PHÒNG GD&ĐT THỊ XÃ BA ĐỒN
TRƯỜNG TH NHÂN HẢI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do – Hạnh phúc
BÀI THU HOẠCH
CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN CÁ NHÂN
NĂM HỌC: 2015 -2016
Họ và tên: TRẦN THỊ BÍCH LIÊN Ngày sinh : 15/11/1972.
Nhiệm vụ được giao: Giáo viên giảng dạy L2. Tổ phó tổ chuyên môn 1,2,3
Căn cứ Thông tư số 32/2011 ngày 08/8/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc
ban hành Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên TH;
Căn cứ vào công văn số 189/ CV-PGDĐT ngày 07/9/2015 của Phòng Giáo dục và
Đào tạo Thị xã Ba Đồn về việc hướng dẫn BDTX giáo viên năm học 2015-2016:
Căn cứ vào công văn số 198/ KHBDTX-GDTH ngày 15/9/2015 của Phòng Giáo dục
và Đào tạo Thị xã Ba Đồn về kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên giáo viên cấp tiểu học năm
học 2015-2016;
Căn cứ tình hình thực tế, trường TH Nhân Hải ban hành Kế hoạch bồi dưỡng thường
xuyên giáo viên năm học 2015-2016 như sau:
Căn cứ kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên năm học 2015-2016. Bản thân viết bài
thu hoạch này báo cáo với nhà trường những nội dung sau :
Nội dung 1. Bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ năm học theo cấp học.
Thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, củng cố kết quả các cuộc vận động chống
tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục, "Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm
gương đạo đức, tự học và sáng tạo".Thực hiện tốt các quy định về đạo đức nhà giáo, coi
trọng việc rèn luyện phẩm chất, lối sống, lương tâm nghề nghiệp.
Tổ chức dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực
học sinh; điều chỉnh nội dung dạy học theo công văn 5842; tăng cường giáo dục đạo đức,
do Phòng giáo dục và đào tạo Thị xã bBa Đồn tổ chức.
Thực hiện tốt nhiệm vụ năm học 2015- 2016, đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch năm
học. Mở chuyên đề đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn. Điều chỉnh nội dung dạy học đối với
môn Toán, Tiếng Việt, các môn học khác theo công văn 5842. Thực hiện việc dạy học 2
buổi/ ngày tăng cường tiết luyện tập Toán và Tiếng Việt, củng cố và khắc sâu kiến thức
cho học sinh.
Nội dung 3:
Căn cứ nhu cầu cá nhân, khối kiến thức tự chọn trong chương trình bồi dưỡng
thường xuyên bản thân tôi tự lựa chọn và đã thực hiện được các mô dun bồi dưỡng trong
năm học 2015 – 2016 như sau :
ModuleTH 20 : Kiến thức, kĩ năng tin học cơ bản.
A.Giới thiệu tổng quan
Tin học là ngành khoa học nghiên cứu các phương pháp, công nghệ và quá trình cử lý
thông tin một cách tự động dựa trên các phương tiện kĩ thuật, mà chủ yếu hiện nay mà máy
tính điện tử.
Như vậy, khía cạnh khoa học của tin học chính alf phương pháp, còn khía cạnh kĩ thuật của
tin học chính là công nghệ chế tạo MTĐT cũng như sản xuất các chương trình hệ thống
tiện ích và ứng dụng.
B.Mục tiêu:
Về kiến thức:
- Hiểu được một số khái niệm cơ bản về tin học
-Trình bày được cấu tạo của MTĐT và các thiết bị ngoại vi
Về kĩ năng:
-Thực hiện đúng thành thạo các thao tác cơ bản trong hệ điều hành windows.
-Thực hiện đúng thành thạo các thao tác cơ bản của phần mềm soan thảo văn bản word
C. Nội dung:
CÁC KHÁI NIỆM CỦA TIN HỌC
1.Tìm hiểu khái niệm thông tin và tin học
tin, con người phải thực hiện những hoạt động với thông tin mà ta gọi là xử lý thông tin.
Thật ra, Hoạt động xử lý thông tin vẫn diễn ra hằng ngày ngay cả phải làm những việc đơn
giản nhất
Như vậy một qua trình xử lý thông tin có thể diễn ra bởi sơ đồ như sau:
Đưa tin vào
Xử lý tin
Đưa tin ra
1.Khái niệm về tin học
Một cách tổng quát, tin học là ngành khoa học nghiên cứu các phương pháp, công
nghệ và quá trình xử lý thông tin một cách tự động dựa trên các phương tiện kĩ thuật mà
chủ yếu hiện nay mà MTĐT. Như vậy khía cạnh khoa học của tin học chính là phương
pháp, còn khía cạnh kĩ thuật của tin học chính là công nghệ chế tạo MTĐT cũng như sản
xuất các chương trình hệ thống, tiện ích và ứng dụng.
Hiện nay người ta những thuật ngữ công nghệ thông tin có tính bao quát hơn. Công
nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kĩ thuật hiện
đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin.
Module TH3 : Đặc điểm tâm lý của học sinh yếu kém, học sinh cá biệt
1/ Đặc điểm của Học sinh cá biệt :
Đối với những Học sinh cá biệt luôn luôn có tính hiếu động, thích tìm tòi và
luôn gây sự chú ý cho người khác ở bất kỳ nơi nào, thời điểm nào.
Trước hết chúng ta nên nói đến tính cách của trẻ là sự kết hợp độc đáo giữa đặc
điểm tâm sinh lý của trẻ với điều kiện hoàn cảnh sống nhất định.
Biểu hiện của trẻ là nhanh nhẹn , hoạt bát cùng với sự nghịch ngợm, bất ổn định
kèm theo , bên cạnh đó học tập có thể là học yếu hoặc trung bình, vì các em đó trong lớp
ít chú ý hoặc thậm chí không chú ý khi cô giáo giảng bài, luôn quậy phá các bạn ngồi bên
gì? Vì sao phải học?
b. Người ta phân chia động cơ học tập của học sinh ra thành nhiều loại như sau:
+ Động cơ mang tính xã hội: học để sau này góp phần xây dựng đất nước,xây dựng quê
hương.
+ Động cơ mang tính cá nhân: học vì lợi ích riêng của mình ,muốn hơn người, muốn sau
này có vị trí cao trong xã hội…
+ Động cơ bên trong:xuất phát từ chính việc học, nghĩa là học để nắm được kiến thức,
vận dụng nó vào thực tế một cách khoa học.
+ Động cơ bên ngoài: Học vì muốn có điểm tốt ,muốn thầy cô và cha mẹ vui lòng…
Có động cơ học tập đúng đắn nghĩa là động cơ xuất phát từ chính việc học,học sinh học
tập để có kết quả tốt . Do vậy sẽ tạo cho học sinh yêu thích việc học,có hứng thú trong
học tập.Động cơ tạo nên động lực học đó chính là thành tố quan trọng trong cấu trúc hoạt
động học tập của học sinh.
* Đối với học sinh yếu do hoàn cảnh gia đình
Gia đình là môi trường giáo dục có ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ.Trước tiên là ảnh
hưởng của cha mẹ rất sâu sắc. Vì vậy,giáo dục gia đình là một “điểm mạnh”, là một bộ
phận quan trọng trong sự nghiệp giáo dục trẻ. Song mỗi gia đình có những điểm riêng
của nó nên giáo viên phải biết phối hợp như thế nào để đảm bảo được tính thống nhất,
toàn vẹn trong quá trình giáo dục. Trước những nguyên nhân xuất phát từ gia đình giáo
viên cần:
- Tạo cơ hội để trao đổi trực tiếp với phụ huynh học sinh, nắm bắt cụ thể hướng phấn đấu
của em vì mục tiêu, kế hoạch chung của lớp,của trường.Thông qua các buổi họp phụ
huynh học sinh.
- Hợp tác giữa giáo viên và phụ huynh là điều cần thiết để học sinh học tập và rèn
luyện.Qua đó,giáo viên sẽ thông tin kịp thời đến phụ huynh về kết quả học tập,hạnh
kiểm,các mặt tham gia hoạt động …của con em mình thông qua sổ liên lạc.- Giáo viên
chỉ mời phụ huynh khi cần thiết để bàn bạc biện pháp giáo dục các em. (không nên lạm
dụng).
Chính những tác động trực tiếp thường tạo ra dấu ấn tức thì về sự chuyển biến tâm lí như
thái độ, hành vi ,tình cảm học sinh sẽ dần tiến bộ
3. Tâm lý của học sinh khá giỏi, học sinh năng khiếu:
a. Năng khiếu là gì? năng khiếu là tập hợp những tư chất bẩm sinh, nét đặc trưng và
tính chất đặc thù làm tiền đề bẩm sinh cho năng lực.
Năng khiếu tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành năng lực và tài năng. Nghĩa là
không phải trẻ nào có năng khiếu cũng là thiên tài. Một em có năng khiếu đối với hoạt
động nào đó không nhất thiết sẽ trở thành tài năng trong lĩnh vực ấy và ngược lại.
Tóm lại:Năng khiếu là mầm mống của tài năng , tương lai . Nếu được phát hiện bồi
dưỡng kịp thời có phương pháp và hệ thống thì năng khiếu được phát triển và đạt tới đỉnh
cao của năng lực, ngược lại thì năng khiếu sẽ bị thui chột
Người có năng lực năng khiếu thì thị giác thính giác xúc giác vị giác khứu giác có những
cảm giác tri giác đặc biệt ( ngoại cảm )
Cảm giác , tri giác, ghi nhớ tưởng tượng và tư duy có chất lượng cao sẽ quyết định năng
khiếu và tài năng của mỗi con người .
b. Năng lực là gì?: Con người vốn có tiềm năng nội lực hoặc ở mặt này , mặt khác kể cả
những người có khuyết tật . Cần có điều kiện thích ứng để năng lực được bộc lộ và hoàn
thiện . Cho nên năng lực là những đặc điểm tâm lý cá biệt ở mỗi người tạo thành chiều
sâu cường độ lĩnh hội tri thức , hình thành kỹ năng kỹ xảo để đáp ứng yêu cầu và hoàn
thành xuất sắc một hoạt động nhất định
* Trình độ cao của năng lực:
Chính là tài năng ở trình độ tột đỉnh là thiên tài . Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình phát
triển, vận động của một hoạt động tương ứng cụ thể . Năng lực là sản phẩm của một hoạt
động thực tiễn tích cực của con người không tách rời hoàn cảnh xã hội và tham gia phục
vụ cho sự phát triển xã hội
Mới có việc mà biết việc sau sẽ ra sao
Định việc mà đoán được việc diễn biến thế nào ? Đó là người có tâm .
Vậy Năng lực vừa là trí ( Trí khôn , thông minh ) là tâm đức thống nhất trong một cấu
đi với các trẻ khác, thích báo cáo kết quả của nhóm.
6. Em đó cũng hay "bảo thủ", cứ cho là mình làm đúng. Thường tìm ra cách giải khác hay
hơn chẳng hạn, dài hơn cách giải thầy cô, sách giáo khoa. Em đó luôn tin tưởng vào những
ý kiến và các việc đã làm của mình. Điều này rất quan trọng cho giáo viên khi đãi cát tìm
vàng, lựa chọn đội ngũ học sinh giỏi .Tố chất này tôi cho là cần phải có ở trẻ khi vào đội
tuyển bồi dưỡng học sinh giỏi. .
7. Em đó luôn thực hiện tốt các môn học khác.
8. Em đó có tính sáng tạo; nghĩa là, thích kể chuyện, vẽ hoặc âm nhạc, văn nghệ.
9. Em đó cần có óc khôi hài và nhanh trí.
10. Em đó thích chơi và làm bạn với những trẻ lớn hơn Và thích nói chuyện với người lớn.
11. Em đó có khả năng nhớ các sự việc và kể lại những sự việc đó.
* Biện pháp với HS khá giỏi, năng khiếu.
- Rà soát Phát hiện đi đôi với bồi dưỡng. GV Theo dõi nắm bắt đối tượng học sinh.
Phân loại học sinh ngay trong tháng 8. Tập hợp và nắm số liệu học sinh giỏi.
- Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi ngay từ đầu năm học.
- Việc bồi dưỡng phải được tiến hành thường xuyên trong mỗi bài, mỗi chương.
- Với học sinh khá giỏi phải biết khơi dậy trong các em tính ham học, thích tìm tòi,
hiểu biết. Phải biết nắm chắc kiến thức cơ bản. Từ đó mà phát triển nâng dần kiến thức cao
hơn.
- Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh khá giỏi cách học, phương pháp học, chú
trọng việc tự học, tự bồi dưỡng và ý thức tự giác học tập.
- Thường xuyên kiểm tra định kỳ. Qua kiểm tra để thấy được học sinh còn hổng chỗ
nào để kịp thời có kế hoạch bồi dưỡng phù hợp.
- Kết hợp với phụ huynh để nâng cao chất lượng. Việc kết hợp giáo dục giữa giáo
viên và gia đình là một điều không thể thiếu trong việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng học
sinh giỏi.
3. Phương pháp bồi dưỡng.
- Bồi dưỡng thông qua dự các chuyên đề do tổ, trường tổ chức.
quan sát, tìm tòi, thu nhận kiến thức, hình thành KNKHBH. . Cái cần thiết ở đây là để chủ
thể HS dưới sự dẫn dắt của GV các em tự chiếm lĩnh được tri thức, phát triển được các KN.
Chính vì vậy TKBH phải tập trung vào hoạt động học tập của HS.
Khi thiết kế các hoạt động trong bài hình thành kiến thức mới, lưu ý là phải thiết kế theo
hướng phát huy tính tích cực của HS; tạo điều kiện để HS tự phát hiện khám phá và chiếm
lĩnh tri thức. Tự tìm tòi khám phá kiến thức giúp HS rèn luyện tính chủ động, sáng tạo,
hiểu sâu và nhớ lâu kiến thức.
Thiết kế các hoạt động để hướng dẫn HS tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh kiến thức mới, GV
cần lưu ý cách gợi mở nêu vấn đề để thu hút HS; củng cố kiến thức cũ, huy động vốn sống
để HS tự giải quyết vấn đề; tổ chức hướng dẫn HS độc lập suy nghĩ, thảo luận có hiệu qủa;
quan sát theo dõi quá trình HS tự tìm tòi, khám phá, chú ý đến những dấu hiệu nhận biết .
Tóm lại để thiết kế KHBH cho bài hình thành kiến thức mới theo hướng DHTC GV cần
lưu ý đến y/cầu đổi mới PPDH; chương trình, TBDH; coi trọng hoạt động học tập cho HS
tạo điều kiện để HS chủ động tham gia các hoạt động; chú ý khả năng tự học của HS.Có
như vậy giờ dạy của chúng ta mới có chất lượng; HS nắm bắt kiến thức vững chắc, đáp
ứng được mục tiêu GD&ĐT.
II. Đồ dùng dạy học.
Hoạt động của GV
Hoạt động của học sinh
1.Khởi động (2 phút)
2. Bài mới
a. Giới thiệu bài (1 phút) ( Vào đề trực tiếp)
b. Các HĐ chính
Hoạt động 1: (5 phút) Thảo luận nhóm tìm hiểu các vật tự phát ra ánh sáng và các vật
được chiếu sáng.
*Mục tiêu: Phân biệt được các vật tự phát sáng và các vật được chiếu sáng
* Cách tiến hành:
- Bước 1: Thảo luận nhóm
của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự
học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
b. Thế nào là tính tích cực học tập? Tính tích cực học tập - về thực chất là tính tích
cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong qúa
trình chiếm lĩnh tri thức. tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước
hết với động cơ học tập. Động cơ đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác.
Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực. Tính tích cực sản sinh nếp tư duy
độc lập. Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo. Tính tích học tập biểu hiện ở những
dấu hiệu như: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn,
thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích
cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận
thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập,
không nản trước những tình huống khó khăn…
c. Phương pháp dạy học tích cực: Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ
rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. "Tích cực" trong PPDH - tích cực
được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa,
tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích
cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy,
tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực hơn rất nhiều so
với dạy theo phương pháp thụ động.
Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối
hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công.
d. Mối quan hệ giữa dạy và học, tích cực với dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
Dạy học lấy học sinh làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tương đương như: dạy học tập
trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học… Các
thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của học sinh
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều
tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường
độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi
các hoạt động độc lập.
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình
thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp thầy với trò,
trò với trò, trò với thầy, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường
chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá
nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ
mới. Trong lớp học, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở nhóm, tổ, lớp. Học tập
hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc
xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong
hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi
thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ.
(Tuy nhiên trong thực tế vẫn có học sinh có thói quen ỷ lại bạn khi hoạt động nhóm).
d. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò. Trong dạy học, việc đánh
giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học
của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy
của thầy.
Trước đây giáo viên đánh giá học sinh. Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải
hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Liên quan với
điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh tự đánh giá bản thân và được
tham gia đánh giá bạn. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất
cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh.
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò
đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng
dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học
tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình.
Nội dung 2: Một số phương pháp dạy học tích cực ở Tiểu học.
a. Phương pháp vấn đáp
* Giải quyết vấn đề đặt ra:
- Đề xuất cách giải quyết.
- Lập kế hoạch giải quyết.
- Thực hiện kế hoạch giải quyết.
* Kết luận: - Thảo luận kết quả và đánh giá.
- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra.
- Phát biểu kết luận.
- Đề xuất vấn đề mới.
* Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:
Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề. Học sinh thực hiện cách
giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của
học sinh.
Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề. Giáo
viên và học sinh cùng đánh giá.
Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. Học sinh phát hiện
và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp. Học sinh thực
hiện cách giải quyết vấn đề. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.
Mức 4: Học sinh tự phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng
đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết. Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu
quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc.
c. Phương pháp hoạt động nhóm: Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6
người. Tuỳ mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên
Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể phân công mỗi người một
phần việc. Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào
một vài người hiểu biết hay năng động hơn. Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm
hiêu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi
nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp. Để trình bày kết quả làm việc của
nhóm mình, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày .
- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận rõ từng ý.
Nội dung 3: Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học các môn học
ở tiểu học.
a, Vận dụng phương pháp đặt và giải quyết vấn đề trong dạy học các môn học ở tiểu
học:
b, Vận dụng phương pháp hợp tác theo nhóm nhỏ trong dạy học các môn học ở tiểu
học.
c, Vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học các môn học ở tiểu học.
d, Vận dụng phương pháp trò chơi trong dạy học các môn học ở tiểu học.
e, Vận dụng phương pháp vấn đáp trong dạy học các môn học ở tiểu học
Module TH 13
Tên module : Kĩ năng lập kế hoạch bài học theo hướng dạy học tích cực.
Mục tiêu:
Cần nắm được các kiến thức:
-Phân biệt được các loại bài học ở tiểu học và yêu cầu của mỗi loại bài học
- Biết cách triển khai modun loại bài học trên lớp theo hướng dạy học phát huy tính tích
cực của học sinh
- Nêu được các bước, yêu cầu thiết kế kế hoạch bài học theo hướng phát huy tính tích cực
học tập của học sinh.
Nội dung |: Khái niệm chung về lập kế hoạch dạy học theo hướng phát huy tính tích cực
học tập của học sinh
- Các bước thiết kế kế hoạch bài học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học
sinh
- cách triển khai loại bài xây dựng kiến thức mới
- cách triển khai loại bài luyện tập
- Thực hành thiết kế một số bài trong môn toán tiểu học
Module TH 26
Tên module : Hình thức tự luận và trắc nghiệm trong đánh giá kết quả học tập ở tiểu
học
Mục tiêu : Hiểu được đặc điểm của các hình thức tự luận và trắc nghiệm trong đánh giá kết
Có nhiều ý kiến cho rằng chỉ sử dụng dạng này trong lúc giảng dạy để đánh giá sự phát
triển năng lực của HS mà thôi
b) Dựa vào các mức độ nhận thức: Có 4 loại:
- Bài tự luận đo lường khả năng ứng dụng;
- Bài tự luận đo lường khả năng phân tích;
- Bài tự luận đo lường khả năng tổng hợp;
- Bài tự luận đo lường khả năng đánh giá.
Ở tiểu học, bài tự luận chủ yếu đo lường khả năng ứng dụng.
3. Cách biên soạn đề bài tự luận:
- Xem xét lại những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần đánh giá.
- Nội dung đòi hỏi HS dùng kiến thức đã học để giải quyết một tình huống cụ thể.
- Nội dung câu hỏi phải có yếu tố mới đối với HS.
- Mối quan hệ giữa kiến thức được học với giải pháp cần sử dụng cho vấn đề đặt ra có thể
gần nhưng không dễ dàng nhận ra được.
- Bài tự luận được trình bày đầy đủ với 2 phần chính: Phần phát biểu về tình huống và
Phần phát biểu về sự lựa chọn sao cho mỗi HS có thể làm việc trong một ngữ cảnh bình
thường và dễ hiểu.
- Phần hướng dẫn trả lời: trình bày những mức độ cụ thể của câu trả lời: độ dài của bài,
những điểm chuyên biệt, những hành vi cần thể hiện như giải thích, miêu tả, chứng minh…
- Hình thức của bài tự luận có thể là câu hỏi hay lời đề nghị, yêu cầu.
4. Cách chấm điểm bài tự luận:
GV xây dựng thang điểm chấm. Tùy theo đặc điểm thang điểm chấm mà việc chấm
bài tự luận chia thành 2 hướng:
a) Hướng dẫn chấm cảm tính: Khi thang điểm chấm được nêu một cách vắn tắt với
những yêu cầu tổng quát thì khi chấm thường có xu hướng chấm theo cảm tính.
b) Hướng dẫn chấm phân tích: Khi thang điểm chấm với những yêu cầu chi tiết cho từng
mức điểm đến mức có thể lượng hóa được thì việc chấm thường có xu hướng phân tích.
II. BÀI TRẮC NGHIỆM
b. CÂU TRẮC NGHIỆM ĐÚNG SAI: Gồm 2 phần. Phần I (Phần đề): Một câu hỏi hoặc một phát
biểu. Phần II: là hai phương án lựa chọn: Đúng-Sai; Phải-Không phải; Đồng ý-Không đồng
ý.
1) Yêu cầu: Chọn một trong hai phương án trả lời.
2) Ưu điểm: Dễ xây dựng; Có thể ra nhiều câu một lúc ít tốn thời gian cho mỗi câu, nhờ
vậy mà khả năng bao quát chương trình lớn hơn.
3) Nhược điểm: Chỉ kiểm tra mức độ BIẾT và HIỂU ĐƠN GIẢN; Tỷ lệ đoán mò 50%.
4) Những đề nghị khi biên soạn:
- Tránh đưa ra những câu hỏi chung chung, không quan trọng.
- Tránh sử dụng những câu hỏi phủ định, đặc biệt là phủ định kép.
- Tránh các câu hỏi dài, phức tạp.
- Đáp án cho mỗi câu trắc nghiệm trả lời cần ngắn gọn.
- Tránh bao gồm hai ý tưởng trong một câu hỏi, trừ khi đo lường khả năng nhận ra mối
quan hệ nhân quả.
- Lưu ý tính logic khi sử dụng câu gồm hai mệnh đề có quan hệ nhân quả.
- Số lượng câu trắc nghiệm có trả lời đúng và số câu trắc nghiệm có trả lời sai nên bằng
nhau.
- Tránh hoặc hạn chế lấy nguyên văn từ sách giáo.
c. TRẮC NGHIỆM ĐỐI CHIẾU CẶP ĐÔI: Gồm 2 phần: Phần thông tin ở bảng truy và Phần thông
tin ở bảng chọn. Hai phần này được thiết kế thành 2 cột.
1) Yêu cầu: Lựa chọn yếu tố tương đương hoặc có sự tương hợp của mỗi cặp thông tin từ
bảng truy và bảng chọn. Giữa các cặp ở hai bảng đã có mối liên hệ trên cơ sở đã định. Có
hai hình thức:
+ Trắc nghiệm đối chiếu hoàn toàn: Số mục ở bảng truy bằng số mục ở bảng chọn
+ Trắc nghiệm đối chiếu không hoàn toàn: Số mục ở bảng truy ít hơn số mục bảng chọn
2) Ưu điểm: Dễ xây dựng; Hạn chế sự đoàn mò bằng cách thiết kế trắc nghiệm không
hoàn toàn.
3) Nhược điểm: Chỉ kiểm tra khả năng nhận biết. Thông tin có tính cách dàn trải, ít tập
- Loại câu trắc nghiệm điền khuyết được trình bày dưới dạng một câu có chỗ chấm hoặc ô
trống, HS phải trả lời bằng cách viết câu trả lời hoặc viết số, dấu vào chỗ trống. Trước câu
hỏi trắc nghiệm điền khuyết thường có câu lệnh: “Viết (điền) số (dấu)” thích hợp vào chỗ
(ô) chấm (trống)”, “Viết vào chỗ trống cho thích hợp” hay “Viết (theo mẫu)”.
2. Loại câu trắc nghiệm đúng £ sai
- Loại câu trắc nghiệm £ sai được trình bày dưới dạng một câu phát biểu và HS phải trả
lời bằng cách chọn “đúng” (Đ) hoặc “sai” (S). Trước câu hỏi trắc nghiệm đúng – sai
thường có một câu lệnh “Đúng ghi đ (Đ), sai ghi s (S)”.
Loại câu trắc nghiệm đúng – sai đơn giản, dễ sử dụng, phù hợp với việc khảo sát trí
nhớ hay nhận biết khái niệm, sự kiện.
III.PHƯƠNG PHÁP SOLO
1. Phân loại Bloom (1956) (B.Bloom, nhà tâm lý học giáo dục Mỹ)
-Phân loại mục tiêu giáo dục dựa trên kết quả đạt được của mục tiêu học tập.
Mục tiêu giáo dục có ở 3 lĩnh vực:
1.Nhận thức
2.Tác động
3.Vận động
-Mỗi lĩnh vực đều được cấu trúc hóa thành một hình thang đa cấp từ thấp đến cao
người ta gọi đó là Cấu trúc tầng bậc: Kết quả cấp thấp hơn được tích lũy vào cấp cao hơn
-Một nền giáo dục toàn diện phải bao gồm được cả 3 lĩnh vực. Hiện nay mới chỉ
khai thác KTĐG ở lĩnh vực nhận thức, 2 lĩnh vực còn lại chưa được khai thác có hệ thống
và khoa học
2. Cấu trúc solo: Gồm cấu trúc về lượng và chất. Có 5 bước cụ thể sau:
A. Các mức về lượng
1- Tiền cấu trúc: Chỉ nhận ra những thông tin rời rạc, không kết nối, không cho thấy tính
tổ chức giữa các thông tin. Thông tin nhận được do vậy vô nghĩa. Đôi khi có phản hồi ra vẻ
tinh tường nhưng đó chỉ mới là những biểu hiện ngẫu nhiên.
nhỏ
nhỏ dại
nhỏ nhặt
nhỏ tuổi
nhỏ xíu
nhỏ yếu
lớn
lớn khôn
lớn lao
lớn tuổi
lớn tướng
lớn mạnh
soạn đề kiểm tra.
1. Soạn đề kiểm tra theo hình thức trắc nghiệm:
Module TH 24
Tên module : Đánh giá kết quả học tập ở tiểu học.
Mục tiêu : Hiểu được chức năng cơ bản và các nguyên tăc đánh giá kết qảu học tập
- Hiểu và trình bày được bốn loại đánh giá ở tiểu học
- xác lập được nội dung đánh giá.
mạng ở địa phương.
Nội dung.
Nội dung 1: khái niệm tổng quát về đo lường và đánh giá kết quả học tập ở tiểu học
Hoạt động 1: Tiếp cận vấn đề kiểm tra, đánh giá dưới góc độ lí luận dạy học hiện đại
Hoạt động 2: tìm hiểu về đo lường trong giáo dục
Hoạt động 3: Phân tích khái niệm đánh giá trong giáo dục ở tiểu học
V. BÀI THỰC HÀNH
Module TH19: TỰ LÀM ĐỒ DÙNG DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC
I. Ý nghĩa của việc tự làm thiết bị dạy học.
Tự làm TBDH là một trong những phương hướng quan trọng của công tác giáo
4. Tính thẩm mĩ.
- Đẹp, bền, gây cảm hứng cho cả người dạy và người học.
- Đảm bảo vệ sinh môi trường, tiết kiệm,...
III. Hướng nghiên cứu, thực hành chế tạo được một số TBDH tự làm trong các môn
học dựa trên danh mục TBDH đã được cung cấp.
1. Hướng công tác tự làm TBDH tới các loại hình sau:
- Sửa chữa những dụng cụ hỏng.
- Cải tiến các dụng cụ cũ, dụng cụ nước ngoài cho phù hợp với điều kiện Việt
Nam.
- Bổ sung những dụng cụ mới vào bộ dụng cụ đã có, làm cho chúng trở nên thành
một bộ dụng cụ hoàn chỉnh và có thể sử dụng được.
2. Tổ chức phong trào tự làm đồ dùng dạy học trong trường tiểu học.
- Nghiên cứu, khai thác hết những TBDH đã được cung cấp cho khối mình, lớp
mình, những TBDH đã được cung cấp có thể dùng chung cho khối lớp khác.
- Định ra kế hoạch tự làm TBDH cho từng học kì và cả năm học.
- Hướng dẫn học sinh cùng tham gia, nhất là công việc sưu tầm tranh, ảnh từ sách
báo, tạp chí, lịch, sưu tầm hiện vật,...
- Nhờ sự hỗ trợ của đồng nghiệp, cha mẹ học sinh, người thân,...trong công tác tự
làm những thiết bị phục vụ dạy học.
Module TH 8: Thư viện trường học thân thiện
Mục tiêu:
Về kiến thức
-Cung cấp cho người học những hiểu biết về thư viện trường học thân thiện: Khái niệm,
cấu trúc, đặc điểm cũng như sự khác nhau giữa thư viện thân thiện với các hình thưc thư
viện khác nha giữa thư viện và thân thiện .
-Phân tích đầy đủ các khâu lập kế hoạch, xây dựng và phát triển hoàn chỉnh
Module 8: Thư viện trường học thân thiện .
Hiểu dược thế nào là trường học thân thiện .Nắm được các hình thức tổ chức thư viện
Các công việc cần làm ở phòng mượn:
Tiếp nhận yêu cầu và tìm sách
Ghi tài liệu vào sổ mượn.
Quản lí sổ mượn: Xếp theo tển giáo viên.với học sinh xếp theo khối ,Trong từng lớp xép
theo thứ tự.
Xếp thời gian trả sách
Thống kê bạn đọc
Phục vụ bạn đọc ngoài thư viện
Tổ chức túi sách lưu động.
Nội dung 3: Một số hoạt động của thư viện trường học thân thiện
Gồm có 2 hoạt động
Hoạt động 1: hoạt động tuyên truyền miệng trong thư viện trường học
Hoạt động 2: Hoạt động tuyên truyền trực quan trong thư viện trong thư viện trường học
Module 7: Xây dựng môi trường học tập thân thiện:
1.1 Môi trường là gì?
- Môi trường là toàn bộ các yếu tố tự nhiên và xã hội hiện hữu, ảnh hưởng đến
đời sống và nhân cách con người. Môi trường bao quanh con người,gồm môi trường
tự nhiên và môi trường xã hội. Môi trường tự nhiên gồm khí hậu, đất, nước, sinh
thái... Môi trường xã hội là các điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hoá...
- Hoàn cảnh sống được hiểu là một yếu tố hoặc là một môi trường nhỏ hợp
thành của môi trường lớn. Môi trường nhỏ tác động trục tiếp, mạnh mẽ, trong một
thời gian, không gian nhất định tạo nên hướng hình thành và phát triển nhân cách,
ví dụ: hoàn cảnh kinh tế khó khăn, hoàn cảnh bệnh tật ốm đau... Trong quá trình
hình thành và phát triển nhân cách thì môi trường xã hội (trong đó có gia đình, bạn
bè, tập thể lớp, trường...), thông qua các mỗi quan hệ đa dạng, có ý nghĩa quan
trọng đặc biệt.
- Mỗi con người ngay từ khi mới sinh ra đã phải sống trong một môi trường,
hoàn cảnh nhất định, có thể gặp thuận lợi hoặc khó khăn đối với quá trình phát