MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Các loài cây thuộc ngành Hạt trần (Gymnospermae) là tài nguyên quan
trọng của thế giới thực vật. Số lượng 603 loài hạt trần (Farjon A, 2001)[22] (so
với 250000 loài cây thuộc ngành Hạt kín) rõ ràng không phải là lớn, song
chúng đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với môi trường và kinh tế - xã hội ở
nhiều nước trên thế giới. Ở nhiều nước Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á cũng như
Ôxtrâylia và Newzeland các loài hạt trần tự nhiên và gây trồng đóng vai trò rất
quan trọng về cảnh quan cũng như kinh tế.
Tại Việt Nam, với tổng số khoảng 50 loài cây thuộc ngành Hạt trần
trong đó có khoảng 33 loài bản địa. Chúng thường phân bố trên các vùng có độ
cao lớn, như các loài thông ba lá, hồng tùng, bách xanh, pơ mu ở Đà Lạt (độ
cao 1500m so với mực nước biển ); hồng tùng, bạch tùng, thông tre ở núi Chúa
(Khánh Hoà), Bà Nà (Đà Nẵng), Bạch Mã (Thừa Thiên Huế) và một số các
loài lá kim khác ở Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Sơn La, Hoà Bình,
…Số ít loài khác được trồng tại các đai thấp hơn như thông đuôi ngựa, thông
nhựa. Với số lượng loài không nhiều lại chỉ phân bố tại các khu vực nhất định.
Các loài cây thuộc Hạt trần có rất nhiều giá trị khác nhau phục vụ cho cuộc sống
con người như: các giá trị về sinh thái, kinh tế, thương mại, bảo tồn cũng như văn
hoá xã hội sâu sắc. Chúng là một nguồn cung cấp một lượng lớn gỗ, củi phục vụ
cho nhu cầu của con người. Một số loài có giá trị sử dụng rất cao trong xây dựng,
xuất nhập khẩu như pơ mu, hoàng đàn…Ngoài ra một số loài trong ngành Hạt
trần được coi là các hoá thạch sống của các loài thực vật cổ trên trái đất (thuỷ
tùng, thông nước…), là các loài đặc hữu của Việt Nam (thông Đà Lạt, vân sam
Phan Si Pan… ). Mặt khác các loài thuộc ngành Hạt trần còn là biểu trưng của tín
ngưỡng văn hoá, xã hội của con người. Các loài tùng, bách được trồng trong các
đền chùa biểu tượng cho sự trường tồn và thần diệu phản ánh sự thiêng liêng cao
quý trong các nền văn hoá.
1
A.L.Takhtajan đã hoàn thiện dần hệ thống phân loại thực vật ngành hạt
kín và hạt trần qua các tài liệu đã công bố từ 1950, 1954, 1966, 1980, 1983,
1987, 1997. Ông phân ngành hạt trần thành 6 lớp và các phân lớp, 10 họ. Hệ
thống phân loại của ông thể hiện việc vận dụng một cách tổng hợp các tài liệu
thuộc các lĩnh vực chuyên sâu về hình thái, giải phẫu, phấn hoa, hóa sinh, cổ
sinh và tế bào thực vật... phản ảnh tương đối khách quan quá trình phát triển
tiến hóa của thực vật nên đã và đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới
(Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc và các cộng sự, 2005)[9], (Lê Mộng Chân,
Lê Thi Huyên, 2000)[4], (A.L.Takhtajan, 2009)[20].
Ngoài ra còn có Kubitzkii (1990) đã công bố hệ thống phân loại ngành
Hạt trần mới, hệ thống phân loại này chia ngành Hạt trần thành 4 lớp gồm 7 họ
(Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004)[18], (Kubitzkii and ctv, 1990)[24].
Cây thuộc ngành Hạt trần là những loài cây có nguồn gốc cổ xưa nhất,
khoảng trên 300 triệu năm. Các vùng rừng cây ngành Hạt trần tự nhiên nổi
tiếng thường được nhắc tới ở Châu Âu với các loài vân sam (Picea), thông
(Pinus); Bắc Mỹ với các loài thông (Pinus), cù tùng (Sequoia,
Sequoiadendron) và thiết sam (Pseudotsuga); Đông Á như Trung Quốc và
Nhật Bản với các loài tùng bách (Cupressus, Juniperus) và liễu sam
(Cryptomeria). Các loài cây thuộc ngành Hạt trần đã đóng góp một phần không
3
nhỏ vào nền kinh tế của một số nước như Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan, New
Zealand... Lịch sử lâu dài của Trung Quốc cũng đã ghi lại nguồn gốc các cây
ngành Hạt trần cổ thụ hiện còn tồn tại đến ngày nay mà có thể dựa vào nó để
đoán tuổi của chúng. Chẳng hạn trên núi Thái Sơn (Sơn Đông) có cây tùng ngũ
đại phu do Tần Thủy Hoàng phong tặng tên; cây bách Hán tướng quân ở thư
viện Tùng Dương (Hà Nam), cây bạch quả đời Hán trên núi Thanh Thành (Tứ
Xuyên); cây bách nước Liêu (còn gọi là Liêu bách) trong công viên Trung Sơn
(Bắc Kinh)... Đồng thời, nhiều nơi khác trên thế giới cũng có một số cây cổ thụ
địa phương ở các vùng xa như ở Chi Lê, Mexico, Úc và Trung Quốc. Phần lớn các
cây thuộc ngành Hạt trần có chứa các hoạt chất sinh hoá mà đang ngày càng được
sử dụng làm thuốc chữa các căn bệnh thế kỷ như ung thư. Cây thuộc ngành Hạt
trần còn có vai trò quan trọng trong các nền văn hoá cả ở phương Đông và phương
Tây. Các dân tộc Xen-tơ và Bắc Âu ở châu Âu thờ cây thông đỏ Taxus baccata như
một biểu tượng của cuộc sống vĩnh hằng. Người Anh Điêng ở Pehuenche, Chi Lê
tin rằng các cây đực và cây cái loài bách tán (Araucaria araucana) mang các linh
hồn tạo nên thế giới của họ (Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc và các cộng sự,
2005)[9], (Nguyễn Đức Tố Lưu, Philip Ian Thomas, 2004)[15].
Hiện tại có trên 200 loài cây thuộc ngành Hạt trần được coi là bị đe dọa
tuyệt chủng ở mức toàn thế giới (Nguyễn Đức Tố Lưu, Philip Ian Thomas,
2004)[15]. Rất nhiều loài khác bị đe dọa trong một phần phân bố tự nhiên của
loài. Những đe dọa hay gặp nhất là việc khai thác quá mức lấy gỗ hay các sản
phẩm khác, phá rừng làm bãi chăn thả gia súc, trồng trọt và làm nơi sinh sống
cho con người cùng với sự gia tăng tần suất của các đám cháy rừng. Tầm quan
trọng đối với thế giới của cây thuộc ngành Hạt trần làm cho việc bảo tồn chúng
trở nên có ý nghĩa đặc biệt. Sự phức tạp trong các yếu tố đe dọa gặp phải đòi hỏi
cần có một loạt các chiến lược được thực hành để bảo tồn và sử dụng bền vững
các loài cây này. Bảo tồn tại chỗ thông qua các cơ chế như hình thành các Vườn
quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên là một giải pháp tốt, có hiệu quả đối với
những khu vực lớn còn rừng nguyên sinh. Công tác bảo tồn đòi hỏi sự cộng tác
5
của mọi người từ các ngành nghề và tổ chức khác nhau. Những người làm công
tác này đều phụ thuộc vào việc định danh chính xác loài cây mục tiêu hay các
sinh vật khác có liên quan và vào các thông tin cập nhật ở các mức độ địa
phương, khu vực, quốc gia và quốc tế.
1.2. Nghiên cứu tại Việt Nam
Hiện tại có khoảng 29 loài cây thuộc ngành Hạt trần ở Việt Nam. Mặc
1/5-11
1
1/0
30/135
¼
11/225
18/190
1/1
5/23
70/635
7
0
5
4
0
2
19
7/2
0/0
10/1-2*
6/1-3**
0/0
6/2
29-30/5
và châu Úc. Những thực tế này thể hiện tầm quan trọng của các loài thuộc ngành
Hạt trần Việt Nam đối với thế giới (Trần Ngọc Hải, Phạm Thanh Hà, 2006)[7],
(Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc và các cộng sự, 2005)[9], (Nguyễn Đức Tố
Lưu, Philip Ian Thomas, 2004)[15].
7
Tầm quan trọng của ngành Hạt trần Việt Nam được xác định bởi tính ổn định tương
đối về địa chất và khí hậu của Việt Nam trong vòng hàng triệu năm, kết hợp với địa
mạo đa dạng hiện tại của đất nước và nhiều kiểu dạng sinh cảnh kèm theo. Nhìn
chung, khí hậu trái đất đã trở nên khô và lạnh hơn, nhiều loài cây trong ngành Hạt
trần vốn thích nghi với điều kiện ấm và ẩm bị tuyệt chủng. Tuy vậy, một số loài đã
di cư được đến các vùng thích hợp hơn như ở Tây Nam Trung Quốc và miền Bắc
Việt Nam. Sa mộc (Cunninghamia), bách tán Đài Loan (Taiwania) và dẻ tùng
(Amentotaxus) là những ví dụ của những chi trước đây có phân bố rất rộng trên thế
giới. Phạm vi vĩ độ của Việt Nam (8 o - 24o) gồm các nơi từ gần xích đạo cho đến
vùng cận nhiệt đới cùng với phạm vi độ cao của các hệ núi chính có nghĩa là các
sinh cảnh thích hợp vẫn còn tồn tại và các loài như vậy có khả năng sống sót. Các
thay đổi khí hậu trên Bắc bán cầu có ảnh hưởng đến các nhóm cây ngành Hạt trần
rất khác nhau. Một số bị tuyệt chủng hay phải di cư tới các vùng mà còn có khí hậu
thích hợp, trong khi đó một số loài khác tiến hoá và đã có thể sống được ở những
sinh cảnh đã thay đổi trong điều kiện khí hậu mới. Các loài thông ở Việt Nam là ví
dụ cho cả hai hình thức này. Loài thông lá dẹt (Pinus krempfii) được coi là một loài
cây cổ tàn dư còn lại mà không có loài nào có quan hệ gần gũi còn sống sót, trong
khi đó thông ba lá (P. kesiya) là loài mới tiến hóa gần đây. Sự gần gũi của Việt Nam
về địa lý với vùng nhiệt đới còn có nghĩa là những loài phát tán hạt nhờ chim chóc
của một số họ trong ngành Hạt trần ở Nam bán cầu như họ Kim giao
(Podocarpaceae) đã có khả năng di cư lên phía Bắc. Hệ thực vật ngành Hạt trần
Việt Nam do đó chứa đựng một sự pha trộn kỳ lạ giữa các loài cây thuộc ngành
mộc dầu Cunninghamia), trong khi đó các loài khác lại có giá trị làm hương
liệu quí (hoàng đàn Cupressus, pơ mu Fokienia, bách xanh Calocedrus) hoặc
được dùng làm thuốc cả trong y học truyền thống (kim giao Nageia) hay y học
hiện đại (thông đỏ Taxus). Một số loài chỉ được sử dụng tại địa phương nhưng
thường đây là những loài có phân bố hạn chế (ví dụ như bách vàng
Xanthocyparis). Đe dọa do khai thác trực tiếp còn kèm theo việc biến đổi
những diện tích rừng lớn thành đất nông nghiệp, đặc biệt ở các vùng núi có độ
cao khoảng 800 đến 1.500m nơi mà các loài cây trong ngành Hạt trần như du
sam (Keteleeria) và bách xanh (Calocedrus) thường sinh sống. Việc chia cắt
rời rạc các cánh rừng là một vấn đề có liên quan khác. Các đám rừng nhỏ còn
9
sót lại dễ bị cháy hơn và dễ bị ảnh hưởng do tính di truyền suy giảm, các loài
có các quần thể tự nhiên nhỏ đặc biệt rất nhạy cảm với những đe dọa này.
Những loài có các quần thể phân bố rộng (ví dụ như phần lớn các loài thuộc họ
Kim giao (Podocarpaceae), trong một số trường hợp còn phân bố cả ở nước
khác (như du sam Keteleeria), có thể tạo ra cảm tưởng rằng loài ít bị đe dọa
hơn so với thực tế vì việc khai thác quá mức và nạn phá rừng là những vấn đề
của tất cả các nước ở Đông Nam Á (Triệu Văn Hùng, 2007)[10].
Loài cây trong ngành Hạt trần bị đe dọa nhất ở Việt Nam có lẽ là hoàng
đàn (Cupressus funebris) ở vùng Đông Bắc. Hiện tại trong vòng 5 năm qua
mới chỉ tìm thấy được 1 cây còn lại trong tự nhiên. Các cây khác đều đã bị chặt
lấy gỗ và bị đào rễ làm hương. Thuỷ tùng (Glyptostrobus pensilis) là loài chỉ
được biết ở hai khu bảo tồn nhỏ của tỉnh Đắk Lắk. Phần lớn những cây còn lại
(số này ít hơn 250 cây) đều đã bị ảnh hưởng của lửa rừng. Hầu như toàn bộ
sinh cảnh của loài trên đầm lầy đã bị chuyển thành vườn cà phê và không thấy
có cây tái sinh, hai loài này đang đứng trước sự tuyệt chủng. Tình trạng của
một loạt các loài khác (bách tán Đài Loan Taiwania cryptomerioides và bách
vàng Xanthocyparis vietnamensis) có thể sẽ trở nên ở mức tương tự nếu không có
giâm hom loài hoàng đàn giả (Dacrydium elatum) đã sử dụng chất kích thíc
sinh trưởng với các nồng độ khác nhau làm chất điều hòa sinh trưởng cho thấy
với loài hoàng đàn giả có khả năng nhân giống bằng hom và tỷ lệ ra rễ của hom
thu hái từ cây trưởng thành thấp hơn cây non (Huỳnh Văn Kéo, Lương Viết
Hùng, Trương Văn Lung, 1999)[12].
Đã có nhiều nghiên cứu về thực vật ngành Hạt trần tại Việt Nam như:
Bộ thực vật chí Đông Dương do H. Lecomte chủ biên (1907-1952) các
tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật có
mạch trên toàn lãnh thổ Đông Dương trong đó các loài ngành Hạt trần đã được
giới thiệu và mô tả khá rõ tại đây (Võ Văn Chi, 2007)[5].
Trên cơ sở bộ thực vật chí Đông Dương, gần đây bộ thực vật chí
Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville khởi xướng và chủ biên (196011
1997) cùng với nhiều tác giả khác đã công bố rất nhiều các loài cây có mạch.
Trong đó các loài ngành Hạt trần đã được giới thiệu.
Trong thời gian gần đây, hệ thực vật Việt Nam đã được thống kê lại bởi
các nhà thực vật Liên Xô và Việt Nam trong kỳ yếu cây có mạch của thực vật
Việt Nam – Vassular Plants Synopiss of Vietnamese Flora tập 1-2 (1996) và
tạp chí Sinh học số 4 chuyên đề (1994 và 1995).
Đáng chú ý nhất là phải kể đến bộ Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng
Hộ (1991-1993) xuất bản tại Canada và được tái bản có bổ xung tại Việt Nam
trong 2 năm (1999-2000). Đây là bộ sách khá đầy đủ và dễ sử dụng góp phần
đáng kể cho khoa học thực vật ngành Hạt trần Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ,
1999)[1].
Gần đây nhất là cuốn sách: Cây lá kim Việt Nam của Nguyễn Hoàng
Nghĩa (2004), hay cuốn Thông Việt Nam - Nghiên cứu hiện trạng bảo tồn, Nguyễn
Tiến Hiệp cùng các cộng sự (2005). Đây chính là các cuốn sách nghiên cứu, mô tả
sâu sắc tỉ mỉ một số loài cây lá kim, cũng như đưa ra được hiện trạng và công tác
bảo tồn một số loài cây thuộc ngành Hạt trần tại Việt Nam.
+ Thảm thực vật khu rừng đặc dụng Côpia gồm 5 kiểu rừng: rừng kín
hỗn giao cây lá rộng, lá kim, ẩm á nhiệt đới núi thấp đã bị khai thác (phân bố ở
độ cao từ 1700 – 1821m); rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa á nhiệt đới
núi thấp đã bị khai thác (phân bố ở độ cao 800 – 1700m); rừng thứ sinh; trảng
cỏ cây bụi cao và rừng trồng thông.
+ Đã xác định được 609 loài thực vật bậc cao thuộc 406 chi của 149 họ
trong 5 ngành thực vật. Trong đó có 21 loài quý hiếm có trong Sách đỏ Việt
Nam 2007 (cấp EN có 5 loài, cấp VU có 16 loài). Tài nguyên thực vật ở khu
rừng đặc dụng Côpia rất phong phú gồm: nhóm cho vật liệu xây dựng (238
loài), nhóm cho tinh dầu (15 loài), nhóm cây cho nhuộm màu (9 loài), nhóm
cây cho lương thực (10 loài), rau ăn (43 loài), lấy quả (37 loài), cây làm thuốc
(337 loài).
13
+ Đã xác lập bản đồ thảm thực vật ở khu rừng đặc dụng Côpia, bản đồ
phân bố thực vật quý hiếm và đã xác định được các nguyên nhân làm suy giảm
đa dạng sinh học ở khu rừng đặc dụng Côpia và đề xuất 4 giải pháp bảo tồn và
phát triển đa dạng sinh học ở Côpia.
- Thạc sỹ Nguyễn Văn Huy, Kỹ sư Nguyễn Văn Bơ (trường Đại học
Lâm nghiệp), cán bộ kiểm lâm huyện Thuận Châu, Trung tâm nghiên cứu thực
nghiệm và chuyển giao công nghệ trường Đại học Lâm nghiệp (2002), đã điều
tra nhanh tài nguyên thực vật trong khu vực quanh núi Côpia (Nguyễn Văn
Huy, 2002)[11].
Trong quá trình điều tra, nhóm đề tài đã tập trung vào việc thống kê các
loài thực vật bậc cao, xác định tên, công dụng của cây và xắp xếp các loài cây
đó vào các nhóm công dụng. Xác định các loài cây quý hiếm có tên trong sách
đỏ Việt Nam và cả khu vực. Xắp xếp các loài cây vào các đơn vị phân loại:
Loài, Chi, Họ và lập danh lục thực vật cho khu vực.
huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
2.2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá đa dạng thành phần loài thực vật hạt trần, sự phân bố, trữ
lượng của nhóm thực vật này trong khu bảo tồn rừng đặc dụng Copia làm cơ sở
khoa học cho việc bảo tồn đa dạng sinh học.
2.3. Nội dung nghiên cứu
* Nghiên cứu về thành phần loài thực vật thuộc ngành Hạt trần ở Copia
* Đặc điểm tự nhiên khu vực có thực vật Hạt trần phân bố:
- Thành phần loài cây mọc xen kẽ các cây hạt trần
- Tổ thành loài
- Cấu trúc rừng
- Số lượng loài thực vật thuộc ngành Hạt trần, số cây, trữ lượng
- Tầm quan trọng (kinh tế, tự nhiên) của các loài thực vật thuộc ngành
Hạt trần ở Copia
* Lập bản đồ phân bố của loài thực vật thuộc ngành Hạt trần tại Copia
* Những hoạt động của con người ảnh hưởng đến đa dạng thực vật nói chung
và đa dạng loài thực vật thuộc ngành Hạt trần nói riêng
* Đề xuất các biện pháp bảo vệ, bảo tồn loài thực vật thuộc ngành Hạt trần
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp chung
Xuất phát từ nội dung của đề tài và đặc điểm tự nhiên của khu vực
nghiên cứu tiến hành điều tra theo tuyến, lập ô tiêu chuẩn 600m 2 (30m x 20m)
và các ô tròn có bán kính 10m điều tra quan hệ cạnh tranh của các loài hạt trần
với các loài cây gỗ khác, các ô điều tra được xác định qua kết quả điều tra sơ
16
thám ngoài thực địa. Ô điều tra được lập theo các trạng thái rừng và theo các
độ cao khác nhau.
ĐT NB TB
Đường kính tán
ĐT NB TB
Sinh
Ghi
trưởn
chú
Trong đó: Hvn: Chiều cao vút ngọn; Hdc: Chiều cao dưới cành;
* Lập ô tiêu chuẩn:
17
Dựa trên kết quả điều tra theo tuyến xác định vị trí lập ô tiêu chuẩn
600m2 (30 x 20m ), ô tiêu chuẩn lập dựa trên nguyên tắc: ô tiêu chuẩn phải
được đặt ở những vị trí mang tính chất đại diện cao nhất.
- Điều tra tầng cây cao
Sau khi lập xong tiến hành điều tra các chỉ tiêu theo mẫu biểu 02 và 03
Mẫu biểu 2.2: Biểu thông tin ô điều tra
Loại ô diều tra: …………………..ÔTC số:…….Kích thước:…………………
GPS:…………………………………………………………………………….
Địa điểm:……………………………………………………………………….
Vị trí:………………………….Hướng dốc:……………Độ dốc:……………...
Độ cao:…………………….Độ tàn che:……………..Độ che phủ:……………
(m)
DT(m)
ST
Đ-T N-B
Ghi
chú
Trong đó: Hvn: Chiều cao vút ngọn; Hdc: Chiều cao dưới cành; DT:
Đường kính tán;
Để minh hoạ cho nơi có Hạt trần phân bố, chúng tôi đã chọn một dải
rừng đặc trưng cho trạng thái đó và vẽ phẫu đồ rừng. Trong dải rừng đã được
chọn chúng tôi đánh dấu cây theo thứ tự từ 1 đến hết và tiến hành đo đếm các
chỉ tiêu, kết quả ghi vào mẫu biểu mẫu sau:
Mẫu biểu 2.4: Cấu trúc rừng có hạt trần phân bố
TT
Tên loài
Toạ độ
X
DT (m)
Y
Đ-T
Hdc
ÔDB cây
cây
Sinh
Chiều cao
< 50 50-100 > 100
trưởng
K TB Y
Nguồn gốc
Hạt
Ghi
chú
Chồi
1
2
…
- Điều tra cây bụi thảm tươi.
Trong các ô dạng bản điều tra cây tái sinh chúng tôi tiến điều tra cây bụi
thảm tươi trong đó. Kết quả được ghi vào mẫu biểu 05
Mẫu biểu 2.6: Biểu điều tra cây bụi thảm tươi
Ô tiêu chuẩn:…………...Ngày điều tra:……………………..Tờ số:………….
TT
* Thu mấu, phân tích thành phần loài:
- Phương pháp thu mẫu
- Phương pháp cố định mẫu sơ bộ
b. Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm
* Phương pháp định loại, phân loại loài thực vật thuộc ngành Hạt trần
* Phương pháp xác định tổ thành loài cây:
20
Tổ thành loài cây tái sinh được đánh giá thông qua trị số IV (%) - trị số
quan trọng của mỗi loài được tính bằng công thức:
IV ( % ) =
( F % + D% )
2
Trong đó: F(%) là độ thường xuyên tương đối; D(%) là mật độ tương đối
(Crutis & Mc. Intosh, 1951).
* Phương pháp xác định phân bố và cấu trúc theo chiều cao:
Đề tài chia chiều cao theo 4 cấp: Cấp I (H < 1m); Cấp II (1,0- 2,0m); Cấp
III (2,0-3,0m); Cấp IV (>3m). Số cây từng cấp chiều cao được tính như sau:
30
N (cây / ha ) =
∑n
i
Khu điều tra tài nguyên thực vật được thực hiện chủ yếu ở phần lớn địa
hình đồi núi có độ cao trên 1000m so với mặt biển. Đỉnh Pu Sam Sao cao
1821m là đỉnh cao nhất của khu vực, Đỉnh Côpia nổi tiếng cao 1816m nằm trên
danh giới xã Cò Mạ với xã Nậm Lầu – Chiềng Bôm là đỉnh cao thứ hai. Độ cao
thấp hơn 800 m của khu nghiên cứu có diện tích nhỏ nằm cạnh đường ô tô phía
đông bắc đỉnh Côpia thuộc xã Chiềng Bôm, huyện Thuận Châu.
Địa hình trong khu nghiên cứu bị chia cắt mạnh do các dông núi phụ, các
khe suối chạy từ trên các đỉnh cao xuống và còn do trong khu nghiên cứu có
xen kẽ một số đỉnh núi cao đơn lẻ, khá hiểm trở. Do độ chênh cao lớn nên khu
nghiên cứu có độ dốc trung bình 25-35 o , nhiều nơi có độ đốc >35o.rất khó đi
lại. Nhìn chung địa hình khu nghiên cứu thuộc loại trung địa hình vùng núi
cao, có độ chênh cao trên 1000m, càng đi về phía trung tâm khu nghiên cứu
càng cao và độ dốc càng lớn, nhiều núi cao, thung lũng sâu, sườn núi dốc.
22
3.1.3. Địa chất thổ nhưỡng
+ Đá mẹ: Trong khu nghiên cứu đá mẹ thuộc 2 nhóm chính: Đá macma
axit và đá biến chất với các loại chính như: Granit, Amphibolit, Đá Diệp
Thạch, đôi chỗ còn lẫn cả phiến thạch sét, Sa thạch.
+ Các loại đất chính trong khu vực:
* Đất mùn màu xám vàng trên núi cao, thành phần cơ giới nhẹ thường có
ở độ cao 1600-1800m. Loại đất này trong khu nghiên cứu có diện tích rất nhỏ.
* Đất Feralit mùn vàng đỏ phát triển trên đá Axit hoặc trên đá biến chất
núi cao trung bình, thành phần cơ giới Trung bình đến nhẹ thường ở độ cao
700-1700m.
* Đất Feralit màu nâu vàng phát triển trên đá Axit hoặc đá biến chất, đá
Diệp Thạch, Đá phiến lẫn Sa thạch, thành phần cơ giới trung bình ở độ cao
700-1700m
Hình 3.1: Lượng mưa và sự thay đổi về nhiệt độ bình quân theo tháng
(Nguồn: Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Sơn La, 2012)
+ Nắng: Tổng số giờ nắng bình quân năm thấp, Tháng 4 nắng nhiều nhất
tháng 10 là tháng nắng ít nhất.
+ Sương mù: bình quân có 160ngày có sương mù trong năm.
24
+ Sương muối: bình quân 5-8 ngày có sương muối trong năm nhưng đôi
khi có đợt kéo dài 3 đến 5 ngày cao nhất tới 11 ngày và thường xuất hiện vào
các tháng 12 và 1.
+ Gió: Hướng gió thịnh hành của khu nghiên cứu là Đông Bắc, Tây
Nam, gió nhẹ 2,7m/s, Hàng năm vào các tháng 3,4,5 đôi khi có gió tây khô
nóng xuất hiện.
Trong các tháng 4,5 đôi khi có mưa đá.
Nhìn chung khí hậu Khu nghiên cứu là mát vào mùa hè, lạnh về mùa
đông, riêng mùa đông có nhiệt độ thấp, lại có sương mù sương muối nên ít
nhiều gây cản trở tới các hoạt động sản xuất lâm nghiệp đặc biệt là khâu gieo
ươm cây con.
+ Thuỷ văn: Trong khu nghiên cứu không có sông. Đáng chú ý có các
suối: Suối Đen, Suối Đá, Hua Nhứ, Suối Nhôp., Nậm Cang, Nậm Ty, Suối
Liệp có nước quanh năm. Các suối chính trên, lưu lượng nước chảy mạnh về
mùa hè, còn mùa đông nước rất cạn. Ngoài những con suối chính kể trên, trong
khu nghiên cứu còn một số con suối nhỏ có nhiều nước trong những ngày mưa
to còn ít ngày sau mưa là nước cạn chỉ còn là những rãnh nước nhỏ. Mật độ
suối cao 3.12Km/1000Ha nhưng thường gây ra lũ quét, lũ ống nhưng khan
hiếm nước vào mùa khô vì các suối có độ dốc cao.