Báo cáo thực tập
Học viện Hành chính
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm vừa qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt
Nam, nước ta đã bước sang một giai đoạn mới (được đánh dấu từ sau Đại hội
Đảng VI năm 1986). Quan điểm đổi mới toàn diện đất nước, đặc biệt là có
nhiều sự thay đổi trong tư duy cũng như nhận thức đối với sự phát triển kinh tế
của đất nước.
Bước vào một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của tri thức, kỉ nguyên của hội
nhập và toàn cầu hóa, Đảng và nhà nước ta đã xác định phải xây dựng đất nước
phát triển nhanh, mạnh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)
trên nền tảng công nghiêp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), đưa nước ta kịp tiến
với các nước trong khu vực và trên thế giới. Và thực tế đã chứng minh qua
những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được. Chúng ta không chỉ có những thành
tựu trong phát triển kinh tế mà song song cùng với đó là sự phát triển về văn
hóa, xã hội. Bởi vì trong bất cứ nền văn hóa của quốc gia nào, dân tộc nào trên
thế giới, di tích lịch sử danh lam thắng cảnh đều được coi là loại hình văn hóa
vật chất quan trọng nhất như là thước đo để đánh giá trình độ phát triển văn
hóa, quốc gia dân tộc ấy qua từng thời kì lịch sử. Di tích lich sử - danh lam
thắng cảnh hay di sản văn hóa là kết tinh giá trị văn hóa, giá trị tự nhiên, là biểu
tượng của ý trí quật cường, tinh thần lao động sáng tạo, sự thông minh, tài hoa
và lòng tự hào của một dân tộc, một đất nước.
Đất nước Việt Nam có một nền văn hiến lâu đời. Mỗi thước đất đều ghi
bao chiến công hiển hách của ông cha ta. Không một đất nước nào như nước ta,
số lượng các di sản văn hóa lại nhiều như thế, nó đều mang dấu ấn do thiên
nhiên ban tặng, trí tuệ hay bàn tay tài hoa của con người qua các giai đoạn lịch
sử.
Quảng Ninh - miền đất giàu đẹp phía Đông Bắc của Tổ quốc, nơi có vị
trí đặc biệt quan trọng, nơi có những di sản văn hóa của dân tộc và thế giới.
Học viện Hành chính
NỘI DUNG
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC (QLNN) ĐỐI
VỚI DI SẢN VĂN HÓA ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1. Di sản văn hóa (theo Luật Di sản văn hóa 2001) bao gồm di sản văn
hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần. vật chất có giá
trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở
nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
+ Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia.
+ Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền băng truyền
miệng, truyền nghề trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao
gồm tiếng nói, chữ viết tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền
miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về thủ công
truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang
phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác
2. Du lịch (theo Luật Du lịch năm 2005) là các hoạt động có liên quan
đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm
đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng
thời gian nhất định.
3. Hoạt động du lịch (theo Luật Du lịch năm 2005) là hoạt động của
khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch.
Sinh viên: Vũ Thị Hải Yến
hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”.
Luật Di sản văn hóa do Quốc hội ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2001
coi di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự
nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Phải bảo vệ và phát huy giá trị
Sinh viên: Vũ Thị Hải Yến
Lớp: KH6B
Báo cáo thực tập
Học viện Hành chính
di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp
phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc, góp phần làm phong phú di sản văn hóa thế giới. Tăng cường hiệu lực
quản lí nhà nước, nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Chỉ thị số 05/2002/CT-TTg ban hành ngày 18 tháng 02 năm 2002 của
Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp quản lí, bảo vệ cổ vật trong
di tích và ngăn chặn đào bới, trục vớt trái phép di chỉ khảo cổ hoc.
Luật du lịch do Quốc hội ban hành ngày 14 tháng 6 năm 2005 quy định
về tài nguyên du lịch và hoạt động du lịch; quyền và nghĩa vụ của khách du
lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch; tổ chức cá nhân khác có hoạt động
liên quan đến du lịch.
Nghị định của Chính phủ số 92/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm
2002 quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Di sản văn hóa, bao gồm
việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật
thể; việc mua bán di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; tổ chức và họa động của bản
vụ các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh.
Sinh viên: Vũ Thị Hải Yến
Lớp: KH6B
Báo cáo thực tập
Học viện Hành chính
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÍ DI SẢN VĂN
HÓA ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH QUẢNG NINH
I.VÀI NÉT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH
QUẢNG NINH
Quảng Ninh là một tỉnh miền núi, nằm phía Đông Bắc Việt Nam, tiếp
giáp Trung Quốc với đường biên giới dài 110 km, tiếp giáp biển Đông với
chiều dài 250 km, ngoài ra Quảng Ninh còn tiếp giáp với các tỉnh như Lạng
Sơn, Bắc Giang, Hải Dương, thành phố Hải Phòng.
Quảng Ninh là một tỉnh có địa hình phức tạp, gồm đất liền, biển, hải đảo
và có diện tích tự nhiên 5899,6 km2, dân số trên 1.000.000 người (theo số liệu
đăng trên báo Nhân Dân 2008), dân cư được phân bố chủ yếu ở thành phố Hạ
Long, các thị xã, các huyện đồng bằng và các thị trấn trung tâm các huyện miền
núi, hải đảo.
Tỉnh Quảng Ninh hình thành 2 miền: miền Đông và miền Tây, Miền
Đông bao gồm các huyện như: Cô Tô, Vân Đồn, Tiên Yên, Ba Chẽ, Đầm Hà,
Bình Liêu, Thành Phố Móng Cái. Địa hình khu vực miền Đông chủ yếu là rừng
núi và hải đảo, việc đi lại trong khu vực này có nhiều khó khăn, cơ cấu kinh tế
của khu vực này (trừ thành phố Móng Cái) với nông nghiệp là chủ yếu, đời
định “xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến dậm đà bản sắc dân
tộc”, tỉnh Quảng Ninh có những chính sách phù hợp với tiềm năng di sản để
phát triển thế mạnh của mình trong du lịch.
II. VỊ TRÍ CỦA DI SẢN VĂN HÓA ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH QUẢNG
NINH
Di sản văn hóa là một phần của văn hóa Quảng Ninh, nó đóng vai trò
quan trọng nhất trong phát triển du lịch của tỉnh. Di sản văn hóa Quảng Ninh
mang đến cho khách du lịch khám phá vẻ đẹp bí ẩn hùng vĩ của Vịnh Hạ Long,
hay chốn linh thiêng Yên Tử, hay hiểu thêm về con sông Bạch Đằng với chiến
công của cha ông ta để lại,….Như vậy, di sản văn hóa Quảng Ninh đáp ứng đầy
đủ những nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng của con người. Có
thể lấy số lượng khách tham quan di tích lịch sử để minh chứng cho điều này.
Theo số liệu của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tháng 3 năm 2009 khách
tham du lịch đến Vịnh Hạ Long là 190.000 lượt khách. Khách thăm quan di
tích lịch sử văn hóa là 450.000 lượt, chủ yếu là Yên Tử, Đền Cửa Ông (Cẩm
Sinh viên: Vũ Thị Hải Yến
Lớp: KH6B
Báo cáo thực tập
Học viện Hành chính
Phả), Đền Vua Bà (Yên Hưng),…Có thể khẳng định rằng di sản văn hóa góp
phần quyết định đối với việc phát triển du lịch trong tỉnh.
III. CƠ QUAN THỰC HIỆN CHỨC NĂNG QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI DI SẢN VĂN HÓA
Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh là cơ quan chuyên môn
g. Tổ chức việc thu nhận, bảo quản các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia do
tổ chức, cá nhân giao nộp và thu giữ ở địa phương theo quy định của pháp luật;
h. Đăng ký và tổ chức quản lý di vật, cổ vật quốc gia trong phạm vi tỉnh;
cấp giấy phép làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc bảo tàng tỉnh
và sở hữu cá nhân;
i. Quản lý, hướng dẫn tổ chức các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di
sản văn hoá, lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn với di tích, nhân vật lịch sử tại
địa phương;
Sau đây, có thể cụ thể hóa cơ quan thực hiện chức năng quản lí nhà nước
đối với di sản văn hóa của tỉnh Quảng Ninh bằng sơ đồ sau:
Sinh viên: Vũ Thị Hải Yến
Lớp: KH6B
Báo cáo thực tập
Học viện Hành chính
UBND TỈNH QUẢNG NINH
SỞ VĂN HÓA, THỂ
THAO VÀ DU LỊCH
PHÒNG
NGHIỆP VỤ DU
LỊCH
Sinh viên: Vũ Thị Hải Yến
BAN QUẢN LÍ
DI TÍCH
QLNN đối với di sản văn hóa của tỉnh Quảng Ninh
Lớp: KH6B
Báo cáo thực tập
Học viện Hành chính
IV.THỰC TRẠNG QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA
ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH QUẢNG NINH
So với một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, di tích của Quảng Ninh không
nhiều về số lượng nhưng lại có đặc điểm nổi trội mà ít tỉnh nào sánh được.
Thứ nhất là, các di tích trải dọc theo suốt chiều dài của lịch sử, không có
thời kì lịch sử nào không để lại những di tích phản ánh sự phát triển liên tục,
không ngừng của Quảng Ninh trải qua các thời kì lịch đến ngày nay. Đặc điểm
này không dễ gì có được ở nhiều địa phương. Chỉ những vùng đất là trung tâm
chính trị, kinh tế của đất nước, là cửa ngõ, phên dậu có tầm quan trọng mang
tính chiến lược xuyên suốt qua các thời kì lịch sử, mới có hệ thống di tích thể
hiện được đặc điểm này. Quảng Ninh chính là một trong những vùng đất như
vậy. Ở đây di tích thời kì nào cũng phong phú đặc sắc. Thời tiền sử có di tích
đồ đồng, sơ kì đồ sắt đá và hệ thống di tích mộ táng thời Bắc thuộc. Bắt đầu từ
thế kỉ X trở đi với kỉ nguyên Đại Việt hào hùng, dân tộc Việt Nam nêu cao ý
thức độc lập, tự chủ tự tôn đã liên tiếp lập nên những chiến công oanh liệt trong
tích lịch sử như núi Bài Thơ, đền Cửa Ông, đình Trà Cổ,….
4.1 Những thành tựu đã đạt được
Quảng Ninh đã ban hành được những văn bản pháp quy phù hợp với
thực trạng di sản văn hóa trong tỉnh. Đó là những hành lang pháp lý tạo điều
kiện cho việc khai thác, tu bổ và bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch ngày càng tốt
hơn.
Có sự quan tâm của các cấp chính quyền trong việc phục hồi, bảo vệ các
di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Có kết hợp giữa khai thác và bảo vệ các di
sản văn hóa trên địa bàn toàn tỉnh. Như việc khai thác các hoạt động du lịch ở
Vịnh Hạ Long, Yên Tử, …. hàng năm đem lại một nguồn thu không nhỏ cho
ngân sách toàn tỉnh.
Có sự đầu tư về cả nhân lực và vật lực trong việc quản lí di sản văn hóa,
từ cấp tỉnh cho đến các quận, huyện, thị xã. Hàng năm lễ hội du lịch Hạ Long
được diễn ra nhằm quảng bá di sản văn hóa tới cả nước cũng như trên toàn thế
giới
Hiện nay, qua thống kê và khảo sát, Quảng Ninh có trên 500 di sản vật
thể và trên 2800 di sản phi vật thể. Di sản vật thể trên địa bàn tỉnh có bảo tàng
tỉnh - là nơi lưu giữ chủ yếu những di tích khảo cổ, các công trình kiến trúc
Sinh viên: Vũ Thị Hải Yến
Lớp: KH6B
Báo cáo thực tập
Học viện Hành chính
nghệ thuật, các di tích trong cách mạng kháng chiến, di tích danh thắng. Và các
bảo tàng tại các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn toàn tỉnh. Hơn nữa, còn
có một bảo tàng tư nhân ở công viên quốc tế Hoàng Gia - nơi gìn giữ di sản để
Báo cáo thực tập
Học viện Hành chính
năng của tỉnh, các huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh tiến hành các cuộc
kiểm tra trước, trong và sau lễ hội, xử lí nghiêm các vi phạm trong hoạt động
quản lí và tổ chức lễ hội.
Do tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn, hầu hết các địa phương có
di tích gắn với lễ hội đã xây dựng kế hoạch chuẩn bị lễ hội, thành lập Ban chỉ
đạo công việc của lễ hội.
Qua thống kê của các huyện, thị xã, thành phố, toàn tỉnh có khoảng 144
lễ hội lớn, vừa và nhỏ, cụ thể như sau:
- Huyện Yên Hưng: 52 lễ hội
- Huyện Đông Triều: 58 lễ hội
- Thị xã Uông Bí: 04 lễ hội
- Thành phố Móng Cái: 05 lễ hội
- Huyện Bình Liêu: 02 lễ hội
- Huyện Hoành Bồ: 05 lễ hội
- Huyện Hải Hà: 03 lễ hội
- Huyện Đầm Hà: 01 lễ hội
- Huyện Vân Đồn: 03 lễ hội
- Huyện Cô Tô: 01 lễ hội
- Thành phố Hạ Long: 05 lễ hội (Trong đó có lễ hội du lịch 2008)
- Thị xã Cẩm Phả: 04 lễ hội
- Huyện Ba Chẽ: 01 lễ hội
Trong đó
- Lễ hội truyền thống: 72
- Lễ hội gắn liền với các sự kiện lịch sử cách mạng : 05
- Lễ hội tôn giáo: 66
- Lễ hội du lịch: 01
Lạng Sơn, thành phố Hồ Chí Minh) và các nước trong khu vực (Quảng Tây Trung Quốc và các tỉnh đại diện cho các nước tham gia diễn đàn du lịch Đông
Á).
4.1.2 Công tác đầu tư phát triển du lịch
- Một số dự án đầu tư cơ sở hạ tầng cơ bản hoàn thành như tuyến
đường du lịch Dốc Đỏ - Yên Tử đường và cảng tàu du lịch đảo Ngọc Vừng,…
góp phần cải thiện hạ tầng du lịch vào các khu du lịch trọng điểm đúng mùa lễ
hội.
Sinh viên: Vũ Thị Hải Yến
Lớp: KH6B
Báo cáo thực tập
Học viện Hành chính
- Các doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật tạo ra sản phẩm du
lịch mới đã đưa vào sử dụng và chuận bị đưa vào sử dụng có sức thu hút du
khách như: công trình cáp treo Yên Tử giai đoạn II, sân golf Trà Cổ, khách sạn
NOUVATEL, ROYAL ,…
Nhìn chung hoạt động đầu tư phát triển du lịch có chuyển biến tích cực,
một số dự án lớn đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Đó là tín hiệu tốt trong
việc đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo sự phong phú về sản phẩm du lịch,
đáp ứng mục tiêu thu hút khách du lịch có khả năng chi tiêu cao trong giai đoạn
mới.
4.1.3 Công tác tổ chức sự kiện và quảng bá xúc tiến du lịch
- Tổ chức Lễ hội Du lịch Hạ Long 2008 được sự chỉ đạo chặt chẽ, cụ
thể của các cấp lãnh đạo tỉnh, sự phối kết hợp của các thành viên Ban tổ chức
các doanh nghiệp sự quan tâm của các đơn vị tài trợ. Lễ hội du lịch Hạ Long
2008 được tổ chức với quy mô lớn đã thành công tốt đẹp, an toàn tuyệt đối,
- Nhận thức về tuyên truyền quảng bá của các doanh nghiệp đã được
nâng lên một bước, ngày càng có thêm doanh nghiệp tham gia các hoạt động
xúc tiến quảng bá với cơ quan quản lí nhà nước.
4.1.4 Công tác chỉ đạo các hoạt động nghiệp vụ
- Bao gồm quản lí hoạt động lữ hành và hướng dẫn viên du lịch; quản lí
các hoạt động cơ sở lưu trú; quản lí hoạt động tàu du lịch thăm Vịnh Hạ Long;
quản lí các khu điểm, dịch vụ du lịch; công tác thanh tra kiểm tra; các hoạt
động khác, công tác kiện toàn tổ chức, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Qua
đây thấy được vai trò của di sản văn hóa đã tác động rất lớn đến nhiều công tác
trong hoạt động du lịch.
Việc quản lí di sản văn hóa để phát triển du lịch đã thu được những thành
tựu đáng kể theo số liệu của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh năm
2008 dưới đây.
- Khách du lịch: 4.446.000 lượt, đạt 111% kế hoạch năm tăng 24% so
với cùng kì năm trước. Trong đó khách quốc tế 2.374.000 lượt, tăng 62% so
với cùng kì.
- Khách lưu trú: 2.365.050 lượt, đạt 118% kế hoạch năm tăng 3% so với
cùng kì. (Khách lưu trú trên vịnh: 266.800 lượt).
- Khách thăm quan Vịnh Hạ Long: 2.694.380 lượt, tăng 50% so với cùng
kì. Riêng khách du lịch đường biển: 167.300 lượt, tăng 3% so với cùng kì
(167.300/161686); trong đó:
Sinh viên: Vũ Thị Hải Yến
Lớp: KH6B
Báo cáo thực tập
Học viện Hành chính
Lớp: KH6B
Báo cáo thực tập
Học viện Hành chính
còn các hộ dân sống xen kẽ trong di tích. Nhiều hộ đã được cấp sổ đỏ nên công
tác giải tỏa vi phạm càng gặp khó khăn.
- Các di tích ở vùng nông thôn vốn được xây dựng ở trung tâm làng xã,
vị trí cao ráo, đắc địa. Trải qua thời gian, các cộng đồng dân cư phát triển, nhu
cầu đất đai cho sản xuất và chỗ ở tăng cao cộng với công tác quản lý tại một số
nơi bị buông lỏng để dân lấn chiếm đất hoặc xây dựng quá độ cao cho phép.
- Việc triển khai quy hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội gần, thậm
chí nằm hoàn toàn trong các khu vực bảo vệ của di tích lịch sử - văn hóa không
hoặc chưa tham khảo ý kiến các Sở, ngành liên quan đặc biệt là Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch nên đã xâm phạm vào khu vực bảo vệ di tích.
- Một số di sản văn hóa đưa vào khai thác hoạt động du lịch nhưng chưa
có biện pháp bảo vệ khiến các di sản đó có nguy cơ hư hại, khó khôi phục như
ban đầu.
- Chính sách với người có trách nhiệm trong quản lí di sản chưa phù hợp
để họ phát huy hơn nữa vai trò của mình.
- Công tác tôn tạo, bảo tồn các di tích đã được xếp hạng chưa được quan
tâm đúng mức khiến một số di tích xuống cấp khó khắc phục lại.
- Tình trạng một số di sản văn hóa phi vật thể bị mai một ngày càng
nhiều.
* Về phía hoạt động du lịch có những nguyên nhân sau:
- Vai trò và hoạt động của Ban chỉ đạo nhà nước về du lịch chưa được đề
cao; nhận thức về vai trò quan trọng của ngành kinh tế du lịch có lúc, có nơi
còn hạn chế.
Báo cáo thực tập
Học viện Hành chính
CHƯƠNG III:
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN
LÍ DI SẢN VĂN HÓA ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH QUẢNG NINH
Xây dựng những mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể để có hướng đi
đúng đắn nhất:
* Mục tiêu tổng quát:
- Phải tạo ra cơ sở pháp lí cho công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá
trị các di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
- Bảo tồn nguyên vẹn những yếu tố nguyên gốc cấu thành di tích đã và
tiếp tục xếp hạng, không để xuống cấp, tổn thất hoặc hủy hoại di tích.
- Góp phần giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa và truyền thống văn
hiến dân tộc, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
- Tăng cường công tác quản lí nhà nước đối với di tích lịch sử - văn hóa
và danh thắng, xã hội hóa, thu hút sự tham gia của nhân dân và các tổ chức
trong việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa và
danh thắng.
* Mục tiêu cụ thể:
- Đến năm 2010 hoàn thành tổng kiểm kê di tích lịch sử - văn hóa và
danh thắng, di sản văn hóa phi vật thể phân loại, lập hồ sơ khoa học đối với
mỗi di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng đưa vào lưu trữ.
- Đến năm 2015 hoàn thành việc xây dựng cơ sở vật chất, kiện toàn củng
cố công tác quản lí nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa danh thắng từ tỉnh đến
các huyện, thị xã và thành phố.
- Đến năm 2015 hoàn thành việc lập hồ sơ xếp hạng di tích, nâng tổng số
3. Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng:
* Bảo tồn, tôn tạo các di tích xếp hạng cấp quốc gia:
- Lập phương án bảo tồn nguyên vẹn các nguyên tố gốc cấu thành nên di
tích.
- Lập phương án tôn tạo nhằm làm nổi bật các mặt giá trị của di tích, tạo
môi trường cảnh quan hài hòa với di tích.
- Quy hoạch các tuyến đường tham quan, đi lại trong khu di tích phù hợp
với tính chất lịch sử của di tích.
- Xây dựng các công trình phụ trợ trong khu vực di tích: Nhà bảo vệ, nhà
khách, khu vệ sinh, bãi đỗ xe, quầy hàng dịch vụ lưu niệm.
Sinh viên: Vũ Thị Hải Yến
Lớp: KH6B
Báo cáo thực tập
Học viện Hành chính
- Bảo tồn, tôn tạo các di tích đã xếp hạng Quốc gia do UBND tỉnh Quảng
Ninh chịu trách nhiệm.
* Bảo tồn, tôn tạo các di tích xếp hạng cấp tỉnh:
- Bảo tồn nguyên vẹn các nguyên tố cấu thành nên di tích.
- Tôn tạo nhằm làm nổi bật các mặt giá trị của di tích, tạo môi trường
cảnh quan hài hòa với di tích.
- Xây dựng các công trình phụ trợ trong khu vực di tích: Nhà bảo vệ, nhà
khách, khu vệ sinh bãi đỗ xe, quầy hàng dịch vụ, lưu niệm.
- Bảo tồn, tôn tạo các di tích đã xếp hạng cấp tỉnh do UBND các huyện,
thị xã và thành phố chịu trách nhiệm.
* Bảo tồn, tôn tạo các danh thắng:
- Đến năm 2020 nâng tổng số xếp hạng di tích cấp Quốc gia lên 80 di
tích; cấp tỉnh 100 di tích.
4. Phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh:
* Lập bản đồ địa điểm, vị trí các di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng
Quảng Ninh.
* Xây dựng hệ thống phần mềm quản lí các dữ liệu về di tích:
- Phần mềm quản lí di sản văn hóa phi vật thể.
- Phần mềm quản lí di tích xếp hạng cấp Quốc gia và cấp tỉnh.
* Biên soạn các ấn phẩm giới thiệu di tích:
- Sách di sản văn hóa phi vật thể Quảng Ninh.
- Sách di tích và danh thắng Quảng Ninh.
Ngày nay, đất nước ta đang thực hiện sự nghiệp đổi mới, quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đang phát triển mạnh mẽ, nhu cầu hưởng thụ các giá
trị di sản văn hoá của nhân dân và du khách ngày càng cao. Các di tích lịch sử
văn hoá sẽ là một trong những yếu tố quan trọng khẳng định bản sắc văn hoá
dân tộc và đang trở thành nguồn tài nguyên vô giá phục vụ nhu cầu phát triển
kinh tế du lịch. Bởi vậy, ưu tiên đầu tư thoả đáng cho các dự án bảo tồn tôn tạo
di tích là công việc cần thiết nhằm giữ gìn những tài sản văn hoá có giá trị,
những sản phẩm du lịch đặc thù có sức thu hút du khách trong nước và quốc tế
đến với Quảng Ninh, đến với Việt Nam.
Sinh viên: Vũ Thị Hải Yến
Lớp: KH6B