Đào tạo nguồn lực cho công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ kinh nghiệm một số nước và bài học cho việt nam (TT) - Pdf 35

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN CHẤN NAM

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG TÁC
PHÕNG CHÁY CHỮA CHÁY VÀ CỨU NẠN
CỨU HỘ: KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƢỚC
VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 62 31 01 06

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2016


Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Đinh Công Tuấn
2. PGS. TS. Đỗ Ngọc Cẩn

Phản biện 1: GS.TS Đỗ Đức Bình
Phản biện 2: PGS.TS Đỗ Hương Lan
Phản biện 3: PGS.TS Phạm Thị Thanh Bình

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện

cạnh tranh quốc tế, sự thay đổi nhanh chóng về khoa học, công nghệ và
những áp lực ngày càng lớn về kinh tế xã hội. Đào tạo NNL được coi là
yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu chiến lược của một một quốc
gia, một ngành cũng như của một tổ chức. Thực tế cho thấy, việc đầu tư
vào đào tạo NNL có thể mang lại hiệu quả cao hơn hẳn so với việc đầu
tư đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và các yếu tố khác của quá trình sản
xuất kinh doanh. Chính vì vậy, các tổ chức cũng như các doanh nghiệp
của các quốc gia lớn nhất thế giới như Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc,...
đều rất coi trọng công tác đào tạo và phát triển NNL.
Trong lĩnh vực Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ
(PCCC & CNCH), nhằm góp phần đảm bảo cho sự tăng trưởng ổn định
của nền kinh tế trong bối cảnh nguy cơ cháy nổ ngày càng tăng cao, lực
lượng PCCC &CNCH tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển thường
được đào tạo trong điều kiện thuận lợi, dựa trên các phương pháp tốt
nhất và với các thiết bị PCCC hiện đại. Hoa Kỳ là đất nước nổi tiếng
hàng đầu thế giới về chất lượng giáo dục và đào tạo, và lực lượng
PCCC &CNCH của quốc gia này cũng được chú ý đào tạo theo hướng
chuyên nghiệp và thực tế, và được trang bị các phương tiện kỹ thuật
hiện đại bậc nhất thế giới. Trung Quốc là một quốc gia có nền kinh tế
mới nổi, khá gần gũi với Việt Nam về mặt địa lý, có nhiều điểm tương
đồng với Việt Nam về kinh tế, chính trị, xã hội, vì vậy kinh nghiệm của
Trung Quốc, trong đó có kinh nghiệm về đào tạo NNL PCCC, sẽ có
nhiều điểm (cả thành công lẫn hạn chế) đáng để tham khảo. Cuối cùng,
Liên Bang Nga có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời trong lĩnh
vực PCCC &CNCH, có lực lượng PCCC &CNCH chuyên nghiệp được
1


đào tạo tại các cơ sở đào tạo lực lượng PCCC &CNCH nổi tiếng thế
giới, và hệ thống tổ chức và đào tạo NNL PCCC của Việt Nam vốn


cũng như của trường Đại học PCCC và bản thân.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án phân tích thực trạng công tác đào tạo NNL
PCCC&CNCH tại một số nước, chỉ rõ những đặc điểm, những thành
công cùng những tồn tại của công tác này, từ đó rút ra một số bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam. Trên cơ sở đó và xuất phát từ các vấn đề
thực tế của công tác đào tạo NNL PCCC & CNCH của Việt Nam, luận
án sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn
nhân lực PCCC của Việt Nam trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận án phải giải quyết được
các nhiệm vụ hay trả lời được các câu hỏi nghiên cứu chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, việc đào tạo NNL PCCC&CNCH xuất phát từ những
cơ sở lý luận và thực tiễn chủ yếu nào?
Thứ hai, công tác đào tạo NNL PCCC&CNCH của các nước Hoa
Kỳ, Trung Quốc và Liên Bang Nga có những đặc điểm chủ yếu gì, có
những thành công và còn tồn tại những vấn đề gì, và tại sao?
Thứ ba, từ nghiên cứu hoạt động đào tạo NNL PCCC&CNCH ở
các quốc gia trên, có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm gì cho
Việt Nam?
Thứ tư, từ đó và từ việc phân tích những đặc điểm của công tác
đào tạo NNL PCCC&CCH nói chung và hoạt động đào tạo Cảnh sát
PCCC nói riêng ở Việt Nam, chúng ta cần làm gì và làm như thế nào để
vận dụng được những kinh nghiệm trên vào việc nâng cao chất lượng
đào tạo NNL Việt Nam trong lĩnh vực này?
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là công tác đào tạo NNL

lượng cảnh sát PCCC, chứ không nghiên cứu CNCH và đào tạo NNL
CNCH của các Bộ, ban, ngành và lĩnh vực khác. Đồng thời, việc đào tạo
NNL CNCH cũng chỉ được nghiên cứu trong chừng mực có liên quan đến
hoạt động PCCC, tức CNCH trong chữa cháy. Và cuối cùng, với nhận thức
4


và quan điểm nghiên cứu như vậy, cộng với việc để thuận tiện cho việc
trình bày, thuật ngữ PCCC&CNCH trong Luận án sẽ được viết ngắn gọn
lại thành PCCC, NNL PCCC&CNCH được viết gọn thành NNL PCCC.
- Phạm vi về không gian:
Nghiên cứu hoạt động đào tạo NNL PCCC ở một số quốc gia,
bao gồm Trung Quốc, Liên Bang Nga, Hoa Kỳ và Việt Nam. Riêng tại
Việt Nam, mặc dù Luận án cũng nghiên cứu công tác đào tạo PCCC cả
trong và ngoài nhà trường trên phạm vi cả nước, song do hoạt động
động đào tạo NNL PCCC chính quy trong nhà trường chỉ tập trung
(duy nhất) ở trường Đại học PCCC (bao gồm cả trung cấp, đại học và
trên đại học), nên hầu hết các vấn đề liên quan đến đào tạo NNL PCCC
chính quy trong nhà trường ở Việt Nam lại trùng với hoạt động đào tạo
tại trường này. Ít ra thì hầu hết những minh họa cho các vấn đề liên
quan đến đào tạo NNL PCCC chính quy trong nhà trường nói chung ở
Việt Nam được đề cập trong Luận án đều lấy ví dụ tại trường Đại học
PCCC.
- Phạm vi về thời gian:
Đối với hoạt động đào tạo NNL PCCC của các quốc gia Hoa
Kỳ, Trung Quốc và Liên bang Nga, Luận án sẽ tập trung nghiên cứu
thời gian từ khoảng hai thập kỷ trở lại đây, song có liên hệ và so sánh
với các giai đoạn trước đó trong một số khía cạnh, khi cần thiết. Đối
với Việt Nam, thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn từ năm
2001 (thời điểm Luật Phòng cháy và chữa cháy được ban hành và có

nội dung, tiêu chí đã đề ra và so với một số quốc gia khác trên thế giới.
- Phương pháp kế thừa: Luận án cũng kế thừa các kết quả nghiên
cứu về đào tạo nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực PCCC và
CNCH của các tác giả trong và ngoài nước, nhất là những công trình
được nêu ở Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề
tài luận án và các tài liệu tham khảo trong danh mục tài liệu tham khảo
ở cuối Luận án để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu điển hình (tiếp cận điểm – case studies):
Hoạt động đào tạo NNL PCCC ở mỗi quốc gia có những đặc trưng khác
nhau, do đó, khi nghiên cứu về đào tạo NNL PCCC, luận án đã lựa chọn
6


phân tích thực trạng đào tạo lực lượng PCCC tại ba quốc gia điển hình về
lĩnh vực này là Hoa Kỳ, Trung Quốc và Liên bang Nga.
5. Đóng góp mới của luận án
- Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ thêm những vấn đề lý luận
cơ bản liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực PCCC.
- Luận án trình bày, phân tích và đánh giá thực trạng đào tạo
NNL PCCC tại một số nước trên thế giới, như Hoa Kỳ, Trung Quốc và
CHLB Nga, khái quát được những đặc điểm chủ yếu, chỉ ra được
những thành công và hạn chế, và rút ra được những bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam.
- Từ những kinh nghiệm đó, cùng với việc phân tích thực trạng
đào tạo NNL PCCC tại Việt Nam thời gian 2001-2014, chỉ ra những
đặc điểm và những vấn đề còn tồn tại của hoạt động này tại Việt Nam,
luận án đã đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
đào tạo NNL PCCC của Việt Nam trong thời gian tới.
- Với những đóng góp như vậy, luận án có thể được sử dụng làm
tài liệu tham khảo bổ ích cho các cơ quan, các trường đại học và cao

4. Các nghiên cứu về kinh nghiệm đào tạo nguồn nhân lực cho
công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ ở Việt Nam
Sau khi điểm lại các công trình và tác giả đã nghiên cứu về chủ
đề của Luận án, NCS đã có những đánh giá nhận xét như sau về tình
hình nghiên cứu: Mặc dù cho đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt
Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về đào tạo NNL trong các
ngành và tổ chức nói chung, tuy nhiên vẫn còn rất ít các tác giả và công
trình nghiên cứu đề cập có hệ thống và chuyên sâu đến việc đào tạo
NNL trong lĩnh vực PCCC. Không những thế, hầu hết các nghiên cứu
và tác giả đó mới chỉ tiếp cận ở góc độ đánh giá bên ngoài, hoặc ở các
khía cạnh lẻ tẻ, và chỉ được đề cập trong phạm vi nghiên cứu của một
vấn đề khác, chứ chưa thực sự nghiên cứu chuyên sâu và riêng biệt về
các vấn đề đó, nhất là những công trình liên quan đến vấn đề đào tạo
NNL PCCC ở Việt Nam. Vì thế, việc nghiên cứu có hệ thống và
chuyên sâu về vấn đề đào tạo NNL PCCC&CNCH nói chung và đào
tạo NNL PCCC nói riêng ở một số quốc gia và Việt Nam là nhiệm vụ
đặt ra cho Luận án này.
8


Chƣơng 2.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN
NHÂN LỰC CHO CÔNG TÁC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY VÀ
CỨU NẠN CỨU HỘ
2.1. Các khái niệm cơ bản
2.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
2.1.2. Nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ
NNL PCCC&CNCH được hiểu là những người được đào tạo
hoặc tự đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ PCCC và được làm việc cho
các cơ quan, tổ chức chuyên trách về PCCC, các cơ quan hay tổ chức

chữa cháy
Đào tạo và huấn luyện lực lượng PCCC&CNCH trên cả ba
phương diện: thể lực, trí lực và những phẩm chất tâm lý xã hội, đạo đức
nghề nghiệp,... nhưng đặc biệt nhấn mạnh đến năng lực trí tuệ, sức
khỏe, khả năng sáng tạo và khả năng thích ứng với những thay đổi của
khoa học công nghệ để có thể tham gia trực tiếp vào công tác PCCC.
2.2. Các mô hình đào tạo nguồn nhân lực
2.2.1. Mô hình đào tạo có hệ thống của Michael Armstrong
2.2.2. Mô hình chuyển giao đào tạo của Holton – Holton’s transfer
model
2.2.3. Mô hình lý thuyết hệ thống của Ludwig Vin Bertalantffy
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới đào tạo nguồn nhân lực phòng cháy
chữa cháy Việt Nam trong điều kiện hiện nay
Công tác PCCC và đào tạo NNL PCCC chịu ảnh hưởng của
nhiều nhân tố, đó có thể là thực trạng kinh tế-xã hội của quốc gia, tác
động của các nhân tố quốc tế và khu vực do tiến trình cải cách, mở cửa
và HNQT, các giới hạn về nguồn lực (công nghệ, tài chính,...). Xin nêu
và phân tích một số nhân tố chủ yếu có liên quan đến đào tạo NNL
PCCC Việt Nam hiện nay như:
- Chính sách vĩ mô và sự hỗ trợ của nhà nước, các tổ chức
quốc tế đối với việc đào tạo NNL cho tổ chức
- Nhận thức và sự tham gia của các tổ chức, các doanh nghiệp và
cá nhân
10


- Trình độ phát triển chưa cao và khả năng tài chính hạn hẹp
của Việt Nam
- Công cuộc đổi mới và cải cách giáo dục và đào tạo vì sự
nghiệp CNH, HĐH.

(2) Nhu cầu và yêu cầu về đào tạo NNL PCCC ở Hoa Kỳ
- Nhu cầu: Nhu cầu về đào tạo nhân viên cứu hỏa tại Hoa Kỳ
tăng lên hàng năm, chỉ tính từ năm 2013 đến năm 2014 nhu cầu về đào
tạo nhân viên cứu hỏa ở các địa phương đã tăng 25%.
- Yêu cầu: về bằng cấp nói chung, nhân viên cứu hỏa phải có
bằng phổ thông trung học hoặc tương đương. Ngoài ra, nhân viên cứu
hỏa còn phải đáp ứng các yêu cầu về thể chất và khả năng đối phó với
áp lực công việc, có chứng chỉ đào tạo y tế khẩn cấp.
(3) Nội dung đào tạo và phương pháp đào tạo NNL PCCC
Nội dung đào tạo thường bao gồm:
- Phạm vi giảng dạy các môn học bắt buộc và môn học tự chọn;
- Thời lượng dành cho mỗi môn học;
- Lịch trình, xác định mục tiêu, nội dung của khóa học và hình
thức đánh giá cho mỗi môn học;
- Thủ tục (ví dụ các chương trình kiểm tra) phải tuân theo nhằm
kiểm tra chất lượng và phương pháp giảng dạy.
(3) Phương pháp đào tạo
Một cuộc khảo sát về các phương pháp đào tạo lực lượng PCCC
ở các sở cứu hỏa thành phố Monomonie và Rice Lake cho thấy, đào tạo
trên máy tính và đào tạo trên lớp học là các phương pháp đào tạo ít
được yêu thích nhất, trong khi đó đào tạo theo kiểu chỉ dẫn thực hành
là phương pháp đào tạo được yêu thích nhiều hơn cả theo các phiểu trả
lời khảo sát. Với cách học theo kiểu chỉ dẫn về thực hành như vậy nên
học viên PCCC của Hoa Kỳ khi ra trường sẽ thực hiện ngay được các
nhiệm vụ được giao.
(4) Đánh giá chương trình đào tạo
Một trong những phương pháp đào tạo PCCC Hoa Kỳ được áp
dụng phổ biến nhất là chia đánh giá đào tạo thành bốn cấp độ, bao gồm:
phản ứng (reaction), học tập (learning), hành vi (behavior) và kết quả
12

đào tạo của các cơ sở đào tạo PCCC ở Trung Quốc tương đối đa dạng.
- Phương pháp đào tạo: Quá trình phát triển và hội nhập của nền
13


kinh tế đã dẫn dến sự đổi mới sâu sắc về nội dung và phương pháp giản
dạy trong đào tạo NNL PCCC ở Trung Quốc.
- Đánh giá quá trình đào tạo: Trung Quốc xây dựng một hệ thống
quản lý khoa học và cải tổ phương pháp đánh giá thực nghiệm, kết hợp
phương pháp đánh giá thực nghiệm truyền thống và phương pháp đánh
giá mới.
(4) Nhân tố con người (giáo viên và người học)
- Nâng cao cả về số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên
- Tăng cường sự tham gia, tính chủ động của học viên vào quá
trình đào tạo
(5) Hệ thống các cơ sở đào tạo PCCC
- Trung Quốc có một hệ thống gồm nhiều cơ sở đào tạo về
PCCC &CNCH, được xây dựng tại khắp các địa phương trên cả nước,
đặc biệt là tại các địa bàn trọng điểm.
3.3. Đào tạo nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy Liên bang Nga
3.3.1. Đặc điểm nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy CHLB Nga
3.3.2. Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy
Liên bang Nga
(1) Quan điểm và mục tiêu đào tạo NNL PCCC
(2)Nội dung đào tạo
- Chương trình đào tạo: Các chương trình đào tạo đổi mới của
trường Đại học PCCC bao gồm đào tạo các kỹ năng quản lý các hoạt
động cứu hộ đối với những nguy cơ rủi ro cao và thực hiện các hoạt
động nhân đạo có tính chất khẩn cấp.
- Phương pháp đào tạo: Quá trình đào tạo trước hết tập trung vào

bộ quản lý giáo dục cả về số lượng và chất lượng;
- Phát huy tính chủ động, sáng tạo và kỷ luật của người học;
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị hiện đại phù hợp
với tính chất, nhiệm vụ của lực lượng PCCC;
- Đẩy mạnh hoạt động xã hội hóa công tác đào tạo NNL PCCC.

15


Chƣơng 4.
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN
NHÂN LỰC PHÕNG CHÁY CHỮA CHÁY VÀ CỨU NẠN CỨU
HỘ TẠI VIỆT NAM
4.1. Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy ở
Việt Nam
4.1.1. Nguồn nhân lực cảnh sát phòng cháy chữa cháy ở Việt Nam
hiện nay
4.1.2. Tình hình đào tạo nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy
(1) Đào tạo tại trường Đại học PCCC
Trường tổ chức đào tạo cho học viên với 12 chương trình đào tạo
từ trung cấp, đại học đến cao học.
(2) Đội ngũ cán bộ, giáo viên
Mặc dù việc đào tạo tại trường Đại học PCCC vẫn là chủ yếu,
song bên cạnh đó, Bộ Công an cũng tổ chức mở rộng quy mô đ ào tạo
và hình thức đào tạo và đào tạo ở các bậc học: Trung cấp, đại học, sau
đại học, bồi dưỡng ngắn hạn.
(3) Nội dung chương trình đào tạo
- Chương trình đào tạo được xây dựng dựa trên cơ sở chương
trình đào tạo bậc cao đẳng về PCCC và chương trình đào tạo kỹ sư
PCCC của Đại học kỹ thuật PCCC thuộc Bộ Tình trạng Khẩn cấp Liên

(4) Cơ sở vật chất và trang thiết bị còn tương đối nghèo nàn
4.2. Triển vọng kinh tế xã hội và dự báo nhu cầu đào tạo nguồn
nhân lực phòng cháy chữa cháy ở Việt Nam đến năm 2020 và 2030
4.2.1. Triển vọng kinh tế xã hội có liên quan đến đào tạo nguồn nhân
lực phòng cháy chữa cháy
- Sự bùng nổ của khoa học và công nghệ.
- Sự phát triển nhanh chóng của tình hình kinh tế - xã hội
- Sự gia tăng dân số, các KCN, KCX, KKT tập trung ngày càng
phát triển.
4.2.2. Dự báo nhu cầu và nhiệm vụ đào tạo lực lượng phòng cháy
chữa cháy
- Dự báo nhu cầu đào tạo: Về lực lượng PCCC, theo quy hoạch
17


phát triển đến năm 2020 phải đạt 100% cơ sở có đội PCCC với hàng
chục nghìn đội viên cần được đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện nghiệp vụ
PCCC và trang bị phương tiện đáp ứng được yêu cầu công tác PCCC
tại cơ sở.
- Nhiệm vụ đào tạo: xây dựng và chuẩn bị về lực lượng một
cách bài bản và chủ động.
4.3. Các giải pháp nâng cao chất lƣợng đào tạo lực lƣợng cảnh sát
phòng cháy chữa cháy ở Việt Nam (giải pháp đối với cơ sở đào tạo
nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy)
4.3.1. Nhóm giải pháp xây dựng các chính sách, các nhân tố hỗ trợ
đào tạo và điều kiện đào tạo
(1) Chính sách tuyển sinh đầu vào
- Tuyên truyền phổ biến về đào tạo PCCC
- Thu hút học sinh phổ thông và sinh viên giỏi ngoài ngành tham
gia đào tạo lực lượng cảnh sátPCCC.

4.4.1. Kiến nghị, đề xuất đối với Chính phủ.
Một là, Xây dựng và hoàn thiện chính sách vĩ mô nhằm phát
triển công tác PCCC. Việc đổi mới căn bản nguồn nhân lực PCCC
thông qua việc đào tạo với mục tiêu nâng cao chất lượng nhân lực cho
lực lượng cảnh sát PCCC là nhiệm vụ vô cùng cấp thiết nhằm đáp ứng
yêu cầu hội nhập quốc tế. Do đó, hệ thống pháp luật về PCCC&CNCH
cần được xây dựng và hoàn thiện để đảm bảo tính đồng bộ, hiệu quả,
sát với tình hình thực tế trong lĩnh vực này. Chính phủ cần chỉ đạo
chính quyền các địa phương tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến
pháp luật và kiến thức về PCCC một cách thường xuyên, sâu rộng
nhằm nâng cao nhận thức về công tác PCCC, thu hút được mọi thành
phần xã hội tham gia vào công tác PCCC và thu hút thêm nhiều học
sinh và sinh viên giỏi ngoài ngành tham gia đào tạo về PCCC.
Hai là, đầu tư vào xây dựng cơ sở đào tạo và huấn luyện lực
lượng cảnh sát PCCC. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế
quốc tế hiện nay, nhu cầu về đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ
PCCC &CNCH cho lực lượng cảnh sát PCCC cũng như các lực lượng
PCCC cơ sở và các đối tượng khác trong xã hội là rất lớn và ngày càng
gia tăng. Tuy nhiên, số lượng các cơ sở đào tạo và huấn luyện PCCC
còn rất ít so với các quốc gia phát triển. Cơ sở vật chất, phương tiện
19


chuyên ngành và thiết bị mô phỏng công tác huấn luyện, đào tạo còn
thiếu. Bởi vậy, hiệu quả công tác đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ
PCCC&CNCH còn chưa cao. Từ thực tiễn đó, đòi hỏi Chính phủ phải
có sự đầu tư thỏa đáng để xây dựng thêm các cơ sở đào tạo, Trung tâm
huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ PCCC phân bố đều ở các vùng trên
cả nước.
Đồng thời, Chính phủ cần tiếp tục ban hành các chính sách

nạn cứu hộ,.... Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để đội ngũ này có
thể phát huy cao nhất năng lực sáng tạo và cống hiến.
Bốn là, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng PCCC, trường Đại
học PCCC chủ động xây dựng kế hoạch về hợp tác quốc tế trong lĩnh
vực PCCC với cơ quan PCCC các nước; chủ động tìm kiếm đối tác,
trực tiếp thỏa thuận hợp tác với các cơ sở đào tạo về PCCC của nước
ngoài để trao đổi kinh nghiệm, trao đổi chuyên gia, cán bộ quản lý, giáo
viên, học viên sang nghiên cứu, giảng dạy, học tập.
Năm là, nghiên cứu hoàn thiện hệ thống phân bổ định mức ngân
sách chi cho giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ của các cơ sở đào
tạo trong CAND trong đó có trường Đại học PCCC. Trong những năm
tới, Bộ Công an tiếp tục đề xuất các cơ quan chức năng của Nhà nước
đảm bảo bố trí kinh phí cho công tác giáo dục đào tạo năm sau tăng hơn
so với năm trước từ 10% đến 15%và kinh phí tăng cường xây dựng cơ
sở vật chất nhằm hỗ trợ thêm ngân sách chi cho công tác PCCC hiện
nay đang rất khó khăn.
4.4.3. Kiến nghị, đề xuất đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo
Một là, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần thống nhất với Bộ Công an
để tổ chức thi tuyển, chọn cử cán bộ đi đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ PCCC ở
nước ngoài; tăng chỉ tiêu gửi học sinh trúng tuyển trong kỳ thi tuyển
sinh đại học hệ chính qui của trường Đại học PCCC đi đào tạo ở các
trường ngoài ngành trong hệ thống giáo dục quốc dân ở trình độ Đại
học và sau Đại học để đáp ứng yêu cầu giảng dạy, nghiên cứu các môn
học đặc thù của lực lượng cảnh sát PCCC.
Hai là, xây dựng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên
quan đến đặc thù đào tạo NNL PCCC và cho phép trường Đại học
PCCC được mở các mã ngành đào tạo mới nhằm đáp ứng yêu cầu đào
tạo chuyên sâu của lực lượng cảnh sát PCCC.
Ba là, cho phép trường Đại học PCCC có quyền tự chủ cao hơn,
nhất là trong lĩnh vực nội dung và chương trình đào tạo. Thiết nghĩ, vì

PCCC của họ có năng lực chuyên môn cao, có đủ sức khỏe về thể chất
và đóng góp có hiệu quả vào hoạt động phòng chống cháy nổ, bảo vệ
sự an toàn cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội.
Từ thực trạng và kinh nghiệm phát triển đào tạo NNL PCCC
của các quốc gia trên, có thể rút ra một số bài học chủ yếu cho Việt
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status