Thiết kế phân xưởng sản xuất metanol
LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thế giới nói chung và Việt
Nam nói riêng, ngành công nghiệp tổng hợp hữu cơ chiếm một vị trí hết sức quan
trọng, đặc biệt ngành công nghiệp tổng hợp hữa cơ hóa dầu đã góp phần cho đời sống
con người, phụ vụ cho sự phát triển không ngừng của nhân loại.
Metanol là một trong những nguyên liệu rất quan trọng để sản xuất các hợp chất
hữu cơ trong công nghiệp hóa chất, khoảng 85% lượng Metanol sản xuất được sản
xuất được sử dụng như là nguyên liệu đầu hay là dung môi trong công nghiệp tổng
hợp hóa học. Phần lớn lượng methanol được dùng để sản xuất formandehyt, dung làm
chất trung gian trong tổng hợp metylmetacrylat, dimetylterephtalat, dimetylsunfat,
methanol còn được dùng làm chất metyl hóa để điều chế metylamin, dimetylanilin.
Ngoài ra methanol còn được sử dụng trong hỗn hợp với các sản phẩm dầu mỏ
để làm nguyên liệu, điều chế phẩm nhuộm và dược phẩm, ứng dụng rộng rãi trong lĩnh
vực y học. Ngày nay, nhu cầu sử dụng methanol làm nhiên liệu cho động cơ, thay thế
cho xăng đang một ngày tăng lên vì trữ lượng dầu mỏ đang cạn dần.
Metanol được sản xuất từ những phương pháp khác nhau, đi từ nhiều nguyên
liệu khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay do công nghiệp chế biến khí ngày càng phát triển,
lượng khí tổng hợp được sản xuất từ khí tự nhiên và các quá trình chế biến dầu ngày
càng nhiều hơn, nhiều công nghệ mới ra đời. Do đó công nghệ sản xuất methanol từ
khí tổng hợp đang trên đà phát triển, với các loại xúc tác mới có độ chọn lọc, độ
chuyển hóa cao. Nhà máy lọc dầu số một Dung Quất với công suất 6 triệu tấn/ năm
đang hoạt động và đang xây dựng nhà máy lọc dầu số 2 Nghi Sơn, Thanh Hóa với
công suất 7 triệu tấn/ năm. Như vậy công nghiệp chế biến dầu khí ở nước ta đang bước
vào thời kì mới. Do vậy, việc hiểu biết lý thuyết để áp dụng vào khoa học thực tiễn với
các công nghệ tiên tiến đang là vấn đề rất cần thiết đối với mỗi sinh viên. Yêu cầu thiết
kế nhà máy sản xuất methanol hiện nay ở nước ta cũng cần phải sớm thực hiện. “Thiết
kế phân xưởng sản xuất methanol từ khí tổng hợp với năng suất 80.000 tấn/ năm” là
đồ án môn học em cần nghiên cứu và trình bày.
Năm 1988, toàn thế giới sản xuất được 19 triệu tấn, đến năm 1989, sản lượng
methanol sản xuất được là 21 triệu tấn. Trong đó khoảng 85% lượng methanol được sử
dụng trong công nghiệp hóa học như là nguyên liệu đầu hay dung môi cho quá trình
tổng hợp. Phần còn lại được sử dụng làm nhiên liệu và lĩnh vực năng lượng việc sử
dụng này ngày càng tăng.
Dưới góc độ kĩ thuật, methanol có thể thay thế xăng đẻ chạy động cơ, làm dung
môi cho xăng, vecni, làm chất kết dính, điều chế phẩm nhuộm và dược phẩm… ở
GVHD: GS-TS Đào Văn Tường
Page 2
Thiết kế phân xưởng sản xuất metanol
những quốc gia như Nam Mỹ, Châu Á, Metanol làm nguyên liệu động cơ thay thế cho
xăng.
Khả năng sản xuất methanol từ khí tự nhiên và khí tổng hợp đã được ứng dụng
rộng rãi trên toàn thế giới. NHiều nhà máy sản xuất methanol từ khí tự nhiên đã ra đời.
Năm 1988 dây chuyền nhà máy lớn nhất được đặt tại Bantarinat (Nam Chile) bắt đầu
hoạt động với công suất 750.000 tấn/ năm.
I.1.1. Tính chất vật lý của methanol
Metanol là chất lỏng không màu , có mùi đặc trưng tương tự etanol, trung tính,
tan tốt trong nước, rượu, este và hầu hết các dung môi hữu cơ khác, nó ít hòa tan trong
chất béo và dầu bởi tính phân cực của nó. Ngoài ra, methanol còn hòa tan được rất
nhiều hợp chất hữu cơ và các loại muối khác.
Metanol là chất dễ cháy và rất độc với một lượng nhỏ (khoảng 10 ml) cũng có
thể gây mù mắt, với lượng lớn có thể gây tử vong.
Bảng 1: Các thông số vật lý của methanol
Đại lượng
Giá trị
Nhiệt độ đóng rắn
97,68
0
Nhiệt độ điểm ba
-97,56
0
Áp suất điểm ba
0,10768
Pa
Nhiệt hoá hơi ở 101,3 Kpa
1128,8
Điểm bắt cháy cốc hở
15,6
Điểm bắt cháy cốc kín
12,5
0
470
C
I.1.2. Tính chất hóa học của methanol :
Methanol là một rượu no đơn chức. Đặc trưng cho loại hợp chất này là khả
năng phản ứng được quyết định bởi nhóm chức (-OH) các phản ứng của methanol xảy
ra thông qua việc phân chia mối liên kết C-O và O-H, mà đặc trưng là sự thay thế bởi
(-H) hoặc ( -OH), vì oxi có độ âm điện (3,5) lớn hơn cacbon (2,5) và hydro (2,2) nên
các liên kết (C-O) và (-OH) phân cực mạng về phía oxi Cδ+→Oδ-←Hδ+. Sự phân cực đó
thể hiện ở moomen lưỡng cực (µ, D).
O
1,2
1,5
105
0
CH3
H
a. Tính axit, phản ứng tạo muối
methanol luôn thể hiện tính chất của một axit yếu, nó phân ly yếu hơn cả nước
do gốc alkyl có hiệu ứng +I. Hiệu ứng này đã làm giảm sự phân cực của liên kết O-H.
Khi thay thế nguyên tử H trong nhóm –CH3 của methanol cũng thay đổi. Metanol có
tính axit yếu, nó tác dụng được với kim loại kiềm.
d. Phản ứng dehydrat hóa tạo thành alken
Tương tự như ankylhalogen bị dehydrohalogen hóa tạo thành ankyl.
Methanol có thể bị dehyrat hóa theo phản ứng
2 CH3OH → C2H2 + 2 H2O
Để thực hiện phản ứng trên người ta cho hơi Metanol đi qua Al 2O3 nung nóng
hoặc đun với axit sunfuric đặc.
e. Phản ứng dehydro hóa
Hơi methanol đi qua cột chứa xúc tác đồng (Cu) ở nhiệt độ 300 0C, sẽ bị tách
hydro tạo thành aldehyt:
CH3OH → HCHO + H2
f. Phản ứng oxi hóa.
Phản ứng oxi hóa chỉ dung trong công nghiệp, trong điều kiện phòng thí
nghiệm
ta dung
các
chất
oxi hóa
KMnO
+3Cl
H2SOCH
K23)Cr
+3))H
CH3OHngườiHCOOCH
CH3(CH
) -OH
(CHnhư
) COCH
NH2, (CH
)3NH,
NH
CH3OH +1/2O2 → HCHO
+2 H2O 3 2
+HCl
+NH3
Các phản ứng quan trọng của
methanol trong công nghiệp được mô tả ở hình
CH3OH
Acrylic axit
Terephtalic
axit
GVHD:
Tường
CHGS-TS Đào
C HVăn
(COOCH
)
3
CH2=C-COOCH3
6
4
cháy là 4700C.
Hơi methanol dễ dàng bốc cháy ở nồng độ khoảng 5,5 đến 44% thể tích. Áp
dụng áp suất hơi riêng phần ở 120 0C là 128KPa, vì vậy hỗn hợp methanol- không khí
dễ dàng bắt lửa ở một khoảng nhiệt độ rất rộng.
Methanol tinh khiết có tính dẫn điện rất kém. Do vậy, việc xác định điện tích
cũng trở nên quan trọng khi vận chuyển và tồn chứa methanol.
• Phòng cháy:
Trong một không gian kín chứa đựng một lượng lớn methanol thì việc kiểm tra
giới hạn cháy nổ là một việc rất cần thiết. Cần đặt các thiết bị cứu hỏa trong kho chứa.
Phun nước lên các bể chứa để làm mát bể, tránh tiếp xúc với các ngọn lửa.
• Chống cháy:
Nước không thích hợp làm tác nhân cứu hỏa đối với một lượng lớn methanol.
Nên dùng các tác nhân cứu hỏa như: cát, CO2… có thể dập tắt đám cháy nhỏ.
GVHD: GS-TS Đào Văn Tường
Page 6
Thiết kế phân xưởng sản xuất metanol
I.1.3.2. Tồn chứa và vận chuyển:
Tồn chứa với lượng nhỏ:
Với lượng nhỏ methanol dùng trong phòng thí nghiệm nên đựng bằng can kim
loại. Một lượng lớn hơn được chứa trong các bom bằng thép. Không nên dùng các
thùng chứa bằng nhựa để đựng methanol vì chúng có tính thấm.
Tồn chứa với lượng lớn:
Lượng lớn methanol được chưa trong các bể thép hình trụ tương ứng như bể
chứa các sản phẩm dầu mỏ. Các bể chứa hình trụ có thể tích khoảng vài trăm đến hơn
10.000 m3. Với những bể có mái cố định, các phép đo đặc biệt phải thường xuyên tiến
hành để ngăn chặn sự hình thành khí dễ bắt lửa trên bề mặt chất lỏng. Để tránh các vấn
đề trên, ở các bể lớn người ta thường lắp các mái nổi nhưng phải chú ý bảo vệ sản
- MTBE:
Ete này được tạo ra do phản ứng giữa methanol với iso-buten dựa trên sự trao
đổi ion axit. Ete này có trị số octan cao, là cấu tử cực kì quan trọng đối với việc sản
xuất xăng không dùng phụ gia chì. Vì vậy mà lượng methanol sử dụng cho mục đích
này ngày càng tăng. Năm 1988, khoảng 20 % methanol dùng cho tổng hợp MTBE.
Người ta dự tính tốc độ gia tăng lên đến 12% hàng năm. Sự có mặt của iso penten
đang gây khó khăn cho việc tổng hợp MTBE. Mặc dù hiện nay người ta đã cải tiến
bằng cách xây dựng các nhà máy đồng phân butan và hydro hóa isobutan.
- Axit axetic (CH3COOH)
Khoảng 9%metanol được dùng để tổng hợp axit axetic ước tính tốc độ gia tăng
hàng năm 6%. Axit axetic sản phẩm của quá trình cacbonyl hóa methanol bởi CO ở
pha lỏng với các xúc tác đồng nhất niken-iodua, coban-iotdua. Công nghệ BASF làm
việc ở 6,5 MPa, một số công nghệ hiện đại hơn như Monsanto làm việc ở 5MPa. Bằng
cahcs thay đổi điều kiện thì việc tổng hợp cũng có thể được trợ giúp để tạo ra alhydric
axit hoặc metyl axetat.
- Các sản phẩm tổng hợp khác:
Sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ, để tìm những hướng mới cho việc thay thế
nhiên liệu, người ta đã phát triển các quá trình nghiên cứu các quá trình nhiên liệu từ
khí với methanol như một chất trung gian. Hãng Mobil của Hoa Kỳ đã đóng góp đáng
kể cho sự phát triển của quá trình này. Họ đã nghiên cứu các quá trình công nghệ cho
phản ứng methanol trên xúc tác zeolit để tổng hợp xăng. Cho tới nay, vấn đề quan
trọng nhất trong công nghiệp là quá trình tổng hợp methanol thành xăng (MTG). Một
nhà máy liên doanh giữa chính phủ Tân Tây Lan và hãng Mobil đã chuyển hóa 4500
tấn methanol từ khí thiên nhiên thành 1700 (tấn xăng/ ngày). Từ khi giá của sản phẩm
dầu không tăng như mong đợi, thì ngày nay người ta đang nghiên cứu các phương
thức chế biến methanol nguyên chất và có giá trị kinh tế cao hơn.
Các hướng tổng hợp khác sẽ trở nên quan trọng khi dầu mỏ ngày càng khan
hiếm. Quá trình tổng hợp methanol thành các hợp chất thơm (MTA) thành các hợp
chất olefin (MTO). Các sản phẩm này được ứng dụng rộng rãi do nó ít gây ảnh hưởng
đến môi trường. Cũng giống như hỗn hợp butan-propan, methanol được sử dụng như
nhiên vấn đề giá cả và sự vượt trội về mặt kĩ thuật hoặc các vấn đề về môi trường làm
cảm trở quá trình sản xuất khí tổng hợp từ than đá; còn giá cả và ích lợi của dầu thô
cũng không đáng kể. Gần đây, tất cả dự án có quy mô lớn về tình hình sử dụng than đá
cũng bị ngừng lại. Các nhà có quy mô vận hành lớn đang bị đóng cửa hoặc đã được cải
biến để sử dụng các nguyên liệu khác.
Metanol sử dụng làm nguyên liệu cho động cơ xăng:
Việc sử dụng methanol làm nhiên liệu cho động cơ ôtô đã được đề cập trong
những năm 1920. Tuy nhiên việc sử dụng này đã bị hạn chế ở những động cơ cao cấp
như những loại xe: xe đua, máy bay. Quá trình cháy của methanol trong động cơ đã
được nghiên cứu trong một thời gian dài. Chính vì vậy mà methanol được xem như
một nguyên liệu lí tưởng cho nhiều động cơ do nhiệt hóa hơi cao và năng suất tỏa
nhiệt thấp nên rất thuận lợi cho hoạt động của các loại moto.
Bảng 2. So sánh tính chất của methanol và xăng sử dụng trong động cơ oto.
Tính chất
Xăng
Metanol
GVHD: GS-TS Đào Văn Tường
Page 9
Thiết kế phân xưởng sản xuất metanol
Tỷ trọng (kg/l)
0,739
0,793
91÷94
Áp suất hơi bão hòa Reid (KPa)
64
32
Giới hạn điểm sôi 0C
30-÷190
65
Nhiệt hóa hơi (kj/kg)
335
1174
20
122
Làm lạnh dưới dạng hơi với 1 tỷ
lượng không khí (0C)
Metanol có thể được ứng dụng trong nhiều hỗn hợp với sản phẩm dầu mỏ thông
thường.
Trái ngược với methanol nguyên chất, việc sử dụng methanol trong nhiên liệu
động cơ ô tô không bị giới hạn bởi vì xét đến tính hòa lẫn và áp suất hơi. Việc sử dụng
methanol để tổng hợp MTBE có thể vượt qua số lượng ở mức bình thường của nó.
Acro-nhà sản xuất MTBE lớn nhất thế giới đang thúc đẩy việc sử dụng oixnol một hỗn
hợp của methanol và tert butanol.
Một phát triển nữa trong việc sử dụng methanol là quá trình Lurgi octamix. Quá
trình này sử dụng xúc tác bôi trơn và các điều kiện bổ trợ ( nhiệt độ cao, nồng độ CO 2
thấp, nồng độ CO cao) trong quá trình tổng hợp methanol. Etanol và các ancol cao
hơn. Hỗn hợp này có thể sử dụng trực tiếp trong nhiên liệu động cơ. Sự có mặt của các
ancol cao hơn là đáng giá không làm tăng chỉ số octan mà chúng còn có tác dụng như
chất hòa tan methanol. Tuy nhiên, quá trình này vẫn không được sử dụng trong công
nghiệp qui mô lớn.
Ngoài ra, methanol được sử dụng làm tác nhân làm lạnh trong những hệ thống
làm lạnh. Nó cũng được sử dụng như một chất chống đông, trong các chu trình gia
nhiệt và làm mát, bởi vì methanol có độ nhớt thấp khi ở nhiệt độ thấp. Tuy nhiên
không được sử dụng rộng rãi làm chất chống đông ở các động cơ.
Metanol cũng có thể được dùng làm tác nhân hấp phụ trong thiết bị rửa khí.
Tách được CO2 và H2S ở nhiệt độ thấp là ưu điểm của methanol trong quá trình tinh
chế khí mà không cần các quá trình chuyển hóa khác sâu hơn.
Một lượng lớn methanol được sử dụng làm chất bảo vệ đường ống dẫn khí tự
nhiên chống lại sự hình thành hydrat ở nhiệt độ thấp. Metanol được thêm vào khí tự
nhiên ở các trạm bơm, để tạo thành lỏng trong các ống dẫn và thu lại cưới đường ống.
Metanol được ứng dụng làm dung môi cũng có giới hạn dù các hỗn hợp của nó
có thể được sử dụng rộng rãi.
II. Nguyên liệu: Khí tổng hợp
II.1.Tính chất của H2
II.1.1.Tính chất vật lý:
GVHD: GS-TS Đào Văn Tường
Page 11
oxit kim loại như Mo, W… Hydro cũng cháy trong khí quyển Clo tạo thành HCl, đây
là một phương pháp điều chế axit clohidrit trong công nghiệp. Hydro chỉ phản ứng với
brom, iot và lưu hình ở nhiệt độ cao. Phản ứng giữa hydro và nito được dùng trong
công nghiệp để tổng hợp ammoniac. Phản ứng này được thực hiện ở nhiệt độ cao, áp
suất cao và có mặt chất xúc tác.
c. Tính oxi hóa của hydro
Khi cho một dòng khí hydro đi qua kim loại kiềm hoặc kiềm thổ ở nhiệt độ cao
sẽ thu được hydrua chứa anion Hˉ.
~4000 C
2Na + H2
→ 2NaH
II.2. Tính chất của cacbon oxyt CO
II.2.1. Tính chất vật lí:
CO là chất khí không màu, không mùi, khó hóa lỏng có khối lượng phân tử M =
28,009 , nóng chảy ở nhiệt độ t nc = - 205,1 0C , nhiệt độ sôi ts = 191,50C, tan ít trong
GVHD: GS-TS Đào Văn Tường
Page 12
Thiết kế phân xưởng sản xuất metanol
nước, rất bền với nhệt độ, chỉ tham gia phản ứng ở nhiệt độ cao, cacbonoxyt là chất
khí rất độc. Ở nhiệt độ thường CO ít hoạt động, các phản ứng của nó thưởng xảy ra ở
nhiệt độ cao.
II.2.2. Tính chất hoá học.
a. Phản ứng với oxy
ở nhiệt độ thường, CO không phản ứng với oxi, nhưng nó cháy trong không khí
ở nhiệt độ 7000C.
CO(k) + 1/2O2 → CO2(k)
CO2 +H2
f. Phản ứng metan hóa.
CO +3H2
↔
CH4 +H2O
II.3. Tính chất của cacbon dioxyt CO2
II.3.1. Tính chất vật lý
GVHD: GS-TS Đào Văn Tường
Page 13
Thiết kế phân xưởng sản xuất metanol
Cacbon dioxyt còn gọi là khí cacbonic hoặc anhydric cacbonic công thức là CO 2,
khối lượng phân tử MCO2 = 44,008.
Cacbon dioxyt là chất khí không màu, có mùi và vị chua, nặng hơn không khí, dễ
hoá lỏng và hoá rắn, ít tan trong nước, không độc nhưng làm ngạt thở nếu nồng độ lớn.
Khí CO2 cùng với CH4, CFC (carbon cloroflorua), hơi nước là những chất hấp thụ
khoảng 20% năng lượng mặt trời chiếu xuống trái đất. Tuy nhiên, CO 2 cho nhiệt độ
trên mặt đất tăng lên (hiệu ứng nhà kính).
II.3.2. Tính chất hoá học.
Phân tử CO rất bền ở điều kiện thường, ở nhiệt độ cao nó bị phân huỷ một phần:
2CO2
→
II.4.1. Tính chất vật lý
ở nhiệt độ thường, metan luôn luôn ở dạng khí, nó có nhiệt độ sôi rất thấp θs=1600C. Tỷ khối của metan d = 0,416.
II.4.2. Tính chất hóa học
Metan là chất ít họat động hóa học, chúng trơ với các tác nhân ion như axit, bazơ,
chất oxihoá trong môi trường nước, nhưng chúng dễ dàng tham gia phản ứng thế với
GVHD: GS-TS Đào Văn Tường
Page 14
Thiết kế phân xưởng sản xuất metanol
nguyên tử và gốc tự do, nó chỉ có phản ứng thế và phân huỷ, không tham gia phản ứng
cộng.
a) Tác dụng với halogen
-
Tác dụng với halogen cho phản ứng phân huỷ
CH4 + 2Cl2
→
C + 4HCl
- Tác dụng với Halogen cho phản ứng thế: Clo và Br có thể tác dụng với
metan ở nhiệt độ thường dưới tác dụng của ánh sáng:
ν
CH 4 +2Cl2 h
→
CO2 +H2O
Nhiệt độ cao tương đối cao phản ứng oxihoá tiến hành mãnh liệt, không cháy.
Quá trình này thường dùng xúc tác là muối Mn tạo thành các axit hữu cơ.
CH4 + 2O2
→
CO2 +H2O
e) Reforming hơi nước sơ bộ
CH4 + H2O
→
CO +3H2
CH4 +H2O
→
CO2 +4H2
GVHD: GS-TS Đào Văn Tường
Page 15
Thiết kế phân xưởng sản xuất metanol
nghiệp là phương pháp ưu việt. Để tổng hợp metanol từ khí tự nhiên phải qua công
nghệ chuyển hoá khí tự nhiên thành khí tổng hợp. Khí tổng hợp là một trong các
nguồn nguyên liệu hóa học quan trọng nhất hiện nay. Ban đầu khí tổng hợp chủ yếu
được dùng để tổng hợp Amoni, đây là một hợp chất hóa học có ứng dụng rất lớn.
Trong quá trình tổng hợp amoni, các nhà khoa học đã phát hiện và nghiên cứu thành
công quá trình tổng hợp các hợp chất hữu cơ chứa Oxy trong đó có metanol.
Khí tổng hợp là hỗn hợp của cacbon monoxit (CO) và hydro (H 2) với thành
phần rất đa dạng tuỳ theo khí tổng hợp. Từ đó khí tổng hợp trở thành nguồn nguyên
liệu không thể thiếu được trong công nghiệp hóa học.
II. Các phương pháp sản xuất khí tổng hợp
GVHD: GS-TS Đào Văn Tường
Page 17
Thiết kế phân xưởng sản xuất metanol
Khí tổng hợp có thể sản xuất từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau, theo nhiều
phương pháp sản xuất khác nhau. Nguồn nguyên liệu để sản xuất khí tổng hợp có thể
là rắn hay khí, thông thường người ta sản xuất khí tổng hợp theo các con đường sau
đây:
-
-
Đi từ than cốc:
C + H 2O
→
→ CO + 2H2 + 35,7
, Kj/mol
• Phản ứng chuyển hoá khô
CH4 + CO2
→
2CO + 2H2 - 246
, Kj/mol
Phản ứng chuyển hoá CH4 bởi hơi nước tạo CO và H 2 là phản ứng quan trọng
nhất, cho tỷ lệ CO/H2 thích hợp với quá trình tổng hợp Metanol.
III.2. Các công nghệ sản xuất
III.2.1. Công nghệ chuyển hoá bằng hơi nước
GVHD: GS-TS Đào Văn Tường
Page 18
Thiết kế phân xưởng sản xuất metanol
Đây là cơng nghệ sử dụng phổ biến cho q trình tổng hợp Metanol và
Amoniac. Cơng nghệ này được hãng Haldor Topsoe (Đan mạch) sử dụng sản xuất khí
tổng hợp cho q trình tổng hợp Metanol và Amoniac.
CO2
Q trình này dựa trên cơ sở phản ứng giữa metan với oxi và hơi nước.
Tiêu biểu cho cơng nghệ này là cơng nghệ của hãng Howe Baker Engineers.
GVHD: GS-TS Đào Văn Tường
Page 19
Thiết kế phân xưởng sản xuất metanol
O
2
Hơi nước
Khí tự nhiên
CO2 tuần hoàn
(không bắt buộc)
1
3
CO thành phẩm
2
4
5
Khí tổng hợp
Hơi nước
Oxy
Thiết bò
phản ứng
sơ cấp
Thiết bò phản
ứng thứ cấp
Khí tổng hợp
Hình 5- Sơ đồ cơng nghệ q trình tổ hợp
ưu điểm của q trình chuyển hố tổ hợp là áp suất có thể tăng tới 3,5- 4,5 MPa
do sự giảm nhiệt độ đầu ra của giai đoạn chuyển hóa sơ cấp, dẫn đến giảm được 50%
cơng suất máy nén so với q trình chuyển hóa bằng hơi nước.
IV. Q trình làm sạch khí tổng hợp.
Khí tổng hợp trước khi đem đi sử dụng cần phải làm sạch cẩn thận vì các hợp
chất của lưu huỳnh, các axit làm hỏng xúc tác. Khí CH 4, CO2, N2... Tuy khơng ảnh
hưởng tới xúc tác nhưng làm giảm áp suất riêng phần của CO và H 2, làm giảm hiệu
suất và phải tăng thể tích xúc tác. Do đó khí tổng hợp phải đảm bảo u cầu:
-Lượng hợp chất chứa lưu huỳnh và axit khơng q 0,0028 g/m3.
-Bụi khơng q 0,04 g/m3.
-Lượng khí trơ khơng q 15% nếu lượng khí trơ từ 20 đến 25% thì sản phẩm
ra sẽ xấu.
-Phương pháp làm sạch:
Dùng nước rửa bụi và nhựa ở trạng thái tổng hợp, muốn làm sạch những hạt bụi
nhỏ phải dùng thiết bị lọc điện, sau đó tiến hành tách lưu huỳnh.
GVHD: GS-TS Đào Văn Tường
Công nghệ tổng hợp Metanol từ khí tổng hợp
I. Cơ sở hoá - lý của quá trình
Sự tạo thành Metanol từ khí tổng hợp được tiến hành theo phản ứng sau:
CO + 2H2 →
, ∆H300K = - 90,77 KJ/mol. (1)
CH3OH
CO2 + 3H2 → CH3OH + H2O, ∆H300K = - 49,16 KJ/mol. (2)
Cả hai phản ứng trên đều tỏa nhiệt. Vì vậy để thuận lợi cho phản ứng tổng hợp
metanol ta cần tăng áp suất và giảm nhiệt độ. Ngoài hai phản ứng tạo thành metanol
trên còn có phản ứng phụ thu nhiệt.
CO2 + H2 →
, ∆H300K= 41,21KJ/mol. (3 )
CO + H2O
Để đơn giản các phản ứng (1) và (3) có thể coi là phản ứng độc lập, sự chuyển
hóa của cacbondioxit thành metanol ở phương trình (2) là kết quả của phương trình (1)
và (3). Như vậy hằng số cân bằng K2 có thể được biểu diễn như sau:
K2 = K1.K3
Khi cần tính toán cụ thể, các hằng số cân bằng được xác định bằng các phương
trình dưới đây:
K1 =
[f
PCO .PH
3
3
2
= K ϕ .K P
1
2
.ϕ H O PCO .PH O
.
= K ϕ .K ϕ
.
ϕ
P
.
P
CO H
CO
H
CO
2
+ Quá trình ở áp suất thấp 5 ... 10 MPa.
GVHD: GS-TS Đào Văn Tường
Page 23
Thiết kế phân xưởng sản xuất metanol
Bảng 4. Độ chuyển hóa của CO2 và CO phụ thuộc vào áp suất và nhiệt độ
Nhiệt độ
Độ chuyển hóa CO
0
5MPa
96,3
73,0
25,4
-2,3
-12,8
C
200
250
300
350
400
10Mpa
92,4
71,0
50,0
40,0
Nguyên liệu được sử dụng là khí tổng hợp nhận được từ quá trình reforming hơi
nước gồm 15% CO, 8%CO2, 74%H2, 3%CH4.
Quá trình áp suất thấp có ưu điểm cơ bản là vốn đầu tư và giá thành sản phẩm thấp,
có thể linh hoạt lựa chọn quy mô của nhà máy. Hiện nay trên thế giới sử dụng công
nghệ tổng hợp Metanol ở áp suất thấp là chủ yếu.
Phản ứng tạo thành Metanol là phản ứng xúc tác dị thể điển hình có thể được
mô tả bằng cơ chế hấp phụ- nhả hấp phụ. Bản chất của các trung tâm hoạt động trong
xúc tác Cu-ZnO-Al2O3 ở điều kiện công nghiệp vẫn đang được nghiên cứu. Các loại
tâm hoạt động trong quá trình tổng hợp Metanol ở áp suất thấp có thể là sự phân tán
của ion Cu+1 trong pha ZnO. Mặt khác có dấu hiệu cho thấy Cu cũng xúc tiến cho việc
tạo thành Metanol.
Thành phần khí nguyên liệu đặc biệt là tỷ lệ CO/H 2 đóng vai trò quan trọng
trong việc xác định hoạt tính và độ chọn lọc của xúc tác trong sản xuất Metanol. Các
nghiên cứu còn cho thấy có nhiều hướng tạo thành metanol từ CO và CO 2 trên các tâm
hoạt động khác nhau trong xúc tác.
Al2O3 tồn tại trong xúc tác dưới dạng tinh thể. Chức năng của Al 2O3 trong xúc
tác Cu-ZnO-Al2O3 bao gồm:
+ Chống lại sự kết dính các hạt Cu mịn
+ ổn định sự phân tán cao của hệ xúc tác Cu-ZnO
+ Tạo thành các lỗ trống trên bề mặt bằng cách kết hợp Al 2O3 vào mạng lưới
của Cu.
Tuy nhiên Al2O3 đóng vai trò quan trọng là hoạt hóa cấu trúc cho xúc tác CuZnO, bằng cách cải thiện độ bền cơ và hoạt tính lâu dài của xúc tác.
GVHD: GS-TS Đào Văn Tường
Page 24
Vì vậy ngày nay người ta nghiên cứu và sử dụng hệ xúc tác chứa đồng, phản ứng thực
hiện ở áp suất thấp.
GVHD: GS-TS Đào Văn Tường
Page 25