Số hóa bởi trung tâm học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH PHẠM THỊ NGA
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ KHAI THÁC KHOÁNG SẢN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
dò, khai thác khoáng sản còn nhiều bất cập, chồng chéo, tình trạng thăm dò,
khai thác khoáng sản trái phép, tranh chấp mỏ, tàn phá môi trường đang diễn
ra khá phổ biến Một số biện pháp, giải pháp quản lý trong đề án chưa được
thực hiện hoặc thực hiện chậm so với kế hoạch, hiệu quả thấp như: Việc thanh
2
Số hóa bởi trung tâm học liệu
tra, kiểm tra công tác công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản ở
các đơn vị cấp huyện, xã để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản trái phép.
Một thực tế không thể phủ nhận rằng, không dễ dàng kết hợp hài hoà
giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng
một cách hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, nhất là đối với nước ta, khi mà nền
kinh tế về cơ bản vẫn phải dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên. Việc khai
thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản, nhất là đối với các
nguồn tài nguyên khoáng sản không tái tạo là một nhân tố quan trọng góp
phần đắc lực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của cả nước nói
chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Xác định được tầm quan trọng của tài
nguyên khoáng sản, vấn đề quản lý và khai thác khoáng sản là một trong
những vấn đề quan trọng, cấp bách hiện nay, nếu quản lý và khai thác một cách có
hiệu quả sẽ góp phần vào mục tiêu chung là xây dựng và phát triển đất nước.
Xuất phát từ thực tế khách quan đó, tôi lựa chọn đề tài: “Một số giải
pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản ở tỉnh
Thái Nguyên".
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đề tài thực hiện nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác
khoáng sản trên địa bản tỉnh Thái Nguyên.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống cơ sở lý luận về tài nguyên khoáng sản, quản lý hoạt động
khoáng sản và hiệu quả hoạt động khoáng sản. Trên cơ sở tham khảo thực tiễn
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Chƣơng 1
TỔNG QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
1.1. Quản lý nhà nƣớc về khai thác khoáng sản
1.1.1. Khái niệm về tài nguyên khoáng sản
a. Tài nguyên
Theo nghĩa rộng tài nguyên gồm tất cả các nguồn vật liệu, năng lượng,
thông tin có trên Trái đất và trong vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục
vụ cuộc sống và sự phát triển của nhân loại.
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai, được
hình thành, tồn tại trong tự nhiên và tất cả những gì thuộc về thiên nhiên mà
con người có thể khai thác, sử dụng thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của
mình.
Tài nguyên thường được phân thành tài nguyên thiên nhiên gắn liên với
các nhân tố thiên nhiên và tài nguyên con người gắn liên với nhân tố con
người và xã hội. Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất hữu dụng phục vụ cho
sự tồn tại và phát triển cuộc sống con người và thế giới động vật. Tài nguyên
thiên nhiên là một phần của các thành phần môi trường như rừng cây, đất đai,
nguồn nước, khoáng sản, cùng tất cả các loài động thực vật khác.
Tài nguyên thiên gồm: Tài nguyên vĩnh viễn như năng lượng mặt trời,
đây là một nguồn đến từ nguồn chính không bao giờ hết; Tài nguyên không
phục hồi tồn tại trong kho dự trữ được xác định trong những chỗ thay đổi
trong vỏ trái đất mà mỗi loài được cung cấp cho quá trình tự nhiên hoặc được
cung cấp rất lâu mà chúng được dùng. Theo quan điểm kinh tế, các tài nguyên
trên được xem như cạn kiệt nếu khai thác không hợp lý; Tài nguyên có thể
phục hồi là nguyên tài nguyên có thể cạn kiệt trong thời gian ngắn nếu được
sử dụng nhưng sẽ được thay thế qua một quá trình lâu dài [9].
5
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Tài nguyên biển là một tài nguyên vô tận mà trời phú cho con người.
Các nguồn lợi hải sản quan trọng phải kể đến là cá, tôm, cua, rong biển
Tài nguyên khí hậu, cảnh quan bao gồm các yếu tố về thời tiết, khí hậu
và địa hình cảnh quan. Địa hình cảnh quan là một dạng tài nguyên mới với đất
đại, rừng xanh, động thực vật, nước và không khí hợp thành nguồn tài nguyên
môi trường thống nhất. Nó không những là nền tảng để phát triển công nghiệp
du lịch mà còn đem lại sự hưởng thụ về tinh thần và tâm lí cho con người, duy
trì trạng thái cân bằng, cung cấp nguồn nguyên liệu sản xuất. [10]
b. Khoáng sản
Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: “Khoáng sản là những
thành tạo khoáng vật trong vỏ trái đất có thể sử dụng trong nền kinh tế quốc
dân”. [20].
Luật Khoáng sản năm 2010 quy định: “Khoáng sản là khoáng vật,
khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại
trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải
của mỏ”. [6].
Khoáng sản cũng có thể được hiểu là nguồn nguyên liệu tự nhiên có
trong nguồn gốc vô cơ hoặc hữu cơ, tuyệt đại bộ phận nằm trong lòng trái đất
và quá trình hình thành có liên quan mật thiết đến quá trình lịch sử phát triển
của vỏ trái đất trong thời gian dài từ hàng ngàn năm đến hàng chục năm, hàng
triệu năm. [4].
Như vậy, dù được hiểu bằng khái niệm nào thì khoáng sản đều là tích tụ
vật chất dưới dạng hợp chất hoặc đơn chất trong vỏ trái đất mà ở trong đó
điều kiện hiện tại con người có đủ khả năng lấy ra các nguyên tố có ích, sử
dụng trực tiếp chúng phục vụ nền kinh tế quốc dân hoặc trong đời sống hàng
ngày.
7
Số hóa bởi trung tâm học liệu
mangan, đồng, vàng, bạc, nickel, thiếc Ngoài các loại khoáng sản kể trên, từ
năm 1987 nước ta đã phát hiện nhóm đã quý ruby, saphia, peridot với trữ
lượng không lớn. Riêng ruby ở Yên Bái và Nghệ An được thế giới đánh giá
có chất lượng cao đạt chất lượng quốc tế, tương đương với ruby nổi tiếng của
Myanmar [19]
Nếu so sánh tiềm năng khoáng sản Việt Nam với các nước trong khu
vực Đông Nam Á và trên thế giới thì có thể xếp nước ta vào hàng các nước có
tiềm năng khoáng sản đáng kể.
Đặc điểm đáng chú ý về tài nguyên khoáng sản của nước ta: Thứ nhất,
Nước ta không có tiềm năng lớn về các khoáng sản năng lượng. Dầu khí chỉ
đảm bảo khai thác được khoảng 30 năm nữa, do vậy cần tăng cường tìm kiếm
thăm dò. Than biến chất cao với trữ lượng đã được đánh giá đạt hàng tỷ tấn
cần phải khai thác sâu hàng trăm mét và hơn nữa mới bảo đảm nhu cầu phát
triển kinh tế của đất nước. Than biến chất thấp ở dưới sâu đồng bằng Sông
Hồng tuy dự báo có tài nguyên đến vài trăm tỷ tấn nhưng độ sâu hàng ngàn
mét dưới lòng đất, điều kiện khai thác cực kỳ khó khăn và phức tạp cả về
công nghệ, an ninh xã hội và môi trường. Tiềm nang Urani và địa nhiệt không
đáng kể và chưa được thăm dò để đánh giá trữ lượng cụ thể. Thứ hai, Nước ta
có nhiều khoáng kim loại nhưng trữ lượng không nhiều. Rất nhiều khoáng sản
kim loại (vàng, bạc, đồng, thiếc, kẽm, chì ) thế giới rất cần trong khi trữ
lượng lại có hạn, chỉ khai thác mấy chục năm là cạn kiệt nên không đảm bảo
tiêu dùng trong nước phục vụ cho phát triển kinh tế. Một số ít khoáng sản như
Bauxit, đất hiếm, ilmenit có trữ lượng lớn nhưng các khoáng sản này trên thế
giới các quốc gia khác cũng có trữ lượng tương đương hoặc lớn hơn nước ta.
Trữ lượng Bauxit trên thế giới là 27 tỉ tấn với sản lượng khai thác hàng năm
khoảng 200 triệu tấn. Đất hiếm trên thế giới đạt 99 triệu tấn, nhu cầu hàng
năm chỉ khoảng 125.000 tấn. Trữ lượng Titan trên thế giới đạt hơn 2 tỷ tấn,
9
Số hóa bởi trung tâm học liệu
lại trở thành nước phát triển như Nhật Bản, Anh, Pháp
Có thể nói, tài nguyên thiên nhiên khoáng sản là yếu tố thúc đẩy sản
xuất phát triển, các nước đang phát triển thường quan tâm đến việc xuất khẩu
sản phẩm thô, đó những sản phẩm được khai thác trực tiếp từ nguồn tài
nguyên thiên nhiên của đất nước, chưa qua chế biến hoặc ở dạng sơ chế.
Nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng là cơ sở để phát triển các ngành sản xuất
nông nghiệp, công nghiệp, công nghiệp chế biến, công nghiệp năng lượng,
công nghiệp vật liệu xây dựng
Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở tạo tích lũy vốn và phát triển ổn định.
Đối với hầu hết các nước, việc tích lũy vốn đòi hỏi một quá trình lâu dài, gian
khổ liên quan chặt chẽ với tiêu dùng trong nước và thu hút vốn đầu tư từ nước
ngoài. Tuy nhiên, có nhiều quốc gia, nhờ những ưu đãi về tài nguyên thiên
nhiên nên có thể rút ngắn quá trình tích lũy vốn bằng cách khai thác các sản
phẩm thô để bán hoặc để đa dạng nền kinh tế tạo nguồn tích lũy vốn ban đầu
cho sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước. Như trên chúng ta thấy, nguồn tài
nguyên thiên nhiên là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp khai thác,
công nghiệp chế biến và cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành kinh tế khác,
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước. Sự giàu có về tài nguyên,
đặc biệt về năng lược giúp cho một quốc gia ít lệ thuộc hơn vào các quốc gia
khác và có thể tăng trưởng một cách ổn định, độc lập khi thị trường tài
nguyên thế giới rơi vào tình thái bất ổn [20].
1.1.3. Quản lý Nhà nước về khai thác khoáng sản [8], [14]
1.1.3.1. Sự hình thành và phát triển của luật khoáng sản
Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước dân chủ nhân dân được Quốc hội
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua ngày 9/11/1946, đây là đạo luật
cơ bản của Nhà nước, đạo luật gốc làm cơ sở cho việc ban hành các đạo luật
11
Số hóa bởi trung tâm học liệu
khác. Tài nguyên khoáng sản đã được khai thác và có những đóng góp lớn
đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều
thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý”.
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khoáng sản. Chính phủ phân
công các Bộ, ngành ở Trung ương và giao nhiệm vụ cho Ủy ban nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện các nhiệm vụ cụ thể về quản
lý nhà nước về khoáng sản và hoạt động khoáng sản.
Việc ban hành các văn bản để hướng dẫn thi hành Luật khoáng sản đã
được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành ở Trung ương và Ủy
ban nhân dân các tỉnh, thành phố ban hành kịp thời, đồng bộ, cụ thể hóa các
quy định của Luật để áp dụng thống nhất. Pháp lệnh về tài nguyên (1989) có
tổng số 54 văn bản hướng dẫn thi hành; Luật khoáng sản (1996) có 210 văn
bản hướng dẫn thi hành; Luật khoáng sản (sửa đổi, bổ sung năm 2005) có 153
văn bản hướng dẫn; Luật khoáng sản (2010) số lượng các văn bản hướng dẫn
thi hành luật rút xuống còn 5, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý
khoáng sản và khai thác khoáng sản của các Bộ, ngành thuộc Trung ương và
các tỉnh/thành phố áp dụng một cách thống nhất và toàn diện.
Công tác thanh tra, kiểm tra đã được các cơ quan có chắc năng triển
khai thực hiện có trọng tâm và trọng điểm, tổ chức nhiều cuộc kiểm tra liên
ngành về lĩnh vực bảo vệ tài nguyên khoáng sản hoặc về các vấn đề liên quan
trong hoạt động khoáng sản như: môi trường, bảo vệ cảnh quan, di tích lịch
sử, văn hóa, an ninh quốc phòng, nông nghiệp, xuất khẩu khoáng sản, khai
thác khoáng sản trái phép,v.v.
Từ khi luật khoáng sản (1996) có hiệu lực đến tháng 7/2011, các cơ
quản quản lý trung ương (cấp Bộ) đã cấp 460 giấy phép, Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh cấp hơn 10.000 giấy phép (đến nay còn khoảng 4.000 giấy phép đang còn
13
Số hóa bởi trung tâm học liệu
hiệu lực) cho các doanh nghiệp khai thác các loại khoáng sản. Việc phân cấp
đánh giá trữ lượng khoáng sản, hoặc kết quả thăm dò chưa đáp ứng đúng yêu
cầu theo quy chuẩn kỹ thuật thăm dò khoáng sản. Tài nguyên khoáng sản
chưa được khai thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả.
- Hoạt động khai thác mỏ không có thiết kế mỏ được thẩm định, phê
duyệt theo quy định. Phần lớn là các mỏ khai thác khoáng sản vật liệu xây
dựng thông thường, các mỏ khai thác khoáng sản ở quy mô nhỏ.
- Có tình trạng phân chia mỏ thành nhiều khu vực nhỏ cho nhiều doanh
nghiệp cùng khai thác nên dẫn đến tình trạng lãnh phí tài nguyên khoáng sản,
khai thác không đảm bảo an toàn lao động, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn.
- Phần lớn các lãnh đạo điều hành mỏ chưa được bổ nhiệm đúng về yêu
cầu năng lực, trình độ. Khai thác mỏ chưa đúng thiết kế. An toàn lao động
trong khai thác mỏ chưa tốt.
- Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ báo cáo định kỳ 6
tháng và cuối năm, lập bản đồ hiện trạng khai thác mỏ kèm theo báo cáo định
kỳ gửi các cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản theo quy định. Khai thác
vượt công suất, khai thác ra ngoài ranh giới theo quy định đã được ghi tại giấy
phép khai thác mỏ.
- Bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, đất nông nghiệp trong hoạt
động khai thác khoáng sản chưa được thực hiện đầy đủ theo báo cáo đánh giá tác
động môi trường, bản cam kết bảo vệ môi trường, dán án đóng cửa mỏ.
c. Tình trạng khai thác khoáng sản trái phép
Tình trạng khai thác khoáng sản trái phép tồn tại ở nhiều địa phương.
Loại khoáng sản bị khai thác chủ yếu là vàng sa khoáng, thiếc, vonfram, titan
sa khoáng, mangan, sắt, than đá, cát sông suối. Vàng sa khoáng và cát sông
suối là các đối tượng bị khai thác trái phép nhiều trên địa bàn các địa phương
trong cả nước. Hoạt động khai thác trái phép vàng và cát sông suối rất khó
15
Số hóa bởi trung tâm học liệu
kiểm soát, nguyên nhân là do công tác quản lý yếu kém của chính quyền địa
quy định hành lang pháp lý để các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức
cá nhân, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Luật này đã tạo cho cả
hệ thống từ cơ quan quản lý Nhà nước đến người dân tham gia hoạt động
khoáng sản xác định mục tiêu: bảo vệ tài nguyên khoáng sản, khai thác và
sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản và xây dựng ngành công
nghiệp khai khoáng phát triển bền vững.
1.2. Kinh nghiệm quản lý Nhà nƣớc về khai thác khoáng sản của một số
nƣớc trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về khai thác khoáng sản của một số
nước trên thế giới [3], [5]
a. Kinh nghiệm Philippines: Khi thế giới đang đứng trước thách thức cạn kiệt
tài nguyên và xu thế cạnh tranh toàn cầu về tài nguyên khoáng sản, nhiều
quốc gia chậm phát triển hoặc đang phát triển nhưng có lợi thế về tài nguyên
đang trở thành đối tượng để các quốc gia và các tập đoàn khai khoáng có tiềm
lực gây ảnh hưởng và giành quyền khai thác tài nguyên.
Đông Nam Á, khu vực giàu tài nguyên khoáng sản vào loại bậc nhất thế
giới, luôn là đích ngắm của nhiều công ty, tập đoàn khai thác lớn trên thế giới.
Trước tình hình đó, nhiều quốc gia đã bắt đầu tiến hành cùng với việc
điều chỉnh luật và các chính sách liên quan cho ngành công nghiệp khai
khoáng để bảo đảm việc duy trì nguồn tài nguyên của mình cũng như loại bỏ
dần vai trò độc tôn của các doanh nghiệp nước ngoài.
Chính phủ Philippines vừa tuyên bố sẽ nâng thuế khai thác đối với việc
khai khoáng của các công ty nước ngoài. Tương tự nhiều quốc gia trong khu
vực Đông Nam Á, Philippines là quốc gia có trữ lượng tài nguyên địa chất
vào loại nhiều nhất thế giới. Ước tính, Philippines xếp thứ 3 thế giới về trữ
lượng đồng, Quốc gia này cũng có rất nhiều mỏ vàng, niken và kẽm. Đây hiện
17
Số hóa bởi trung tâm học liệu
cũng đang là một trong những quốc gia có thị trường nóng nhất thế giới. gần
nước phát triển và nâng cao giá trị gia tăng của các mặt hàng xuất khẩu.
Hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững, nhiều nước Đông Nam Á
đang thắt chặt dòng vốn đầu tư nước ngoài vào khai thác khoáng sản nhằm
bảo vệ nguồn tài nguyên của mình.
Hành động này của Indonesia nằm nỗ lực gia tăng sự kiểm soát của
Nhà nước cũng như nâng cao lợi nhuận từ nguồn tài nguyên thiên nhiên
phong phú. Chính phủ Indonesia vừa đưa ra quyết định buộc tất cả các công
ty nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực khai khoáng ở nước này phải bán bớt
cổ phần tại các cơ sở đã hoạt động 10 năm, với số lượng sao cho sở hữu trong
nước của Indonesia ít nhất là 51%. Trong thời gian tiếp theo, Chính phủ
Indonesia sẽ thực hiện việc giảm dần cổ phần của các doanh nghiệp nước
ngoài trong lĩnh vực khai thác khoáng sản từ 80% xuống còn 49%.
Hiện tại, chính phủ Indonesia cũng đang tiến hành đàm phán lại hợp
đồng với các công ty khai khoáng lớn của nước ngoài hiện đang hoạt động ở
nước này, như Freeport McMoRan Copper & Gold Inc và Newmont Corp.
Một số nhà phân tích cho rằng việc giới hạn sở hữu nước ngoài trong
lĩnh vực khai khoáng của Indonesia và Philippines có thể ảnh hưởng đến một
số mỏ đang khai thác hiện nay, cũng như có thể gây tâm lý lo ngại cho các
nhà đầu tư nước ngoài, ảnh hưởng đến việc thu hút nguồn vốn nước ngoài đầu
tư vào các mỏ khai thác có trữ lượng dồi dào của các quốc gia này.
1.2.2. Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về khai thác khoáng sản ở Việt Nam
[14]
Chủ trương, đường lối và chính sách về công tác quản lý, khai thác
khoáng sản đã được Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, lãnh đạo và chỉ đạo
rất sớm.
Ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV năm 1976 đã chỉ rõ, cần
19
Số hóa bởi trung tâm học liệu
tập trung vào việc tăng cường công tác điều tra, ưu tiên phát triển công
cầu của công cuộc đổi mới, kêu gọi các nguồn đầu tư cho ngành khai khoáng
nước nhà còn rất non trẻ, thiếu và yếu. Mục đích của giai đoạn đó là tạo mọi
nguồn lực để phát triển đất nước – giai đoạn phát triển theo chiều rộng. Công
tác BVMT trong công tác khai khoáng chưa được quan tâm nhiều.
Năm 2005, Luật Khoáng sản sửa đổi một số điều nhằm tháo gỡ những
khó khăn trong công tác quản lý điều hành lĩnh vực phức tạp này. Với sự
thông thoáng của Luật 1996 thì cách quản lý tập trung rất khó đáp ứng. Vì thế
Luật 2005 ra đời có thể coi như bước đột phá phân cấp mạnh mẽ cho các
chính quyền địa phương.
Năm 2010, Luật Khoáng sản được sửa đổi một cách toàn diện. Đây là
thời kỳ đất nước thoát ra khỏi danh sách các nước nghèo bước vào đội ngũ
các nước phát triển trung bình. Từ chỗ phát triển theo chiều rộng, đường lối
phát triển của chúng ta theo chiều sâu kết hợp hài hòa với chiều rộng phát
triển đất nước một cách bền vững. Theo đó, Luật Khoáng sản sửa đổi năm
2010 phải đáp ứng yêu cầu công tác khai thác khoáng sản cần phải chỉnh đốn,
khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ tài nguyên, thiên nhiên, khai thác khoáng
sản gắn với BVMT, sử dụng tài nguyên hợp lý và tiết kiệm.
b. Về ban hành Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ, Quyết định, Chỉ
thị của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư, Thông tư liên tịch của các bộ và cơ
quan ngang bộ
Trên cơ sở các văn bản của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều cơ
chế, chính sách nhằm bảo đảm khoáng sản được bảo vệ, khai thác, sử dụng
hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả; đầu tư, tổ chức thực hiện điều tra cơ bản địa
chất về khoáng sản theo chiến lược, quy hoạch khoáng sản; đào tạo, phát triển
nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển công nghệ trong
công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản. Việc khuyến khích đầu tư
21
Số hóa bởi trung tâm học liệu
khai thác khoáng sản gắn với chế biến, sử dụng hợp lý khoáng sản để làm ra
ngày 26/3/2012 quy định về đấu giá quyền khai thác khoáng sản; Thủ tướng
Chính phủ ban hành 01 Quyết định (phê duyệt Chiến lược khoáng sản đến
năm 2020, tầm nhìn 2030); Chính phủ/VPCP ban hành 03 văn bản chỉ đạo
điều hành liên quan đến hoạt động khoáng sản; Các Bộ ngành đã ban hành 3
văn bản hướng dẫn. Như vậy, liên quan đến lĩnh vực khoáng sản, BVMT
trong khai thác khoáng sản hiện có 88 văn bản QPPL (61 văn bản về khoáng
sản, 27 văn bản về môi trường trong khai thác khoáng sản) và 24 văn bản chỉ
đạo điều hành của Thủ tướng Chính phủ còn hiệu lực; Cùng với hệ thống văn
bản QPPL nêu trên, việc ban hành Tiêu chuẩn Việt Nam – TCVN, Tiêu chuẩn
ngành - TCN (sau này là quy chuẩn kỹ thuật-QCVN), nhất là bộ các quy chuẩn
môi trường trong khai thác khoáng sản đã góp phần tăng cường hiệu lực QLNN
về khoáng sản và khai thác, sử dụng hợp lý khoáng sản gắn với BVMT. Đây là
một trong những công cụ pháp lý quan trọng trong việc thẩm định, kiểm tra,
giám sát quá trình thực hiện các dự án khai thác khoáng sản, đóng góp thiết
thực cho công tác quản lý môi trường. (Xây dựng báo cáo ĐTM và các quy
hoạch môi trường; đánh giá hiện trạng và diễn biến môi trường; hoạt động
thanh kiểm tra và giải quyết khiếu nại). Nhìn chung, việc ban hành các tiêu
chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật về BVMT được thực hiện và từng bước hoàn
thiện, đã tạo được hiệu quả nhất định trong công tác quản lý và BVMT trong
khai thác khoáng sản; tạo hành lang pháp lý cho các tổ chức, cá nhân tham gia
hoạt động trong lĩnh vực khoáng sản, chấp hành và tuân thủ các quy định của
pháp luật về BVMT. Phần lớn các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, an toàn
trong khai thác khoáng sản đang được áp dụng trong quá trình lập dự án đầu tư,
thiết kế khai thác mỏ cũng như giám sát quá trình thực hiện của các tổ chức, cá
nhân khai thác khoáng sản. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường
đang sử dụng trong hoạt động khai thác khoáng sản cũng được sử dụng để lập
23
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) hoặc Bản cam kết BVMT là
với BVMT trong hoạt động khoáng sản.
(1) Việc ban hành hai luật cơ bản điều chỉnh lĩnh vực khoáng sản gắn
với BVMT đó là Luật Khoáng sản năm 2005 và năm 2010 và Luật BVMT
2005 cùng với các hệ thống văn bản QPPL đi cùng đã tạo được hành lang
pháp lý cho công tác này trong thời gian qua, làm cho công tác quản lý và
khai thác tài nguyên khoáng sản từng bước phát triển.
(2) Các quy định, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản,
Luật BVMT đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành, địa
phương quan tâm ban hành khá đầy đủ, tương đối đồng bộ, từng bước phù
hợp với thực tiễn QLNN, đã góp phần tháo gỡ những vướng mắc trong thực
tế để xử lý các mối quan hệ xã hội về tài nguyên khoáng sản.
(3) Các tiêu chuẩn, quy chuẩn ký thuật đã được ban hành góp phần điều
chỉnh cơ bản các hoạt động về khoáng sản và BVMT theo các chuẩn mực và
là công cụ quan trọng trong QLNN.
(4) Các văn bản QPPL liên quan đến thuế, phí về khoáng sản và BVMT
trong hoạt động khoáng sản đã tăng nguồn thu cho NSNN, góp phần thúc đẩy
phát triển KT - XH của đất nước và từ đây nguồn kinh phí này lại được tái
đầu tư cho hoạt động khoáng sản và BVMT.
(5) Để phù hợp với từng thời kỳ phát triển các hệ thống luật đã kịp thời
sửa đổi. Luật Khoáng sản sửa đổi hai lần sau khi ban hành năm 1996; Luật
BVMT hai lần (năm 2005) đã có chủ trương sửa vào cuối năm 2013 sau khi ban
hành năm 1993.
1.3. Bài học kinh nghiệm từ lý luận và thực tiễn quản lý Nhà nƣớc về
khai thác khoáng sản của các nƣớc trên thế giới và Việt Nam
Thứ nhất, hạn chế khai thác khoáng sản trong nước, giữ nguyên hiện
trạng, đóng cửa các mỏ khi chưa đủ điều kiện khai thác hoặc gây ô nhiễm môi