trường tài chính trong đó hệ thống NHTM giữ vai trò chủ đạo. Là trung gian
tài chính, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu
cầu về vốn. Như vậy, với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi
vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh
lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất
cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Có thể nói đây là chức
năng quan trọng nhất của NHTM trong nền kinh tế.
 Chức năng trung gian thanh toán.
Trong đời sống hàng ngày diễn ra hàng tỷ lượt giao dịch, nếu như mọi
khoản thanh toán đầu thanh toán đều bằng tiền mặt trao tay thì sẽ kéo theo
hàng loạt các công việc phức tạp và tốn kém, gặp n những rủi ro không lường
trước được. Khi NHTM ra đời và phát triển, trong quá trình làm trung gian
tín dụng Ngân hàng đã thu hút được hầu hết các nhà kinh doanh có quan hệ
buôn bán với nhau mở tài khoản tại Ngân hàng tạo cơ sở cho các Ngân hàng
đứng ra làm trung gian thanh toán. Khi đó, NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho
các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách
hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa,
dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và
các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng
nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ
rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể
chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh
tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải
thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để
thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được
rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn.
Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống
Đa 6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Vũ Ngọc Diệp

Đa 7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Vũ Ngọc Diệp
Thứ hai, NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường, giúp cho các
nhà kinh doanh trong xây dựng quản lý chiến lược.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp
chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế như: quy luật giá trị, quy
luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, theo đó việc sản xuất phải dựa trên cơ sở
đáp ứng nhu cầu thị trường, thoả mãn nhu cầu thị trường về mọi phương diện
không chỉ: giá cả, khối lượng, chất lượng mà còn đòi hỏi thoả mãn trên
phương diện thời gian, địa điểm. Để có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị
trường doanh nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố
và hoàn thiện cơ cấu bộ máy lãnh đạo mà còn phải không ngừng cải tiến máy
móc thiết bị, đưa công nghệ mới vào sản xuất, tìm tòi và sử dụng nguyên vật
liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp. Những hoạt động này
đòi hỏi phải có một lượng vốn đầu tư lớn, nhiều khi vượt quá khả năng của
doanh nghiệp.
NHTM với địa vị là một trung gian tài chính, đem lại thuận lợi cho hoạt
động của các doanh nghiệp thông qua việc giúp các doanh nghiệp đáp ứng nhu
cầu về vốn, đồng thời các doanh nghiệp có thể vận dụng các dịch vụ mà Ngân
hàng cung cấp cho khách hàng để đẩy nhanh hoạt động của mình. Như vậy
NHTM đã góp phần mang doanh nghiệp đến gần với thị trường hơn. Việc vay
vốn từ Ngân hàng cũng thúc đẩy các doanh nghiệp phải có phương án sản xuất
tối ưu và có hiệu quả kinh tế thì mới có thể trả lãi và trả vốn cho Ngân hàng.
Các phương án này phải qua sự kiểm tra, thẩm định kỹ lưỡng của Ngân hàng
nhằm hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra.
Thứ ba, NHTM là cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính
quốc tế.
Trong nền kinh tế thị trường, khi các mối quan hệ tài chính ngày càng được
mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các quốc gia trên thế giới

để qua đó làm thay đổi lượng tiền trong lưu thông. Các NHTM sẽ kiểm soát
lạm phát thông qua các hoạt động nghiệp vụ Ngân hàng. Từ đó Ngân hàng xác
định được hướng đầu tư vốn và đề ra các biện pháp xử lý những tác động xấu
ảnh hưởng đến nền kinh tế, làm cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục, góp
Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống
Đa 9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Vũ Ngọc Diệp
phần điều hoà lưu thông tiền tệ, ổn định sức mua của đồng tiền, kiềm chế lạm
phát.
1.1.3 Nguồn vốn cơ bản của NHTM
 Khái niệm và cơ cấu vốn của NHTM.
NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng cơ bản là:
trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền.Để thực hiện
được các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và có lợi
nhuận thì đòi hỏi Ngân hàng thương mại phải có một lượng vốn hoạt động
nhất định.
“Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM lập và huy động được
dùng để đầu tư, cho vay hoặc các dịch vụ kinh doanh khác. Nó chi phối toàn bộ
hoạt động của NHTM. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.”
Cơ cấu vốn của NHTM: bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn huy động và vốn
khác.
• Vốn chủ sở hữu.
Vốn thuộc sở hữu của NHTM là vốn tự có do Ngân hàng tạo lập được thuộc
sở hữu riêng của Ngân hàng, thông qua góp vốn của chủ sở hoặc hình thành từ
kết quả kinh doanh. Vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong các khoản mục tạo
nên nguồn vốn (thường chỉ chiếm 5% trong tổng nguồn vốn) song lại là điều
kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập Ngân hàng. Do tính chất ổn định nên một
mặt Ngân hàng chủ động sử dụng nó vào mục đích kinh doanh của mình, mặt
khác lại được coi như tài sản đảm bảo, gây lòng tin đối với khách hàng và duy

khách hàng khác nhau, Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng nó để cho vay, chiết
khấu, thanh toán…đồng thời Ngân hàng có trách nhiệm phải hoàn trả đúng
hạn cả gốc và lãi hoặc phải thanh toán khi khách hàng có nhu cầu ngay cả khi
chưa đến ngày đáo hạn. Tiền gửi chiếm một tỷ trọng khá lớn trong nguồn vốn
huy động của các NHTM.
Vốn đi vay:
- Vay từ các tổ chức tín dụng khác
Vốn này chỉ được huy động trong thời gian nhất định, khi đó huy động đủ
khối lượng vốn theo dự kiến các Ngân hàng sẽ ngừng việc huy động (bán) kỳ
phiếu, trái phiếu.
• Vốn khác
Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống
Đa 11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Vũ Ngọc Diệp
Điều chuyển vốn:
Ngày nay hệ thống NHTM được tổ chức theo mô hình tổng công ty và các
công ty con gồm Ngân hàng mẹ và các hệ thống các Ngân hàng chi nhánh trực
thuộc. Có một phương thức huy động vốn rất hiệu quả hiện nay là chu chuyển
vốn điều hoà. Do tình hình hoạt động của các chi nhánh tại các địa bàn khác
nhau là khác nhau (do ảnh hưởng của điều kiện phát triển kinh tế của từng
vùng, do phong tục tập quán…) Cho nên những chi nhánh Ngân hàng mà hoạt
động sử dụng vốn vượt quá khả năng huy động vốn thì đầu kỳ lập kế hoạch lên
Ngân hàng mẹ và xin được nhận được một lượng vốn điều hoà cần thiết cho
hoạt động của mình. Còn những Ngân hàng mà khả năng huy động vốn vượt
quá khả năng sử dụng vốn thì đầu kỳ cũng lập kế hoạch sẽ điều chuyển một
lượng vốn về Ngân hàng mẹ để được hưởng lãi suất điều hoà. Như vậy Ngân
hàng mẹ chịu trách nhiệm điều chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu của các
chi nhánh trong cùng hệ thống. Chi phí nhận nguồn vốn điều hoà này thấp hơn
chi phí nguồn vốn huy động nhưng các Ngân hàng chỉ được nhận nguồn vốn

hàng cho khách hàng vay vốn thì Ngân hàng chuyển số tiền cho vay của khách
hàng vào tài khoản tiền gửi của khách hàng ngay trong Ngân hàng. Khi khách
hàng chưa có nhu cầu rút tiền ngay lập thì Ngân hàng có thể sử dụng số tiền đó
để kinh doanh mặc dù với thời hạn rất ngắn.
 Theo tiêu thức kỳ hạn.
Ngày nay các Ngân hàng thường phân chia các khoản tiền gửi theo tiêu thức
này để có thể quản lý tốt lượng tiền gửi, tiền lãi và là cơ sở để Ngân hàng xây
dựng chiến lược dự trữ phù hợp và chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn đó
vào quá trình hoạt động kinh doanh.
- Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là các khoản tiền gửi không có kỳ hạn xác định,
người gửi tiền có thể rút ra bất kỳ lúc nào tuỳ theo nhu cầu của mình. Tuy
nhiên lãi suất của loại tiền gửi này thường thấp hơn so với các loại tiền gửi có
kỳ hạn xác định. Tiền gửi không kỳ hạn đáp ứng nhu cầu của những khách
hàng chưa có dự định rõ ràng trong tương lai. Đây là hình thức chủ yếu được
các doanh nghiệp lựa chọn nhằm mục đích giao dịch trong kinh doanh. Do vậy
lượng tiền gửi không kỳ hạn thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn
vốn huy động tiền gửi của Ngân hàng. Với đặc tính của nguồn tiền này là luôn
biến động cho nên Ngân hàng chỉ được sử dụng một tỷ lệ phần trăm(%) nhất
Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống
Đa 13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Vũ Ngọc Diệp
định của lượng tiền gửi không kỳ hạn, tỷ lệ này tuỳ thuộc vào dự tính của
Ngân hàng về sự ổn định tương đối của lượng tiền huy động. Quản lý tiền gửi
không kỳ hạn là một phần quan trọng của quả lý dự trữ của các Ngân hàng.
- Tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi có sự thõa thuận giữa người gửi tiền
và Ngân hàng về số lượng, kỳ hạn và lãi suất của khoản tiền gửi dó. Do có sự
xác định rõ ràng về kỳ hạn nên Ngân hàng có thể sử dụng để kinh doanh với
thời hạn tương ứng. Tuy nhiên cũng có trường hợp ngoại lệ Ngân hàng có thể
chuyển đổi một phần tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Do đặc

chi tiêu trong tương lai. Phương thức gửi tiền tiết kiệm chủ yếu là nộp tiền trực
tiếp vào Ngân hàng hoặc gián tiếp chuyển thu nhập dưới hình thức chuyển qua
tài khoản.
Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Loại hình này khá phổ biến ở các nước phát
triển, thường sử dụng với những hộ có thu nhập thấp và trung bình. Những
người để dành một khoản tiền gửi vào Ngân hàng (Thông thường là các khoản
tiền đều đặn hàng năm) với ý định tích luỹ tiền cho một mục đích nhất định
trong tương lai như xây dựng nhà cửa, mua ôtô… và cũng được hưởng lãi trên
số tiền gửi như các loại tiết kiệm khác. Khi có nhu cầu sử dụng tiền vào mục
đích nói trên, nếu số dư của khoản tiết kiệm đó chưa đủ thì Ngân hàng có thể
hỗ trợ thêm một phần dưới hình thức cho vay với một lãi suất hợp lý đảm bảo
quyền lợi cho cả hai bên. Đây là một hình thức huy động vốn trung và dài hạn
khá hiệu quả, có tính chất ổn định, đồng thời có tác dụng tích cực trong việc hỗ
trợ cho người dân về việc mua sắm nhà cửa, phương tiện.
- Tiền gửi thanh toán: Là các khoản ký gửi của cá nhân, tổ chức, doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh không nhằm mục đích tìm kiếm thêm thu nhập mà
để được hưởng các dịch vụ thanh toán của Ngân hàng, thông thường các
khoản tiền gửi thanh toán có số lượng lớn. Mặt khác một số Ngân hàng thường
ưu tiên hơn đối với các doanh nghiệp mở tài khoản tại Ngân hàng và phải có số
dư nhất định trên tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng. Các khoản tiền gửi này
Ngân hàng phải chịu chi phí thấp, phải quản lý chính xác khâu dự trữ nhưng
lại được sử dụng một khoản tiền lớn phục vụ cho các hoạt động của mình.
- Các khoản tiền gửi thanh toán một mặt làm phát triển hệ thống thanh toán
không dùng tiền mặt qua hệ thống Ngân hàng, tiết kiệm chi phí trong lưu
Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống
Đa 15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Vũ Ngọc Diệp
thông, mặt khác kiểm soát được hoạt động của các doanh nghiệp. Khi thực
hiện chức năng là trung gian thanh toán cho nền kinh tế, Ngân hàng tạo được

là món tiền nhỏ, chi phí huy động lớn)
Giấy tờ có giá (kỳ phiếu, trái phiếu…)
Tổng tiền gửi
(Chỉ tiêu này có ưu điểm là có kỳ hạn ổn định, chi phí huy động thấp, món
tiền lớn. Tuy nhiên có nhược điểm lớn là khó huy động từ cá nhân và các
TCKT. Chủ yếu vẫn là từ các NHTM hoặc NHNN)
 Chỉ tiêu huy động theo kỳ hạn:
Tiền gửi ngắn hạn
Tổng tiền gửi
(Tiền gửi ngắn hạn thường có chi phí huy động cao > NH sẽ cân đối
huy động nguồn tiền này ở 1 tỷ lệ vừa phải; theo luật NH chỉ được phép
dùng tối đa 30% vốn ngắn hạn để tài trợ các khoản dư nợ cho vay trung
dài hạn)

Tiền gửi chung và dài hạn
Tổng tiền gửi
(Tiền gửi trung dài hạn có chi phí huy động thấp > NH rất thích huy
động được nguồn tiền này trong thời điểm LS có xu hướng tăng dần trong
tương lai.)
 Chỉ tiêu:
Vốn huy động
Vốn tự có
(Chỉ tiêu này cho thấy đòn bẩy tài chính của Ngân hàng. Chỉ tiêu này càng
lớn thì hoạt động tài chính của NH càng an toàn, nếu chỉ tiêu này ở ngưỡng
khoảng 15 – 20 lần chứng tỏ NH đang hoạt động trong vùng an toàn với hệ số
đòn bẩy hợp lý)
 Chỉ tiêu:
Vốn huy động
Tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này đánh giá tỷ lệ vốn huy động được so với tổng nguồn vốn, cho

Vòng quay HĐ vốn càng lớn cho thấy NH sử dụng vốn càng hiệu quả; một
mặt nữa phản ánh kỳ hạn các khoản vay và gửi tiền tại NH là các kỳ hạn ngắn.
 Chỉ tiêu: Tỷ trọng các loại tiền gửi theo từng sản phẩm huy động
-
Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn
Tổng tiền gửi
-
Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn
Tổng tiền gửi
-
Tiền gửi ký quỹ
Tổng tiền gửi
Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống
Đa 18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Vũ Ngọc Diệp
-
Tiền gửi tiết kiệm bậc thang
Tổng tiền gửi
-
Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn
Tổng tiền gửi
-
Tiền gửi tiết kiệm tích lũy
Tổng tiền gửi
Chỉ tiêu này thể hiện cơ cấu vốn huy động theo các tiêu thức: thời gian, loại
tiền, sản phầm: tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm,thẻ tín dụng,thanh toán
POS
1.3. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG
VỐN CỦA NHTM

làm tốt công việc của mình. Như vậy, cạnh tranh vừa là thách thức vừa là một
nhân tố thúc đẩy sự phát triển chất lượng các hoạt động Ngân hàng trong đó
có hoạt động huy động vốn.
 Thứ tư, yếu tố thuộc về văn hóa – xã hội, tâm lý khách hàng.
Khách hàng của Ngân hàng bao gồm những người có vốn gửi tại Ngân hàng
và những đối tượng sử dụng vốn đó. Về môi trường xã hội ở các nước phát
triển, khách hàng luôn có tài khoản cá nhân và thu nhập được chuyển vào tài
khoản của họ. Nhưng ở các nước kém phát triển, nhu cầu dùng tiền mặt
thường lớn hơn. Ở khoản mục tiền gửi tiết kiệm có hai yếu tố quan trọng tác
động vào là thu nhập và tâm lý của người gửi tiền. Thu nhập ảnh hưởng đến
nguồn vốn tiềm tàng mà Ngân hàng có thể huy động trong tương lai. Còn yếu
tố tâm lý ảnh hưởng đến sự biến động ra vào của các nguồn tiền. Tâm lý tin
tưởng vào tương lai của khách hàng có tác dụng làm ổn định lượng tiền gửi
vào, rút ra và ngược lại nếu niềm tin của khách hàng về đồng tiền trong tương
lai sẽ mất giá gây ra hiện tượng rút tiền hàng loạt vốn là mối lo ngại lớn của
mọi Ngân hàng. Một đặc điểm quan trọng của đối tượng khách hàng là mức độ
thường xuyên của việc sử dụng các dịch vụ Ngân hàng. Mức độ sử dụng càng
cao, Ngân hàng càng có điều kiện mở rộng việc huy động vốn.
Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống
Đa 20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Vũ Ngọc Diệp
1.3.2 Các nhân tố bên trong Ngân hàng.
 Thứ nhất, các hình thức huy động tiền gửi mà Ngân hàng sử dụng.
Để thực hiện tốt công tác huy động tiền gửi, các Ngân hàng thường đưa ra
nhiều hình thức huy động đa dạng. Khối lượng vốn mà Ngân hàng huy động
được phụ thuộc trực tiếp vào các hình thức huy động mà Ngân hàng áp dụng.
Khi áp dụng nhiều hình thức huy động sẽ tạo những cơ hội để người gửi lựa
chọn, đáp ứng được các nhu cầu của người gửi. Mỗi Ngân hàng đều tìm cho
mình những hình thức huy động phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, tâm lý

đồng thời cũng có thể làm khách hàng rơì bỏ gây ra những hậu quả vô cùng
nghiêm trọng trong hoạt động của Ngân hàng, trước hết là trong khâu huy
động vốn. Các nhân viên Ngân hàng là những người mang hình ảnh cho cả
Ngân hàng. Do đó, để tăng cường huy động vốn thì một điều cực kỳ quan trọng
là các nhân viên Ngân hàng phải có đủ những tiêu chí của một nhân viên Ngân
hàng chuyên nghiệp: Hiểu biết khách hàng, Hiểu biết nghiệp vụ, Hiểu biết quy
trình, Hoàn thiện phong cách phục vụ.
 Thứ tư, uy tín của Ngân hàng.
Trên thực tế, mỗi Ngân hàng đã, đang và sẽ tạo được một hình ảnh riêng
của mình trong lòng khách hàng. Một Ngân hàng lớn, sẵn có uy tín sẽ có lợi thế
hơn trong hoạt động huy động vốn tiền gửi. Sự tin tưởng của khách hàng sẽ
giúp cho Ngân hàng có khả năng ổn định khối lượng vốn huy động và tiết kiệm
chi phí huy động. Từ đó Ngân hàng có thể đề ra chiến lược dự trữ dễ dàng hơn.
Thậm chí trong điều kiện lãi suất gửi tiền tại Ngân hàng có uy tín thấp hơn đôi
chút, những người có tiền vẫn lựa chọn Ngân hàng đó để gửi mà không tìm
những nơi trả lãi hấp dẫn hơn vì họ tin rằng ở đây đồng vốn của mình sẽ tuyệt
đối an toàn.
 Thứ năm, Trình độ công nghệ Ngân hàng.
Công nghệ Ngân hàng ngày càng cao, khách hàng sẽ càng cảm thấy hài lòng
về dịch vụ được Ngân hàng cung ứng và yên tâm hơn khi gửi tiền tại các Ngân
hàng. Đây là một yếu tố rất quan trọng giúp Ngân hàng cạnh trạnh phi lãi suất
vì khách hàng mà Ngân hàng phục vụ, không quan tâm đến lãi suất mà quan
tâm đến chất lượng và loại hình dịch vụ mà Ngân hàng cung ứng. Với cùng
Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống
Đa 22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Vũ Ngọc Diệp
một lãi suất huy động như nhau, Ngân hàng nào cải tiến chất lượng dịch vụ tốt
hơn, tạo sự thuận tiện hơn cho khách hàng thì sức cạnh tranh sẽ cao hơn.
Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống

Việt Nam, Sacombank đã nhận được rất nhiều các bằng khen và giải thưởng
có uy tín trong nước và quốc tế, điển hình như:
“Ngân hàng bán lẻ của năm tại Việt Nam 2008” do Asian Banking &
Finance bình chọn
“Ngân hàng nội địa tốt nhất Việt Nam 2008” do The Asset bình chọn
“Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2008” do Global Finance bình chọn
Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống
Đa 24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Vũ Ngọc Diệp
“Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2008” do Finance Asia bình chọn
“Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2007” do Euromoney bình chọn
“Ngân hàng bán lẻ của năm tại Việt Nam 2007” do Asian Banking and
Finance bình chọn
“Ngân hàng tốt nhất Việt Nam về cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 2007”
do Cộng đồng các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Châu Âu (SMEDF) bình chọn
“Ngân hàng có hoạt động ngoại hối tốt nhất Việt Nam năm 2007” do
Global Finance bình chọn
Sacombank được đánh giá và xếp loại A (loại cao nhất) trong bảng xếp
loại của Ngân hàng Nhà nước cho năm 2006 và xếp thứ 04 trong ngành tài
chính Ngân hàng tại Việt Nam do chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc
UNDP đánh giá cho năm 2007; giành cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ về
những thành tích dẫn đầu phong trào thi đua ngành Ngân hàng trong năm
2007, bằng khen của Thủ tướng chính phủ dành cho các hoạt động từ thiện
trong suốt các năm qua, bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2008 vỡ cú
những đóng góp tích cực vào các hoạt động kiềm chế lạm phát trong nền kinh
tế, cờ thi đua của Thống đốc NHNN Việt Nam về những thành tích dẫn đầu
phong trào thi đua ngành Ngân hàng trong năm 2008
Sacombank có 02 đối tác chiến lược nước ngoài uy tín đang nắm gần 30%
vốn cổ phần là Dragon Financial Holdings thuộc Anh Quốc, góp vốn năm 2001


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status