BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRUYỀN HÌNH CÁC TỈNH TÂY NAM BỘ
TRUYỀN THÔNG VỀ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HIỆN NAY
(Khảo sát năm 2014)
Ngành
: Báo chí học
Mã số
: 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS.
CẦN THƠ - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa
học của riêng tôi, các số liệu và trích dẫn trong luận văn là
trung thực. Kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng
với bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Chương 2: TRUYỀN THÔNG VỀ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU TRÊN TRUYỀN HÌNH CÁC TỈNH TÂY
NAM BỘ HIỆN NAY
2.1. Phân tích chương trình truyền thông về vấn đề biến đổi khí hậu
42
trên truyền hình các tỉnh Tây Nam bộ
2.2. Đánh giá và nhu cầu của công chúng về truyền thông biến đổi
42
khí hậu hiện nay
64
Chương 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG VỀ
VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN TRUYỀN
83
HÌNH CÁC TỈNH TÂY NAM BỘ
3.1. Kiến nghị đối với lãnh đạo cấp ủy Đảng, chính quyền
3.2. Giải pháp đối với Đài Phát thanh và Truyền hình các tỉnh Tây
83
Nam bộ trong truyền thông về vấn đề biến đổi khí hậu
3.3. Các giải pháp phát huy vai trò của cộng đồng trong chủ động
ĐBSCL
:
Đồng bằng sông Cửu Long
CTMTQG
:
Chương trình mục tiêu quốc gia
Nxb
:
Nhà xuất bản
NN-PTTN
:
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
PTTH
:
Phát thanh và truyền hình
1.2:
Thời gian công chúng TNB xem truyền hình
36
Bảng
1.3:
Tỷ lệ công chúng xem các phương tiện TTĐC
39
Bảng
2.1:
Thông tin về BĐKH trên truyền hình các tỉnh TNB
43
Bảng
2.2:
Chuyên mục về BĐKH trên truyền hình TNB
56
79
Bảng
3.1:
Thời gian phát sóng về BĐKH phù hợp công chúng
95
Bảng
3.2:
Nhu cầu trang bị kỹ năng giảng dạy và viết về BĐKH
99
Biểu đồ 1.1:
Biểu đồ 1.2:
Biểu đồ 2.1:
Biểu đồ 2.2:
Biểu đồ 2.3:
Biểu đồ 2.4:
Biểu đồ 2.5:
Biểu đồ 2.6:
Biểu đồ 3.1:
Chương trình truyền hình công chúng TNB thường xem
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất với
nhân loại trong thế kỷ 21: nhiệt độ tăng, nước biển dâng gây ngập lụt, nhiễm
mặn nguồn nước, thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan... ảnh hưởng
nghiêm trọng tới sản xuất, đời sống. BĐKH không còn là vấn đề riêng của
một quốc gia nào mà đó là vấn đề chung, là trách nhiệm của toàn cầu. Theo
dự báo của các nhà khoa học trong một vài năm nữa mỗi quốc gia phải chi
khoảng từ 5-10% GDP/năm để giải quyết hậu quả của BĐKH. Hiện nay các
quốc gia trên thế giới đang nỗ lực xây dựng chiến lược và thực hiện các hành
động ứng phó với BĐKH.
Việt Nam là 1 trong 5 nước trên thế giới chịu ảnh hưởng lớn từ
BĐKH. Tác động BĐKH đối với nước ta rất nghiêm trọng, hàng năm thiên tai
gây thiệt hại tương đương 1,5% giá trị GDP nếu chúng ta không có những
hành động kịp thời thì những thảm họa do BĐKH ngày càng nghiêm trọng
hơn. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hay còn gọi là Tây Nam bộ
(TNB)- vùng đất sản xuất 40% GDP về nông nghiệp của Việt Nam là một
trong ba đồng bằng trên thế giới (Đồng bằng sông Cửu Long- Việt Nam, đồng
bằng sông Nile- Ai Cập và đồng bằng sông Ganges-Bangladesh) dễ bị tổn
thương nhất do nước biển dâng, đất bị xâm thực và nhiễm mặn.
Kết quả nghiên cứu BĐKH và những tác động của Việt Nam của Viện
Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường: nước biển dâng 0,5m ĐBSCL
ngập 32% diện tích ảnh hưởng 22% dân số, nước biển dâng 1m ĐBSCL ngập
67% diện tích ảnh hưởng 55% dân số. Theo các nhà khoa học thì do BĐKH
ngày càng có nhiều cơn bão đi qua và người dân vùng TNB vốn chưa có kỹ
năng và kiến thức về phòng chống bão nên hậu quả nặng nề hơn; thực tế trong
những năm gần đây nhiều vùng đất ven biển ở TNB bị xóa sổ do biển xâm
thực; hàng trăm hộ mất đất; hàng trăm ha lúa, nuôi trồng thuỷ sản bị thất trắng
đăng tải như thế nào trên truyền hình các tỉnh TNB hiện nay, từ đó phân tích
một cách chân thật những ưu, khuyết điểm; nghiên cứu nhu cầu truyền thông
về vấn đề BĐKH của công chúng và nhu cầu trang bị kỹ năng truyền thông
của những người làm báo truyền hình các tỉnh TNB để đưa ra những kiến
nghị, giải pháp cải thiện việc truyền thông về vấn đề BĐKH hiện nay trên
truyền hình các tỉnh TNB góp phần nâng cao nhận thức của người dân. Khi
nhận thức được vấn đề thì thái độ đối với vấn đề BĐKH được thay đổi để có
những hành vi ứng xử phù hợp, có hành động ứng phó BĐKH nhằm hạn chế
những nguy cơ do BĐKH gây ra.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
* Những vấn đề chung về nhiệm vụ, vai trò truyền thông, truyền hình,
biến đổi khí hậu
- “Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó BĐKH” (2008), của Bộ TNMT nhận định: Hậu quả của BĐKH đối với Việt Nam là nghiêm trọng và là một
nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục
tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước. Việc xây dựng và thực
hiện CTMTQG ứng phó với BĐKH là rất cần thiết và cấp bách.
- “Biến đổi khí hậu” (2008), của GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ cũng đề
cập đến truyền thông về BĐKH.
- “Kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam” (2009), Bộ TNMT là một nhân tố quan trọng của quy trình đánh giá tác động của BĐKH,
phục vụ xây dựng và triển khai kế hoạch hành động của các Bộ, ngành, địa
phương nhằm ứng phó với BĐKH.
- “Giáo trình báo chí truyền hình” (2009), của Dương Xuân Sơn do Nhà
xuất bản (Nxb) Đại học Quốc gia, Hà Nội. Đề cập các khái niệm về tin, phỏng
vấn, phóng sự, phim tài liệu, chương trình truyền hình (CTTH)...
- “Chiến lược quốc gia về BĐKH” (2011), do Thủ tướng Chính phủ
ban hành: để ứng phó hiệu quả với BĐKH và phát triển bền vững đất nước,
một chiến lược quốc gia về BĐKH với tầm nhìn thế kỷ, làm cơ sở cho các
trạng nhu cầu công chúng và giải pháp nêu ra không tương xứng với phần
kiến nghị.
Những luận văn trên có đề cập hoặc là đi sâu vào phân tích thực trạng,
đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thông tin, tuyên truyền, truyền
thông về vấn đề BĐKH của một loại hình báo chí (báo in, báo mạng; truyền
hình Việt Nam, Truyền hình Vĩnh Long), thời gian khảo sát ngắn và chưa
khảo sát nhiều Đài PTTH ở các tỉnh TNB, hoặc là ở một địa phương (Thành
phố Phú Thọ) một lĩnh vực (về môi trường- Đài PTTH Đồng Nai). Đã có
nghiên cứu nhu cầu của những người làm truyền thông ở các tỉnh phía Bắc
nhưng chưa khảo sát biên tập viên, phóng viên, kỹ thuật viên, lãnh đạo cơ
quan báo chí, cũng như chưa nghiên cứu công chúng. Như vậy cho đến nay,
vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu về “Truyền hình các tỉnh Tây
Nam bộ truyền thông về vấn đề biến đổi khí hậu hiện nay”. Đây là đề tài mới
không trùng lặp với bất kỳ đề tài nào đã được công bố, cần được thực hiện: đi
sâu nghiên cứu, phân tích, đánh giá công tác truyền thông và nhu cầu của
công chúng cũng như nhu cầu được trang bị về kỷ năng truyền thông về vấn
đề BĐKH của những người làm báo truyền hình các tỉnh TNB.
Luận văn “Truyền hình các tỉnh Tây Nam bộ truyền thông về vấn đề
biến đổi khí hậu hiện nay” góp phần đúc kết về mặt lý luận, từ đó điều chỉnh
hoạt động thực tiễn, cụ thể là giúp cho việc truyền thông về BĐKH trên
truyền hình hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu công chúng. Bên cạnh đó, việc đi
sâu phân tích để chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, đề xuất của công chúng đối
với truyền thông về vấn đề BĐKH, giúp cho những người làm báo truyền
hình các tỉnh TNB có thêm thông tin để nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Phân tích, đánh giá thực trạng truyền thông về vấn đề BĐKH trên
truyền hình các tỉnh TNB hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
- Phương pháp phân tích nội dung: Dưạ trên cơ sở CTTH (thời sự;
chuyên đề, chuyên mục) của Đài PTTH: Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang để
phân tích, đánh giá về những ưu điểm, hạn chế về nội dung, hình thức, các
thông tin về vấn đề BĐKH...
+ Đối với tin, bài có đề cập đến từ BĐKH; chuyên đề, chuyên mục
BĐKH: cho là nội dung về BĐKH
+ Đối với tin, bài; chuyên đề, chuyên mục không đề cập đến BĐKH
nhưng có những thông tin đề cập đến các nội dung trong biểu hiện của BĐKH
đó là những thông tin liên quan đến BĐKH.
* Kết quả thu được như sau:
- Trong chương trình thời sự truyền hình TNB:
+ Có 460 tin chiếm 4.2%; 15 bài chiếm 2.2% viết về BĐKH;
+ Có 649 tin chiếm 5.9%; 41 bài chiếm 6% có nội dung liên quan đến
BĐKH.
- Trong chuyên đề, chuyên mục truyền hình TNB:
+ Có 18 chuyên đề, chuyên mục BĐKH chiếm gần 1.5%.
+ Có 150 chuyên đề, chuyên mục có nội dung liên quan đến BĐKH
chiếm gần 12.7%.
Bảng: Thông tin về BĐKH trên phương tiện TTĐC
Kênh
BĐKH
1. Báo chí
2.Truyền hình
3.Truyền hình các tỉnh TNB
274
54
vấn đề BĐKH hơn.
- Phương pháp điều tra xã hội bằng bảng hỏi: thu thập ý kiến của công
chúng đánh giá CTTH và nhu cầu tiếp cận thông tin về thích ứng BĐKH trên
truyền hình 03 tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang (nhận xét chương trình,
tác động của chương trình…).
+ Số lượng phiếu công chúng: 300 phiếu (Trà Vinh: 100 phiếu, Sóc
Trăng: 100 phiếu, An Giang: 100 phiếu). Trong đó đối tượng thu thập thông tin:
Nam - nữ; nông dân; công nhân viên chức; cán bộ lãnh đạo, quản lý;
học sinh, sinh viên.
Kết quả thu về 288 phiếu. Trong đó Trà Vinh: 100 phiếu, Sóc Trăng: 90
phiếu, An Giang: 98 phiếu.
+ Thu thập 45 ý kiến biên tập viên, phóng viên, kỹ thuật viên... 3 Đài
PTTH Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang về việc sản xuất CTTT về BĐKH cũng
như nhu cầu được trang bị kiến thức, kỹ năng truyền thông về vấn đề BĐKH.
So sánh với nghiên cứu “Nhận thức, nhu cầu thông tin về BĐKH của đội ngũ
làm công tác truyền thông hiện nay” của TS. Phạm Hương Trà, Khoa xã hội
học- Học viện Báo chí và Tuyên truyền năm 2014 [54].
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
+ Phỏng vấn: Ban biên tập, biên tập viên, phóng viên của 3 Đài PTTH
Trà Vinh, Sóc Trăng và An Giang.
+ Phỏng vấn: lãnh đạo các cơ quan quản lý báo chí công tác truyền thông
về BĐKH.
+ Phỏng vấn nhà khoa học nghiên cứu về BĐKH ở TNB và tỉnh Trà
Vinh và đối tượng cần tập trung truyền thông về BĐKH hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo về mặt lý luận và
thực tiển về báo chí, truyền thông cụ thể là truyền thông về vấn đề BĐKH
TNB nâng cao hiệu quả truyền thông giúp cho khán giả nhận thức về vấn đề
BĐKH để thay đổi hành vi gây ra BĐKH và có trách nhiệm cùng cộng đồng
hành động phòng, chống và ứng phó với BĐKH.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về truyền thông, truyền hình và BĐKH.
Chương 2: Truyền thông về vấn đề BĐKH trên truyền hình các tỉnh
TNB hiện nay.
Chương 3: Nâng cao hiệu quả truyền thông về vấn đề BĐKH trên
truyền hình các tỉnh TNB.
11
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRUYỀN THÔNG, TRUYỀN HÌNH
VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1. Các khái niệm cơ bản và lý thuyết của vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Truyền thông
- Khái niệm: Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời và
phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tác động và liên quan
trực tiếp đến mọi cá thể xã hội. Do đó, có rất nhiều quan niệm và định nghĩa
khác nhau, tùy theo góc nhìn đối với truyền thông [166, tr.11].
Theo John R.Hober (1954) Truyền thông là quá trình trao đổi tư duy
hoặc ý tưởng bằng lời.
Martin P.Adelsm: Truyền thông là quá trình liên tục, qua đó chúng ta
hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta. Đó là một
quá trình luôn thay đổi, biến chuyển và ứng phó với tình huống [166, tr.11].
Gerald Miler (1966) Truyền thông quan tâm đến tình huống hành vi,
trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác
Tiếp
nhận
Sơ đồ 1.1: Mô hình truyền thông của H. Lasswell
+ Nguồn: là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình
truyền thông. Nguồn phát là một người hay một nhóm người mang nội dung
thông tin trao đổi với người hay một nhóm người khác [16, tr.13].
Giá trị thông tin từ nguồn có ý nghĩa tích cực tiến bộ sẽ tác động đến
đối tượng truyền thông theo chiều hướng tiến bộ, phù hợp với qui luật phát
triển và ngược lại, nguồn có ý nghĩa quan trọng trong quá trình truyền thông.
Nguồn ở đây là Đài PTTH các tỉnh TNB: là cơ quan ngôn luận ở địa
phương đã thực hiện tốt nhiệm vụ thông tin, truyền thông 2 chiều là cầu nối
giữa Đảng và dân, các chương trình của Đài PTTH các tỉnh TNB trước hết
là phục vụ cho khán giả địa phương mình và được người dân tin tưởng: vận
động người dân cùng cấp ủy Đảng, chính quyền thực hiện thắng lợi các
mục tiêu kinh tế, văn hoá xã hội (VHXH), an ninh quốc phòng (ANQP) ở
13
địa phương, làm công tác đối ngoại, phản ánh tâm tư nguyện vọng của
nhân dân, những vấn đề mang tính thời sự và hơi thở cuộc sống...
Đài PTTH các tỉnh TNB sản xuất 3- 4 chương trình (bản tin) thời
sự/ngày, 2- 3 chuyên đề, chuyên mục/ngày phản ánh hình hình sản xuất,
đời sống văn hóa, phong trào thi đua lao động sản xuất, những mô hình
mới...; trao đổi, phát sóng các chương trình văn nghệ - giải trí phục vụ theo
yêu cầu thông tin của người dân địa phương.
+ Thông điệp: là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến
đối tượng tiếp nhận. Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong
muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức, khoa học kỹ
sự các Đài chủ yếu là thông tin thì trên các chuyên đề, chuyên mục vấn đề
BĐKH được truyền thông sâu hơn, cụ thể hơn, đa dạng hơn bởi BĐKH liên
quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
+ Người nhận: là cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong
quá trình truyền thông. Hiệu quả của truyền thông được xem xét trên cơ sở
những biến đổi về nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng tiếp nhận cùng
những hiệu ứng xã hội do truyền thông đem lại [16, tr.14].
Trong quá trình truyền thông, nguồn phát và đối tượng tiếp nhận có thể
đổi chỗ cho nhau, tương tác và đan xen vào nhau. Người nhận hay công
chúng truyền thông có vai trò đặc biệt quan trọng: không chỉ là nhóm đối
tượng tác động, thuyết phục và lôi kéo của chủ thể truyền thông mà còn là đối
tác tương tác cách thức, chủ thể tham gia sáng tạo của quá trình truyền thông.
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và trình độ dân trí nên khán giả
không còn nhận tin 1 cách thụ động mà còn yêu cầu, cung cấp thông tin cho
cơ quan báo chí; đóng góp ý kiến xây dựng chương trình, thậm chí tham gia
sáng tạo ra tác phẩm báo chí (nhà báo công dân)- có những vụ sạt lở, sản xuất
15
gây ô nhiểm môi trường… người dân quay các video - clíp, chụp ảnh để
thông tin đến cơ quan báo chí.
Nghiên cứu công chúng truyền hình là để biết nhu cầu truyền thông của
công chúng về vấn đề BĐKH: trong xu hướng chung của báo chí hiện đại,
nghiên cứu công chúng để biết họ cần gì để cung cấp theo yêu cầu của họ chứ
không phải cung cấp những gì chúng ta có, nhất là trong cơ chế tự chủ về tài
chính hiện nay báo chí nói chung, Đài PTTH nói riêng sống nhờ vào công
chúng, có công chúng mới thu được nguồn quảng cáo và đầu tư cho CTTH,
không đáp ứng nhu cầu công chúng thì báo chí sẽ chết. Đối với vấn đề BĐKH
cũng thế, nếu Đài PTTH chỉ lo truyền thông BĐKH ảnh hưởng ở TNB
nghiêm trọng như thế nào mà không nghiên cứu họ xem Đài giờ nào, CTTH
%
biết
lệ %
Không
quan
tâm
Tỷ lệ
%
1. Biến đổi khí hậu là gì?
2. Nguyên nhân BĐKH
3. Biểu hiện BĐKH
4. Ảnh hưởng BĐKH
5. Giải pháp ứng phó BĐKH
6. Chính sách liên quan đến
220
198
249
243
138
76.4
68.7
86.5
84.4
40.3
169
58.7
3
1.0
BĐKH TNB
8. Chính sách liên quan đến
200
69.4
84
29.2
4
1.4
BĐKH Tỉnh
196
68.1
- Phân loại truyền thông:
Trong cuốn sách Truyền thông - lý thuyết và kỹ năng cơ bản của
PGS.TS Nguyễn Văn Dững phân loại truyền thông có chủ đích: thông tingiáo dục- truyền thông; truyền thông vận động và truyền thông thay đổi hành
vi; truyền thông - vận động xã hội; truyền thông phát triển... [16, tr.19-20].
Truyền thông có chủ đích bao gồm nhiều loại hình khác nhau, được
thực hiện ở cả truyền thông trực tiếp và truyền thông gián tiếp, truyền thông
cá nhân, truyền thông nhóm và TTĐC. Trong các chương trình/chiến
dịch/hoạt động truyền thông có tính chuyên nghiệp, các loại hình có tính phổ
biến là: thông tin- giáo dục- truyền thông; tuyên truyền vận động, truyền
thông thay đổi hành vi và truyền thông - vận động xã hội [16, tr.20].
+ Thông tin- giáo dục- truyền thông: là loại truyền thông có chủ đích
sử dụng phối hợp ba dạng truyền thông ứng với 3 mục đích: Thông tin (cung
cấp những thông tin cơ bản gồm: kiến thức nền, kiến thức cơ bản, kiến thức
chuyên biệt và kỹ năng cần thiết, những thông tin cập nhật... về vấn đề cần
truyền thông) [16, tr.20]. Giáo dục (không chỉ hướng vào các đối tượng đang
cần những thông tin này mà cả những ngươì cần đến trong tương lai, nhằm
tạo nên sự thông hiểu, chia sẻ). Truyền thông (chia sẻ, trao đổi thông tin, kiến
thức nhằm nhân lên những kiến thức- kỹ năng- kinh nghiệm nhằm thúc đẩy
những thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành vi). Bởi vì muốn thay đổi
18
trong nhận thức, thái độ và hành vi thì cần cung cấp kiến thức, chia sẻ kỹ
năng và kinh nghiệm trong quá trình thông tin giao tiếp, cho nên vấn đề tạo
lập môi trường thông tin- giao tiếp phong phú, đa dạng, nhiều hiều có ý nghĩa
rất quan trọng.
Truyền thông về vấn đề BĐKH theo hệ thống đầy đủ, bằng nhiều kênh
nhằm cung cấp lượng thông tin đa dạng, phong phú, đầy đủ để mọi người có
được thông tin và hiểu rõ thông điệp- vấn đề BĐKH, để nhận thức đúng và
hành động đúng.
trong thể chế chính trị đối với chiến dịch truyền thông, nhất là trong việc triển
khai nhân rộng cái mới. Nhóm đối tượng chủ yếu của chiến dịch truyền thông vận động xã hội theo hướng này là các cơ quan, đội ngũ cán bộ chủ chốt trong
bộ máy hành pháp, trong thể chế hành chính cũng như các tổ chức trong hệ
thống chính trị.
Đài PTTH các tỉnh TNB phải truyền thông để thấy được tầm quan
trọng của việc chủ động phòng, chống và ứng phó BĐKH để huy động được
nguồn lực xã hội, nhất là những người đứng đầu có quan điểm, cách nhìn
truyền thông về vấn đề BĐKH để thực hiện đưa các Nghị quyết, chương trình
mục tiêu, chiến lược… về phòng, chống BĐKH vào cuộc sống. Cơ chế, chính
sách được xây dựng, ban hành hoàn chỉnh nhưng không đưa vào thực hiện
được thì chỉ là những tờ giấy, cho nên với vai trò truyền thông của mình
truyền hình các tỉnh TNB phải tăng cường hoạt động truyền thông bằng nhiều
hình thức và nội dung phong phú để hỗ trợ cộng đồng tiếp cận chính sách,
khuyến khích doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế tích cực hơn trong việc đóng
góp cho các nỗ lực thích ứng và giảm nhẹ với BĐKH.
Hướng thứ ba, cần tạo sự ủng hộ rộng rãi của DLXH đối với chiến dịch
truyền thông. Nhóm đối tượng chủ yếu cần tập trung là các nhà hoạt động
VHXH, cộng đồng và nhà báo. Nhóm đối tượng này thông qua báo chí và các
phương tiện TTĐC tác động đến DLXH và cộng đồng nói chung [16, tr.11].