PHÒNG GD-ĐT KRÔNG BÔNG
TRƯỜNG TH CƯKTY
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN NĂM 2014
Họ và tên giáo viên: Nguyễn Thị Phương Tứ
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học CưKty-Krông Bông.
Nội dung đăng ký bồi dưỡng thường xuyên năm 2014:
+TH7: Xây dựng môi trường học tập thân thiện (15tiết)
+TH16: Một số kỹ thuật dạy học tích cực ở tiểu học (15tiết)
+ TH25: Kỹ thuật quan sát, kiểm tra miệng, kiểm tra thực hành trong đánh giá
kết quả học tập ở tiểu học(15tiết).
+ TH27: Phương pháp kiểm tra đánh giá bằng nhận xét (15tiết)
Thời lượng: 60 tiết/năm học/học viên(đối với cấp trường tự bồi dưỡng).
Hình thức : Học viên tự nghiên cứu tài liệu học tập theo nội dung đã đăng ký đầu năm.
Căn cứ Kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên của Trường Tiểu học CưKty- Krông Bông về việc
hướng dẫn tổ chức học tập, bồi dưỡng thường xuyên CBQL-GVTH năm 2014. Sau khi nghiên
cứu, học tập thông qua tài liệu và đúc rút kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác, cá
nhân tôi làm bài thu hoạch theo 4 nội dung trên như sau:
NỘI DUNG THỨ NHẤT: Xây dựng môi trường học tập thân thiện: Gồm 15 tiết (Mã mô
đun TH7)
1. Thế nào là trường học xanh, sạch, đẹp và an toàn? Xanh, sạch, đẹp và an toàn
cho học sinh là những yêu cầu quan trọng của một môi trường thân thiện trong trường học, cụ
thể là:
- Có nhiều cây xanh, thường xuyên được chăm sóc và bổ sung. Khuôn viên nhà trường, các
nhà làm việc, lớp học, phòng bộ môn, sân chơi, nhà vệ sinh… lúc nào cũng được giữ sạch sẽ,
đảm bảo yêu cầu cảnh quan sự phạm.
- Học sinh được giáo dục cách sống khoẻ mạnh và có sự hỗ trợ về y tế, về tâm lý.
- Học sinh được đảm bảo sự an toàn về thể xác và tinh thần. Không có bạo lực trong nhà
ni lông, kim loại; lá cây, trái cây )
- Xử lý hệ thống cống rãnh, nước thải: Xử lý ngầm chống mùi hôi; cống rãnh phải có tấm đậy
an toàn, không có hố nước đọng gây ô nhiễm và muỗi sinh sản.
- Có nguồn nước sạch: Đủ nước uống cho học sinh hàng ngày (bình nóng lạnh, bình nước
khoáng, bình nước đun sôi để nguội…); nước rửa mặt, tay chân cho học sinh trước khi vào lớp
học (khoảng 10 vòi cho 300 học sinh).
- Giải quyết tốt khu vệ sinh: Nhà vệ sinh phải thoáng mát, đủ ánh sáng, có mái che và lối đi
sạch sẽ nối với hành lang lớp học. Có thể chọn trồng một ít cây cảnh xung quanh khu vực vệ
sinh để tạo cảm giác nhẹ nhàng và ý thức sử dụng bảo quản cho học sinh. Chú ý hố tiêu, hố
tiểu đáp ứng đủ cho số lượng học sinh sử dụng, không có mùi hôi, có thể sử dụng máng tiểu
bằng loại tôn inox để dễ giội rửa. Cần tách riêng nhà vệ sinh giáo viên và học sinh.
- Xử lý tiếng ồn: Sắp xếp bố trí hợp lý về thời gian, vị trí sân chơi bãi tập, phòng học, phòng
làm việc, giờ ra chơi, giờ học nhạc, giờ chuyển tiết để đảm bảo cho hoạt động dạy học và sinh
hoạt của trường diễn ra một cách thuận lợi và hiệu quả.
- Đảm bảo bầu không khí trong lành không bị ô nhiễm trong sân trường, lớp học.
4. Thế nào là Đẹp?
Trước hết phải tạo được môi trường xanh và sạch, có cảnh quan hài
hòa và tính thẩm mỹ trong mô hình kiến trúc tổng thể. Trường có quy hoạch hợp lý, đảm bảo
sự phát triển bền vững trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất cảnh quan môi trường. Một số
bồn hoa với nhiều màu sắc rực rỡ sẽ làm tăng vẻ đẹp của trường, chọn trồng loài hoa nở được
nhiều mùa trong năm. Xây dựng những quy định, biểu bảng, áp phích về nếp sống văn minh,
lối sống tiết kiệm để nhắc nhở học sinh chú ý thực hiện. Trang phục học sinh cần giản dị, gọn
gàng, sạch sẽ, màu sắc không loè loẹt. Áo trắng quần xanh là trang phục tương đối trung hoà
phù hợp với học sinh phổ thông, được nhiều người đồng tình chấp nhận. Đồng phục học sinh
có thể thực hiện theo trường, theo lớp, theo ngày, theo mùa. Có môi trường bạn hữu thân thiện
giữa học sinh với học sinh, học sinh với thầy cô giáo, giữa học sinh với cây xanh thảm cỏ bồn
hoa, bàn ghế, lớp học, sân trường.
2
1. Đối với học sinh: Học sinh phải có ý thức và hành động tự giác giữ gìn môi trường
XSĐ&AT ngay từ ngày đầu tiên bước chân đến trường và thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi. Học
sinh từng em, từng nhóm được trực tiếp tham gia các việc làm cụ thể hàng ngày, hàng tuần về
xây dựng lớp học trường học của mình ngày càng XSĐ&AT hơn (trồng cây, chăm sóc cây, vệ
sinh trường lớp,…). Trong năm học, các em tích cực tham gia một số hoạt động ngoại khóa
của trường để tạo ra các sản phẩm về giáo dục môi trường như bài viết, tranh vẽ, ảnh chụp,
sưu tầm… Cuối mỗi học kỳ và cuối năm học, các em được tham gia nhận xét đánh giá về cái
tốt, cái chưa tốt, đề xuất việc cần làm tiếp theo về môi trường của trường dù là một ý kiến rất
nhỏ hoặc chưa đúng, chưa đầy đủ.
2. Đối với giáo viên: Tùy theo đối tượng học sinh từng lớp, từng cấp học, giáo viên giúp học
sinh hiểu rõ một số yêu cầu về xây dựng và giữ gìn trường học XSĐ&AT; thực hiện có hiệu
quả việc khai thác nội dung kiến thức giáo dục môi trường thông qua các môn học trong
chương trình giảng dạy. Ngoài kế hoạch của trường, giáo viên chủ động thực hiện các hoạt
động XSĐ&AT của lớp phụ trách; gương mẫu trước học sinh về việc giữ gìn bảo vệ môi
trường XSĐ&AT.
3
3. Đối với cán bộ quản lý nhà trường: Triển khai cụ thể đến từng giáo viên nội dung yêu
cầu, tiêu chí trường học XSĐ&AT; cuối năm học tự đánh giá theo kế hoạch của trường đã đề
ra. Hoàn chỉnh bản đồ quy hoạch của trường, hình thành ban XSĐ&AT. Tổ chức một số hoạt
động nội khóa và ngoại khóa về giáo dục môi trường theo từng chủ đề cho học sinh. Giao
trách nhiệm cụ thể cho các lớp về việc giữ gìn và chăm sóc cây xanh, thảm cỏ, bồn hoa, trường
lớp. Thực hiện những cách đánh giá đo nghiệm như ảnh chụp, băng hình, nhật ký để làm rõ sự
thay đổi cảnh quan môi trường của trường qua mỗi năm học.
I. Thế nào là trường học thân thiện?
- Trường học thân thiện, trước hết là nơi tiếp nhận tất cả trẻ em trong độ tuổi quy định,
đến trường. Nhà trường phải tạo điều kiện để thực hiện bình đẳng về quyền học tập cho thanh,
thiếu niên.
và phương pháp học tập, trong đó những yếu tố hết sức quan trọng là khả năng tự tìm hiểu,
khám phá, sáng tạo.
- Trong cuộc vận động “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, vai trò các
thầy cô giáo có ý nghĩa hết sức quan trọng. Thực hiện kế hoạch này, chúng ta từng bước xây
dựng đội ngũ giáo viên có phẩm chất đạo đức, năng lực quản lý, đáp ứng yêu cầu của giáo dục
4
trong thời kỳ phát triển mới. Theo đó, các thế hệ học sinh năng động, tích cực dưới sự dạy dỗ
của các thầy cô giáo được học tập trong môi trường trường học thân thiện, sẽ là nhân tố quyết
định sự phát triển bền vững của đất nước.
III. Nội dung phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” xác định 5 nội
dung gồm:
1- Xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn;
2- Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh ở mỗi địa phương, giúp
các em tự tin trong học tập;
3- Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh;
4- Tổ chức các hoạt động tập thể, vui tươi, lành mạnh;
5- Học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách
mạng ở địa phương.
IV. Thực hiện: Để phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
trong trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013 đạt kết quả tốt đẹp, chúng tôi thấy cần thực
hiện các việc sau:
1 - Cần huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài nhà trường, xây
dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp điều kiện của địa phương,
đáp ứng nhu cầu xã hội.
2 - Khắc phục tính thụ động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong học
tập và các hoạt động xã hội một cách phù hợp, hiệu quả.
thân thiện là:
- Nhà trường phải phấn đấu trở thành trung tâm văn hóa, giáo dục ở địa phương. Phải gương
mẫu trong việc gìn giữ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội ở địa phương. Từ đó, địa
phương sẽ đồng thuận, đồng lòng, đồng sức tham gia xây dựng nhà trường, xây dựng quan hệ
tốt đẹp giữa đôi bên.
- Một nội dung trọng tâm về trường học thân thiện với địa phương: mỗi trường học nhận chăm
sóc công trình văn hóa, lịch sử ở địa phương, và tích cực chăm lo xây dựng các công trình
công cộng, trồng cây, chăm sóc cho đường phố, ngõ xóm sạch sẽ.
2. Thân thiện trong tập thể sư phạm với nhau. Điều này rất quan trọng, vì nó là “cái lõi” để
thân thiện với mọi đối tượng khác. Ở đây, vai trò của hiệu trưởng, của lãnh đạo tổ chức Đảng
và các đoàn thể là cực kỳ quan trọng. Muốn vậy, trong quan hệ quản lý, phải thực thi dân chủ,
phải thực hiện bằng được quy chế dân chủ ở cơ sở. Trong quan hệ tài chính, phải trong sáng,
công khai, minh bạch đối với mọi thành viên trong nhà trường. Về mặt tâm lý, phải thực sự tôn
trọng lẫn nhau. Không thể có thân thiện, nếu trong trường mất dân chủ, bất bình đẳng, nếu
thiếu tôn trọng lẫn nhau, hiệu trưởng hống hách, quát nạt nhân viên dưới quyền. Cũng không
thể có thân thiện, nếu mọi khoản thu chi trong nhà trường cứ “mờ mờ ảo ảo”.
3. Thân thiện giữa tập thể sư phạm, nhất là các thầy, cô với các em học sinh. Thầy cô cùng các
bộ phận khác trong nhà trường đều hoạt động theo phương châm: “Tất cả vì học sinh thân
yêu”. Từ đó, trò sẽ quý mến, kính trọng thầy cô giáo. Sự thân thiện của các thầy, cô với các
em là “khâu then chốt”, và được thể hiện ở các mặt sau:
- Tận tâm trong giảng dạy và giáo dục các em. Muốn vậy, hãy mạnh dạn chuyển lối dạy cũ thụ
động “thầy đọc, trò chép”, “thầy giảng, trò nghe” sang lối dạy “thầy tổ chức, trò hoạt động”,
“dạy học lấy học sinh làm trung tâm”. Có vậy mới phát huy được tính tự giác, tích cực học tập
của các em, mới thực hiện được việc quan tâm đến từng em học sinh, nhất là đối với các em có
hoàn cảnh khó khăn, các em học sinh “cá biệt”.
- Công tâm trong quan hệ ứng xử. Thầy, cô giáo phải công tâm trong quan hệ ứng xử, công
tâm trong việc đánh giá, cho điểm (nghĩa là phải công bằng, khách quan với lương tâm và
thiên chức nhà giáo).
- Phải coi trọng việc giáo dục bình đẳng giới để các học sinh nam, nữ biết quý trọng nhau,
sống hòa đồng với nhau. Phải rèn kỹ năng sống cho học sinh thích ứng với xã hội, bởi cuộc
- Phát động trong học sinh tham gia dự thi làm ĐDDH sau các tiết học. Đây là cách để kiểm
tra mức độ vận dụng của học sinh đồng thời cũng là cơ hội để các em tham gia cải tiến giờ dạy
có chất lượng cao hơn.
- Thầy, cô giáo phải có phương pháp giảng dạy tích cực để cho HS tích cực. Bởi vì trong một
lớp học, số “HS tích cực” rất là ít, thường là những em có học lực và hạnh kiểm khá - giỏi, còn
đa số là thụ động.
- Đổi mới phương pháp giảng dạy sao cho có thể lôi cuốn tất cả học sinh tham gia.
- Tổ chức một số hoạt động sáng tạo, phát huy trí tuệ và năng lực hoạt động của học sinh như
thuyết trình, lập báo cáo, làm mô hình kỹ thuật, viết phần mềm tin học, sáng tác thơ văn…
- Các tổ bộ môn cũng sẽ giao một số đề tài nghiên cứu nhỏ cho học sinh thực hiện như: sưu
tầm tranh ảnh, tài liệu theo chủ đề…
- Để tạo thêm sân chơi cho học sinh, tuỳ vào sở trường của mình, các em có thể tham gia các
CLB như CLB Tin học, CLB Thơ văn,...
- Trong những buổi ngoại khoá, chào cờ đầu tuần… nhà trường tổ chức lồng ghép kể chuyện
về tấm gương các danh nhân, anh hùng liệt sĩ tiêu biểu của quê hương; giới thiệu các hình thức
diễn xướng đặc trưng của quê hương…
- Hoàn thiện nhân cách cho học sinh bằng cách phát động các phong trào “Không nói tục chửi
thề”, “Gọi bạn xưng tên”, “Kính trên nhường dưới, lễ phép với thầy cô giáo, người lớn tuổi”…
- Tạo điều kiện học sinh được tham gia các hoạt động trong nhà trường một cách chủ động,
được bộc lộ quan điểm, rèn luyện các kỹ năng và hình thành quan hệ tốt trong giao tiếp với
thầy cô và bạn bè. Tổ chức những hoạt động như hội chợ (vào dịp lễ, tết), hội thảo về phương
pháp học tập, các buổi văn nghệ, trò chơi… để học sinh tự tham gia nhằm rèn luyện kỹ năng
mềm để ứng dụng vào cuộc sống như thuyết trình, xây dựng hình ảnh bản thân, phương pháp
làm việc nhóm…
Từ phong trào xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực”, xây dựng một môi
trường sư phạm thực sự lành mạnh, trong đó, học sinh biết bảo vệ danh dự của nhà trường, của
tập thể lớp và của chính bản thân mình; biết bảo vệ cái đúng, phê phán cái sai… Và để làm
được điều này, cần phải có sự chung tay của cả gia đình và cộng đồng.
NỘI DUNG THỨ HAI: Một số kỹ thuật dạy học tích cực ở tiểu học. Gồm 15 tiết (Mã mô
đun TH16)
dắt HS tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới. Để đánh giá kết quả học tập của
HS, HS cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm GV và các HS khác về những nội dung
bài học chưa sáng tỏ.
*Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau: 1.Câu hỏi phải liên quan đến việc thực
hiện mục tiêu bài học; 2.Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu; 3.Đúng lúc, đúng chỗ; 4.Phù hợp với trình
độ HS; 5.Kích thích suy nghĩ của HS; 6.Phù hợp với thời gian thực tế; 7.Sắp xếp theo trình tự
từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp; 8.Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc
xích; 9.Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc.
* Khi nêu câu hỏi cho HS cần chú ý: 1.Đưa ra câu hỏi với một thái độ khuyến khích,
với giọng nói ôn tồn, nhẹ nhàng. 2.Thu hút sự chú ý của HS trước khi nêu câu hỏi. 3.Chú ý
phân bố hợp lí số HS được chỉ định trả lời. 4.Chú ý khuyến khích những HS rụt rè, chậm chạp.
5.Sử dụng câu hỏi mở và câu hỏi đóng phù hợp với từng trường hợp. 6.Khi kiểm tra sử dụng
câu hỏi đóng; 7. Khi cần mở rộng ý ta dùng câu hỏi mở. Ví dụ: Em có nhận xét gì về bức
tranh Thiếu nữ bên hoa huệ? 8.Không nên nêu những câu hỏi quá đơn giản. Ví dụ : Đối với
HS lớp 4, 5 mà GV nêu: Các em xem có mấy hình vẽ? Hoặc hỏi HS: Hiểu chưa?
2. Kĩ thuật dạy học theo góc
Học theo góc là một hình thức tổ chức hoạt động học tập theo đó người học thực hiện
các nhiệm vụ khác nhau tại vị trí cụ thể trong không gian lớp học, đáp ứng nhiều phong cách
học khác nhau. Học theo góc người học được lựa chọn họat động và phong cách học: Cơ hội
“Khám phá”, ‘Thực hành”; Cơ hội mở rộng, phát triển, sáng tạo; Cơ hội đọc hiểu các nhiệm
vụ và hướng dẫn bằng văn bản của người dạy; Cơ hội cá nhân tự áp dụng và trải nghiệm.
+ Do vậy, học theo góc kích thích người học tích cực thông qua hoạt động; Mở rộng sự
tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái, đảm bảo học sâu, hiệu quả bền vững,
tương tác mang tính cá nhân cao giữa thầy và trò, tránh tình trạng người học phải chờ đợi. Ví
dụ: Với chủ đề môi trường hoặc giao thông có thể tổ chức các góc: Viết; Đọc; Vẽ tranh: Xem
băng hình; Thảo luận...về nội dung chủ đề.
*Áp dụng: Tổ chức học theo góc trong tiết ôn tập về toán. Góc HS giỏi; Góc HS còn
yếu; Góc HS trung bình đến khá
8
VÒNG 1 Hoạt động theo nhóm 3 người. Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ (Ví dụ :
nhóm 1 : nhiệm vụ A; nhóm 2: nhiệm vụ B, nhóm 3: nhiệm vụ C). Đảm bảo mỗi thành viên
trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao. Mỗi thành viên đều
trình bày được kết quả câu trả lời của nhóm
VÒNG 2: Hình thành nhóm 3 người mới (1người từ nhóm 1, 1 người từ nhóm 2 và 1
người từ nhóm 3)
• Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên nhóm mới chia sẻ đầy đủ
với nhau
• Nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm vừa thành lập để giải quyết
• Lời giải được ghi rõ trên bảng
Ví dụ Chủ đề: Câu tiếng Việt: * Vòng 1:
Nhiệm vụ 1: Thế nào là câu đơn? Nêu và phân tích VD minh họa
Nhiệm vụ 2: Thế nào là câu ghép? Nêu và phân tích VD minh họa
Nhiệm vụ 3: Thế nào là câu phức? Nêu và phân tích VD minh họa
* Vòng 2: Câu đơn, câu phức và câu ghép khác nhau ở điểm nào? Phân tích VD minh
hoạ.
5. Kĩ thuật sơ đồ tư duy
9
Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy. Đây là cách dễ nhất để chuyển tải thông tin
vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não; là phương tiện ghi chép sáng tạo, hiệu quả nhằm
sắp xếp ý nghĩa.
- Mục tiêu là giúp phát triển tư duy logic, khả năng phân tích tổng hợp; HS hiểu bài nhớ
lâu.
- Tác dụng là giúp HS hệ thống hóa kiến thức. tìm ra mối liên hệ giữa các kiến thức;
hiểu bài nhớ lâu, phát triển tư duy logic; mang lại hiệu quả dạy học cao.
- Cách lập sơ đồ tư duy
+ Ở vị trí trung tâm sơ đồ là một hình ảnh hay một cụm từ thể hiện một ý tưởng khái
đâu.
- Cách tiến hành
+ Cuối tiết học, GV yêu cầu HS suy nghĩ trả lời các câu hỏi sau: ( Điều quan trọng nhất các
em học hôm nay là gì? Vấn đề gì các em chưa giải đáp hôm nay? Các em có những băn
khoăn, thắc mắc gì?); HS viết ra giấy; trình bày trước lớp trong thời gian không quá 1 phút.
- Lưu ý khi sử dụng
10
Dành thời gian phù hợp cho HS chuẩn bị; động viên khuyến khích HS tham gia trình bày;
lắng nghe tôn trọng phần trình bày của HS, không tỏ thái độ chê bai; động viên HS khác lắng
nghe câu trả lời và trả lời câu hỏi đặt ra; giải đáp các câu hỏi, thắc mắc của HS.
B. THỰC HÀNH, VẬN DỤNG MỘT SỐ KTDH TÍCH CỰC
1. Vận dụng kĩ thuật đặt câu hỏi trong bài Tập đọc “ Chú đi tuần” lớp năm
Mục đích là giúp học sinh tự khám phá tìm hiểu kiến thức của bài đọc. Hệ thống câu
hỏi như sau:
+ Người chiến sĩ đi tuần trong hoàn cảnh như thế nào?
+ Đặt hình ảnh chiến sĩ đi tuần trong đêm đông bên cạnh hình ảnh giấc ngủ yên
của các em bé, tác giả muốn nói lên điều gì?
+ Tìm những chi tiết nói lên sự quan tâm yêu thương các em nhỏ của anh chiến sĩ?
+ Để tỏ lòng biết ơn các anh chiến sĩ các em phải làm gì?
Trong qua trình DH bản thân luôn dùng hệ thống câu hỏi để giảng dạy; có cách xử lí tốt
khi đặt ra câu hỏi; đưa ra câu hỏi phù hợp đối tượng HS; phù hợp quỹ thời gian với hoàn cảnh;
câu hỏi luôn ngắn gọ, dề hiểu, tạo được sự kích thích hứng thú cho HS. Tôi luôn dừng lại sau
khi hỏi, dành thời gian cho HS suy nghĩ; phân phối câu hỏi cho cả lớp; tôn trọng lắng nghe ý
kiến của HS; luôn xây dựng câu hỏi trọng tâm, không lan man.
2. Vận dụng kĩ thuật mảnh ghép:
Thực hành thiết kế KTDH mảnh ghép:
- Giai đoạn 1: Chia lớp thành 4 nhóm và phân công
b) Quan sát sản phẩm: là xem xét sản phẩm của HS sau một hoạt động. Sau khi quan sát, GV
cho nhận xét, đánh giá.
Một số mục tiêu có thể đánh giá bằng phương pháp quan sát trong dạy học như:
1.2. Các công cụ ghi nhận kết quả quan sát:
a) Sổ theo dõi kết quả kiểm tra, đánh giá HS.
b) Sổ Chủ nhiệm
c) Sổ nhật ký GV: Chẳng hạn: Ngày 14/3/2010. Toán bài 20 Nhận biết các số từ 1_20
Bạn A nhận biết số rất nhanh trong trò chơi
Bạn B hơi chậm khi ghép hình 15 con cá.
….
d) Bảng kiểm: là bảng liệt kê những hành vi, tính chất…kèm với yêu cầu xác định và được
dùng như bảng hướng dẫn theo dõi, xem xét, ghi nhận các quan sát.
Ví dụ: Khoanh tròn C (CÓ) hoặc K (KHÔNG)
Phát âm chuẩn
C
K
Nói trôi chảy
C
K
Liên quan đến bài học
C
K
Thời gian không quá 3 phút
C
K
…
đ) Thang mức độ: là phương cách tiện lợi để ghi nhận và báo cáo các vấn đề đã quan sát trên
một nội dung kiểm tra rộng lớn hay phức tạp. Thang mức độ thường được xác lập với những
mức độ có tính chất định tính hay miêu tả như “Xuất sắc, Trung bình, thường xuyên, hiếm
khí…” và nó có chức năng tương tự như thang số.
Lợi ích của KTM: theo dõi sự lĩnh hội và phát triển của HS một cách liên tục trong
học tập, nhờ vậy có những biện pháp điều chỉnh kịp thời quá trình dạy học của mình. Bên cạnh
đó GV có thể có những hình ảnh rõ nét về trình độ của HS và từ đó động viên, khuyến khích
hoặc giúp đỡ HS trong học tập.
2.2. Hình thức KTM ở tiểu học:
- Hỏi-đáp với những câu hỏi đóng hoặc mở (kiểu tự luận hạn chế)
- Hỏi-đáp với những câu hỏi trắc nghiệm khách quan.
- Trò chơi/tình huống/thảo luận/trình bày.
- Bài tập thực hành.
2.3. Tính chất của KTM:
- Ghi nhớ - tái hiện đơn giản
- Ghi nhớ - tái hiện sáng tạo
- Ghi nhớ - vận dụng – giải quyết vấn đề
2.4. Nguyên tắc thực hiện:
- Nắm rõ nội dung cần kiểm tra (Kiến thức/kỹ năng/thái độ)
- Dựa vào nội dung kiểm tra đã xác lập GV thiết kế hay lựa chọn một vài hoạt động để đánh
giá HS.
- Nên sử dụng nhiều hình thức, kỹ thuật kiểm tra nhằm tránh sự đơn điệu, tránh lặp lại nguyên
văn những câu hỏi, những bài tập đã được dùng trong lúc giảng dạy ở bài cũ.
- Ngoài kiểm tra ghi nhớ-tái hiện đơn giản, KTM cần tạo cơ hội cho các em áp dụng những
kiến thức, kỹ năng đã học vào đời sống hằng ngày và giải quyết vấn đề, tạo cho các em có cơ
hội được thể hiện, được diễn đạt, được trình bày.
3. Kiểm ta thực hành:
- Khái niệm thực hành và những kết quả học tập được đánh giá qua kiểm tra thực hành
- Vận dụng các biện pháp kiểm tra thực hành
3.1. Khái niệm và những kết quả học tập được đánh giá qua bài thực hành
a) Bài thực hành là gì? Là một kỹ thuật đánh giá mà trong đó các hành vi của HS sẽ
được xem xét trong những tình huống cụ thể, nó đòi hỏi HS phải thể hiện các kỹ năng bằng
hành động thực tế. Bài thực hành liên quan đến LÀM hơn là đến BIẾT. GV vừa đánh giá được
phương pháp / tiến trình hoạt động mà HS thực hiện vừa đánh giá được sản phẩm do HS tạo ra
3.3. Hạn chế của bài thực hành:
- Việc cho điểm cũng như nhận xét đánh giá có thể không tin cậy.
- Mất nhiều thời gian tiến hành, đặc biệt là bài thực hành mở rộng.
- Tính khái quát của việc đánh quá trình hoạt động trong các bài tập thực hành thấp.
3.4. Cách xây dựng một bài thực hành:
Bước 1: Tập trung vào những thành quả học tập đòi hỏi các kỹ năng nhận thức và
thực hành phức tạp. Từ đó, xác định các thành quả quan trọng cần đánh giá bằng thực hành.
Bước 2: Chọn và phát triên bài tập thể hiện đầy đủ cả nội dung kiến thức và kỹ năng
liên quan trực tiếp đến các thành quả học tập trọng tâm đã xác định ở B1.
Bước 3: Luôn tập trung vào ý định đánh giá
Bước 4: Cung cấp hay gợi ý cho HS những hiểu biết cần thiết
Bước 5: Xây dựng phương hướng và tiến trình thực hiện bài tập một cách rõ ràng
Bước 6: Cho HS biết các tiêu chí đánh giá các hoạt động trong khi làm và sản phẩm
sau khi làm.
3.5. Cách đánh giá các kỹ năng thực hành: Quan sát và ghi chép điều đã quan sát
được; Sử dụng bảng kiểm; thang mức độ…
4. Học sinh tự đánh giá:
Thực hành các biện pháp rèn kỹ năng tự đánh giá cho học sinh và đánh giá lẫn
nhau
VI. HỌC SINH TỰ ĐÁNH GIÁ
1. Tại sao cần rèn cho HS tiểu học kỹ năng tự đánh giá?
Tự đánh giá là hoạt động của HS đánh giá bản thân và đánh giá các bạn học cùng lớp,
thông qua đó hình thành rõ ràng hơn yêu cầu học tập, cách ứng xử với người khác và từ đó các
em điều chỉnh hay phát triển hành vi thái độ của bản thân. Mặt khác nếu các em biết cách tự
kiểm tra việc học, nhận thức được những gì mà gia đình, nhà trường mong đợi ở mình, tự tin
để đánh giá bản thân và qua đó các em có thể kiểm soát được việc học của bản thân, lên kế
hoạch để cải thiện việc học của mình, cảm thấy thoải mái về những gì các em làm được và dần
dần lĩnh hội được cách tự học.
2. Các biện pháp giúp HS đạt được kỹ năng tự đánh giá
a) GV cần đặt câu hỏi giúp HS suy nghĩ về việc học của mình. Ví dụ: Em đã đọc lại bản
* Đổi mới công tác đánh giá là một trong những đổi mới cần thiết của Chương trình giáo dục
phổ thông. Đổi mới đánh giá là kết hợp giữa tự đánh giá của học sinh với đánh giá của giáo viên,
kết hợp giữa đánh giá định lượng với đánh giá bằng định tính, kết hợp giữa đánh giá thường
xuyên trong cả quá trình học tập và đánh giá định kỳ: giữa học kỳ, cuối học kỳ và cuối năm học.
Trong đổi mới công tác đánh giá, cần coi trọng vai trò tự đánh giá của học sinh, coi trọng đánh
giá thường xuyên trong suốt quá trình học tập của học sinh, nhằm có được những thông tin đầy
đủ nhất về tinh thần, thái độ học tập, kiến thức, kỹ năng của học sinh so với Chuẩn kiến thức, kỹ
năng của chương trình. Thông qua đánh giá bằng nhận xét của giáo viên, học sinh biết mình đã
đạt ở mức độ nào của Chuẩn kiến thức, kỹ năng các môn học. Đánh giá bằng nhận xét một số
môn học đã góp phần tích cực đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá kết quả học
tập của học sinh ở tiểu học.
* Có hai hình thức đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học
- Đành giá bằng điểm số kết hợp với nhận xét đối với các môn: Toán, Tiếng Việt, Khoa
học, Lịch sử, Địa lý, Ngoại ngữ, Tiếng dân tôc, Tin học.
- Đành giá kết quả học tập bằng nhận xét đối với các môn: Đạo đức, Tự nhiên - xã hội, Âm
nhạc, Mỹ thuật, Thủ công – Kỹ thuật, Thể dục.
1. Mục đích:
- Nhằm góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học, đổi mới nội dung, phương pháp,
hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục tiểu học và đánh giá đầy đủ, toàn diện kết quả học
tập của học sinh thông qua những nhận xét của giáo viên trong quá trình học tập của học sinh.
- Khuyến khích học sinh tiểu học học tập chuyên cần; phát huy tính tích cực, năng động,
sáng tạo, khả năng tự học; xây dựng niềm tin, rèn luyện đạo đức, phát triển trì tuệ cho các em.
- Giúp cho quá trình đánh giá đơn giản và phù hợp với đặc điểm của một số môn học.
2,. Đánh giá bằng nhận xét là:
Sử dụng các nhận xét được rút ra từ quan sát các hành vi hoặc sản phẩm học tập của học
sinh theo những chuẩn (tiêu chí) cho trước mà giáo viên đưa ra những phân tích hay phán đoán
về học lực, hạnh kiểm của các em.
15
+ Đối với mỗi môn đánh giá bằng nhận xét, ở các lớp 1 và 2, học sinh được đánh giá
bằng 8 nhận xét cho mỗi lớp, còn ở lớp 3 có 10 nhận xét.
+ Nội dung, sự sắp xếp các nhận xét được xây dựng dựa trên nội dung và cách sắp xếp
các chủ đề theo từng lớp của những môn học đánh giá bằng nhận xét.
+ Ở tất cả các lớp tiểu học, với tất cả môn học, mỗi nhận xét đều có 3 – 4 chứng cứ. Các
chứng cứ được xây dựng căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học.
Cách xếp loại học lực môn học theo học kì và cả năm như sau :
Lớp 1, 2
17
Xếp loại học lực
Hoàn thành tốt (A+)
Hoàn thành (A)
Chưa hoàn thành (B)
Học kì I
4 nhận xét
2-3 nhận xét
0-1 nhận xét
Xếp loại học lực
Hoàn thành tốt (A+)
Hoàn thành (A)
Chưa hoàn thành (B)
Lớp 3, 4, 5
Học kì I
5 nhận xét