MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống pháp luật về thi đua, khen thưởng, cùng với
Luật thi đua, khen thưởng được Quốc hội thông qua, còn có các văn
bản do Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Chủ tịch nước,
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác của nhà nước ở trung ương,
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương ban hành.
Các văn bản pháp luật kể trên nhìn chung đã tạo ra khuôn
khổ pháp lý có tính hệ thống, khá hoàn chỉnh cho công tác thi đua,
khen thưởng. Tuy nhiên, cho đến nay, pháp luật về thi đua, khen
thưởng vẫn chưa hoàn thiện, còn có những mâu thuẫn, chồng chéo;
khá phổ biến là hiện tượng dùng công văn hành chính có chứa quy
phạm pháp luật để điều chỉnh công tác thi đua, khen thưởng. Thực tế
này làm ảnh hưởng không nhỏ đến tính thống nhất, chỉnh thể và vai
trò của pháp luật về thi đua, khen thưởng. Bên cạnh đó, nhận thức về
pháp luật thi đua, khen thưởng có những biểu hiện lệch lạc, nặng
hình thức và chạy theo thành tích. Điều đó dẫn tới chỗ thực hiện khen
thưởng tràn lan… Các hạn chế trong pháp luật cũng như thực hiện
pháp luật như vậy ít nhiều làm cho ý nghĩa của công tác thi đua, khen
thưởng bị lệch lạc, hình thức, thậm chí bị lợi dụng.
Xuất phát từ thực tiễn trên, NCS chọn đề tài: “Pháp luật về thi
đua, khen thưởng ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu là rất
cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực
tiễn của công tác thi đua, khen thưởng, tạo cơ sở khoa học cho việc
1
kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước đổi mới
sở quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về thi đua, chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về
thi đua và về khen thưởng.
Để nghiên cứu luận án, tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận
đa ngành và liên ngành. Luận án chủ yếu được tiếp cận từ góc độ luật
hành chính nhưng cũng tiếp cận từ các góc độ khác: kinh tế, chính trị,
văn hóa...
Trong quá trình nghiên cứu, luận án sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp phân tích,
phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê,
phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp hệ thống, phương
pháp lịch sử cụ thể…Cụ thể là:
Chương 1, luận án chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê,
phương pháp tổng hợp và phương pháp phân tích. Qua thống kê và
tổng hợp các công trình nghiên cứu khoa học về những vấn đề có liên
quan đến nội dung luận án, tác giả phân tích những nội dung cơ bản
trong các công trình nghiên cứu đó và đưa ra đánh giá về tình hình
nghiên cứu.
Chương 2, luận án sử dụng phương pháp phân tích, phương
pháp tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp lịch sử cụ thể,
phương pháp so sánh để đưa ra định nghĩa pháp luật về thi đua, khen
thưởng và những nội dung cơ bản khác liên quan mật thiết đến pháp
Luật về thi đua, khen thưởng.
Chương 3, để nghiên cứu các vấn đề lịch sử pháp luật, tác
giả chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp thống
kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích và phương pháp
so sánh để đánh giá quá trình hình thành và phát triển của hệ thống
pháp luật về thi đua, khen thưởng ở Việt Nam.
3
thiện pháp luật về thi đua, khen thưởng;
Kết quả nghiên cứu đề tài còn cung cấp luận cứ khoa học
cho việc việc sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật thi đua, khen thưởng
năm 2003.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án còn là tài liệu tham
khảo cho các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy liên quan đến vấn
đề thi đua, khen thưởng.
7. Kết cấu, bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận án có
cơ cấu như sau:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề
tài luận án
Chương 2. Những vấn đề lý luận của pháp luật về thi đua,
khen thưởng
Chương 3. Thực trạng pháp luật về thi đua, khen thưởng ở
Việt Nam hiện nay
Chương 4. Quan điểm và giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp
luật về thi đua, khen thưởng ở Việt Nam hiện nay
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Trong hai mục của Chương này, luận án chỉ ra các công trình
nghiên cứu và nêu các nhận định khái quát về nội dung của các công
trình nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, các công trình đã nghiên cứu đã đề cập các khái
niệm thi đua, khen thưởng, các đặc điểm và vai trò của thi đua, khen
thưởng; đã xác định tính đa dạng của các hình thức thi đua, khen
5
pháp luật về thi đua, khen thưởng là cơ sở pháp lý quan trọng để thực
hiện công tác thi đua, khen thưởng. Các công trình nghiên cứu cũng
đã đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và hoạt động thi
đua, khen thưởng.
Tuy nhiên, cần thấy rằng, chưa có các công trình nghiên cứu
một cách hệ thống và toàn diện vấn đề thi đua, khen thưởng dưới góc
độ luật học.
Từ nhận xét như trên, ngoài các kết quả nghiên cứu cần phải
được kế thừa và sử dụng, luận án xác định các vấn đề cần tiếp tục
nghiên cứu là:
Một là, nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ luật
học các vấn đề lý luận về thi đua, khen thưởng liên quan đến các vấn
đề khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung điều chỉnh, và các yếu tố
tác động đến pháp luật thi đua, khen thưởng…Đồng thời, nghiên cứu
một cách đầy đủ và toàn diện những mặt còn hạn chế, cần phải được
xem xét, đánh giá một cách tổng thể, biện chứng và khách quan hơn.
Trên bình diện này đòi hỏi phải nghiên cứu, phân tích toàn diện quy
định của Hiến pháp, hệ thống pháp luật, tổ chức và hoạt động của các
thiết chế nhà nước và các quy định pháp luật, nghiên cứu hoạt động
thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố
cáo và xử lý các vi phạm trong thực hiện pháp luật...
Hai là, phân tích và đánh giá một cách tổng thể pháp luật về
thi đua, khen thưởng về hình thức, nội dung trên cơ sở xem xét các
quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật thi đua, khen
thưởng thời gian qua. Trong đó, rất đáng chú ý là cần xác định những
yêu cầu gì đang đặt ra đối với pháp luật về thi đua, khen thưởng trong
điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, và hội nhập quốc tế? Thực trạng
nâng cao hiệu suất trong sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác
của đời sống xã hội.
2.1.2 Khái niệm khen thưởng và ý nghĩa của khen thưởng
Từ thực tiễn, có thể hiểu khen thưởng là quyết định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đánh giá thành tích xuất sắc trong
công việc của cá nhân, tổ chức dưới hình thức nhất định (tinh thần,
vật chất...) phù hợp các yêu cầu của một bối cảnh, giai đoạn lịch sử
cụ thể.
2.1.3 Mối quan hệ giữa thi đua và khen thưởng
Một là, khen thưởng là đánh giá kết quả của thi đua và là
nhân tố thúc đẩy phong trào thi đua phát triển;
Hai là, khen thưởng phải gắn với thực hành phong trào thi
đua yêu nước và nhiệm vụ chính trị của đất nước, từng địa phương,
từng đơn vị;
Ba là, khen thưởng đúng kịp thời sẽ thúc đẩy, mở đường cho
phong trào thi đua sôi nổi, thiết thực;
Bốn là, thi đua là động lực thúc đẩy cá nhân, cộng đồng hoàn
thành nhiệm vụ và là cơ sở cho việc khen thưởng
2.2. Vai trò và nội dung điều chỉnh của pháp luật về thi
đua, khen thưởng
2.2.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về thi đua,
khen thưởng
Pháp luật về thi đua, khen thưởng là hệ thống các quy phạm
pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh
các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng.
Là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật Việt Nam,
pháp luật về thi đua, khen thưởng ngoài những đặc điểm cơ bản của
pháp luật là tính quy phạm, tính bắt buộc chung, tính được nhà nước
đất nước trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội...;
10
- Vai trò thông tin về lĩnh vực thi đua, khen thưởng.
2.2.2.2. Vai trò của pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với
quản lý công tác thi đua, khen thưởng
Vai trò của pháp luật về thi đua, khen thưởng trong quản lý
hoạt động thi đua, khen thưởng thể hiện trên các mặt:
- Thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng và tư tưởng
Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước và công tác thi đua, khen thưởng;
- Là công cụ để quản lý thi đua, khen thưởng;
- Tạo những bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện công tác thi
đua, khen thưởng.
2.2.2.3. Vai trò của pháp luật về thi đua khen thưởng đối với
các hoạt động thi đua, khen thưởng
Vai trò này được thể hiện trên các khía cạnh:
- Cơ sở để xác định mục tiêu, yêu cầu thực hiện các hoạt
động về thi đua, khen thưởng;
- Là phương tiện để các cá nhân, tổ chức thực hiện các hoạt
động về thi đua, khen thưởng và kiểm soát việc thực hiện các hoạt
động về thi đua, khen thưởng.
2.2.3. Nội dung điều chỉnh cơ bản của pháp luật về thi đua,
khen thưởng
2.2.3.1. Nội dung điều chỉnh về thi đua
a) Xác định nguyên tắc thi đua. Thi đua được tổ chức thực
hiện trên cơ sở phải đảm bảo các nguyên tắc: Nguyên tắc tự nguyện,
tự giác, công khai; nguyên tắc đoàn kết, hợp tác và cùng phát triển.
b) Xác định hình thức, nội dung và phạm vi thi đua
- Các hình thức thi đua
Huân chương. Ở các nước trên thế giới cũng có hình thức này;
Huy chương. Hình thức này cũng có ở các nước;
Danh hiệu vinh dự Nhà nước. Danh hiệu vinh dự cũng được
12
nhiều nhà nước sử dụng;
Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước;
Kỷ niệm chương, Huy hiệu. Hình thức này cũng thấy có ở
các nước;
Bằng khen, Giấy khen. Hình thức này cũng có ở các nước.
c) Xác định đối tượng khen thưởng
Đối tượng khen thưởng là các cá nhân, tập thể có thành tích
xuất sắc trong lao động sản xuất, chiến đấu, học tập và công tác góp
phần vào sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo
an ninh quốc phòng.
d) Xác định tiêu chuẩn khen thưởng
Tiêu chuẩn khen thưởng là thành tích, công lao đóng góp,
cống hiến của cá nhân, tập thể đạt được.
đ) Xác định thẩm quyền quyết định khen thưởng
Thẩm quyền quyết định khen thưởng được pháp luật quy định
cho từng cấp.
2.3. Các yếu tố tác động đến pháp luật về thi đua, khen
thưởng ở Việt Nam
2.3.1.Tác động của yếu tố kinh tế
Sự tác động, ảnh hưởng của kinh tế thể hiện trên các phương
diện khác nhau từ vĩ mô đến vi mô.
2.3.2. Tác động của yếu tố chính trị
Khác với kinh tế, tác động, ảnh hưởng của chính trị đối với
pháp luật thi đua, khen thưởng là tác động, ảnh hưởng giữa các bộ
đua, khen thưởng ở Việt nam
3.1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác thi đua, khen thưởng
14
Quá trình xây dựng và phát triển của pháp luật nước ta xuất
phát từ Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước và quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác thi đua, khen thưởng. Chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định: hễ là người Việt Nam yêu nước thì phải thi
đua, thi đua là yêu nước. Thi đua là một cách yêu nước thiết thực
nhất. Những người thi đua là những người yêu nước nhất.
Những quan điểm, chủ trương cơ bản của Đảng Cộng sản
Việt Nam về thi đua, khen thưởng là:
Một là, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của các
cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể nhân dân,
cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò, tác dụng
của tổ chức phong trào thi đua yêu nước và công tác thi đua, khen
thưởng; Hai là, Thi đua vừa là quyền lợi, vừa là trách nhiệm của mỗi
công dân. Phải có sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và
phát huy đầy đủ vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể nhân
dân, làm cho cả hệ thống chính trị tham gia các phong trào thi đua
yêu nước và làm công tác thi đua, khen thưởng; Ba là, sự nghiệp cách
mạng là của quần chúng, vì vậy phải khơi dậy được lòng yêu nước
nồng nàn, tính cần cù, sáng tạo, năng động trong toàn thể các tầng
lớp nhân dân tham gia vào các phong trào thi đua yêu nước.
Từ đó những tư tưởng và quan điểm, chủ trương trên, các
nguyên tắc cơ bản trong tổ chức phong trào thi đua yêu nước và công
tác thi đua, khen thưởng trong thời kỳ đổi mới có thể được xác định là:
Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công
Trước tình thế đó, Đảng ta đã đề ra hai nhiệm vụ cách mạng khác
nhau cho hai miền ( miền Bắc - miền Nam).
Các văn bản pháp luật về thi đua, khen thưởng thời kỳ này
được ban hành với số lượng tương đối nhiều, hình thức phong phú,
nội dung rõ ràng và có tính quy phạm cao. Ngoài một số văn bản quy
16
định về danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng, các văn bản
pháp luật thời kỳ này chủ yếu để hướng dẫn khen thưởng thành tích
kháng chiến. Ở miền Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa
miền Nam Việt Nam đã quyết định ban hành nhiều loại huân chương,
huy chương, danh hiệu vinh dự nhà nước… tặng cho cán bộ, chiến sĩ,
nhân dân miền Nam có thành tích xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ
chiến đấu chống đế quốc Mỹ và tay sai.
3.1.2.3. Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2003 (thời điểm
Luật thi đua, khen thưởng được ban hành)
Các văn bản pháp luật thời kỳ này tiếp tục thực hiện chủ
trương lớn của Đảng và Nhà nước ta về khen thưởng tổng kết thành
tích kháng chiến chống Mỹ, phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam
Anh hùng, khen gia đình có nhiều liệt sĩ hi sinh, tặng giải thưởng Hồ
Chí Minh, giải thưởng Nhà nước…
3.1.2.4. Giai đoạn từ khi có Luật thi đua, khen thưởng (năm
2003) đến nay
Công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật
về thi đua, khen thưởng đã có bước đổi mới, tiến bộ: Sau khi Quốc hội
ban hành Luật thi đua, khen thưởng năm 2003, Chính phủ đã ban hành
đồng bộ các Nghị định hướng dẫn thi hành luật... Các bộ, ngành, đoàn
thể trung ương và địa phương trong cả nước đã ban hành nhiều thông
tư, quyết định, chỉ thị, quy chế về công tác thi đua, khen thưởng.
Ở địa phương, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
cũng ban hành các văn bản pháp luật cụ thể hóa về thi đua ở địa phương.
3.2.2. Quy định của pháp luật về khen thưởng
Luật thi đua, khen thưởng năm 2003 quy định những nội
dung cơ bản về khen thưởng, có thể chia ra thành mấy nhóm như sau:
- Khái niệm khen thưởng và các nguyên tắc khen thưởng;
- Các hình thức khen thưởng và căn cứ xét khen thưởng;
18
- Quy định về thẩm quyền quyết định tặng hình thức khen
thưởng;
- Xác định thủ tục xét tặng cho các hình thức khen thưởng;
- Quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong thi đua, khen
thưởng...
Trên cơ sở quy định của Luật thi đua, khen thưởng, Chính
phủ đã ban hành các văn bản quy định chi tiết về khen thưởng.
Các cơ quan Văn phòng Chính phủ và Bộ Nội vụ cũng ban
hành một số văn bản hướng dẫn thực hiện văn bản của Chính phủ về
khen thưởng.
Các Bộ và các cơ quan khác cũng có các quy định về
khen thưởng.
Một số Bộ, cơ quan còn ban hành văn bản liên tịch ban hành
một số văn bản quy định khen thưởng trong một số lĩnh vực.
Ở địa phương, hiện nay có 45/63 UBND tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương cũng có các quy định về khen thưởng...
Các cơ quan nhà nước như Tòa án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, một số tổ chức chính trị - xã hội và doanh
nghiệp nhà nước cũng có các quy định cụ thể về khen thưởng. Đáng
chú ý là tổ chức Đảng cũng có văn bản về khen thưởng đối với tổ
3.3.3. Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại,
tố cáo và xử lý vi phạm trong việc thực hiện pháp luật về thi đua,
khen thưởng
3.3.4. Thành tựu, hạn chế trong thực hiện pháp luật về thi
đua, khen thưởng
3.3.4.1. Những thành tựu
3.3.4.2. Những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân
a) Những khó khăn, vướng mắc
b) Nguyên nhân
20
Nguyên nhân chủ quan:
Nguyên nhân khách quan:
Kết luận chương 3
Có khá nhiều nguyên nhân của những tồn tại hạn chế đã
được xác định, trong đó có các nguyên nhân cơ bản như: chưa quán
triệt sâu sắc tính chất, tầm quan trọng của hoạt động điều chỉnh pháp
luật đối với thi đua, khen thưởng; đội ngũ những người thực hiện
nhiệm vụ điều chỉnh pháp luật về thi đua, khen thưởng thiếu về số
lượng, yếu về chất lượng; chưa thực hiện tốt các quy định về quy
trình, thủ tục soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; công
tác pháp chế chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu đặt ra.
CHƯƠNG 4. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA, KHEN THƯỞNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
4.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về thi đua, khen thưởng
4.1.1. Thúc đẩy hoạt động tích cực của con người trong giai
đoạn mới hiện nay và xây dựng con người Việt Nam mới
4.1.2. Yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
khen thưởng
a) Về các quy định chung:
b) Sửa đổi, bổ sung một số quy định danh hiệu thi đua, hình
thức khen thưởng
- Về danh hiệu thi đua:
- Về hình thức khen thưởng:
c) Sửa đổi, bổ sung về thẩm quyền:
d) Sửa đổi, bổ sung quy định quản lý nhà nước về thi đua,
khen thưởng:
22
đ) Về thủ tục khen thưởng
4.3.4. Nghiên cứu kinh nghiệm các nước về xây dựng và thực
hiện cơ chế điều chỉnh pháp luật về thi đua, khen thưởng để vận dụng
phù hợp với điều kiện đổi mới thi đua, khen thưởng ở Việt Nam
Trong luận án, ở chừng mức nhất định, NCS cũng đã thực
hiện sự tiếp nhận các yếu tố tích cực có thể nhận thức và áp dụng cho
nước ta.
4.3.5.Các giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật về thi đua,
khen thưởng
4.3.5.1. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật về thi đua, khen thưởng
4.3.5.2. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức đối với
công tác thi đua, khen thưởng
4.3.5.3. Tăng cường giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp
luật về thi đua, khen thưởng
4.3.5.4. Giải quyết khiếu lại, tố cáo và xử lý nghiêm các
hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng
4.3.5.5. Bảo đảm các điều kiện về vật chất, hạ tầng kỹ thuật,
đua, khen thưởng hiện nay, đồng thời đưa ra các quan điểm cơ bản về
hoàn thiện pháp luật này.
Luận án đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm
khắc phục các khiếm khuyết của hệ thống pháp luật về thi đua, khen
thưởng. Đồng thời, luận án cũng đã đề xuất một số giải pháp liên
quan đến việc thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng nhằm đưa
pháp luật thi đua, khen thưởng vào trong đời sống xã hội hiện nay.
24