Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ TRÚC NGUYÊN
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÓA HỌC BẰNG
TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(Áp dụng chương trình hóa học 11)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số: 60140111
Trang 1
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
NGHỆ AN – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ TRÚC NGUYÊN
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÓA HỌC BẰNG
TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(Áp dụng chương trình hóa học 11)
1.1 Mục đích và ý nghĩa dạy học hóa học phổ thông bằng tiếng Anh...............................................................12
1.1.1 Rèn luyện các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh trong học tập.....................................................12
Trang 3
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
1.1.1.1.1 Mục đích và ý nghĩa............................................................................................................12
1.1.1.1.2 Nguyên tắc chung cho một tiết dạy nghe............................................................................12
1.1.1.1.3 Rèn luyện kĩ năng nghe trong dạy học hóa học...................................................................13
1.1.1.1.4 Mục đích và ý nghĩa............................................................................................................13
1.1.1.1.5 Nguyên tắc chung cho một tiết dạy nói...............................................................................13
1.1.1.1.6 Rèn luyện kĩ năng nói trong dạy học hóa học.....................................................................13
1.1.1.2 Kỹ năng đọc.................................................................................................................................14
1.1.1.2.1 Mục đích và ý nghĩa............................................................................................................14
1.1.1.2.2 Nguyên tắc chung cho một tiết dạy đọc..............................................................................14
1.1.1.3 Kỹ năng viết.................................................................................................................................14
1.1.1.3.1 Mục đích và ý nghĩa............................................................................................................14
1.1.1.3.2 Nguyên tắc chung cho một tiết dạy đọc..............................................................................14
1.1.2 Tạo sự tự tin trong giao tiếp học thuật bằng tiếng Anh.......................................................................15
1.1.2.1 Ý nghĩa của tự tin .......................................................................................................................15
1.1.2.2 Tự tin trong dạy học hóa học.......................................................................................................15
1.1.3 Hội nhập với giáo dục thế giới.............................................................................................................15
1.1.3.1 Đặt vấn đề....................................................................................................................................15
1.1.3.2 Thuận lợi và khó khăn khi hội nhập............................................................................................16
1.1.3.3 Hiện trạng hội nhập quốc tế về giáo dục ở Việt Nam..................................................................17
1.1.3.4 Chiến lược hội nhập quốc tế về giáo dục.....................................................................................18
1.2 Thực trạng triển khai đề án dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở trường phổ thông.......19
1.2.1 Giới thiệu Đề án Phát triển hệ thống trường trung học phổ thông chuyên giai đoạn 2010 – 2020 (Số
A. VOCABULARY......................................................................................................................................59
2.2.3. CHAPTER 3: CARBON -SILICIC..................................................................................................71
A. VOCABULARY.....................................................................................................................................71
2.2.4. CHAPTER 4: GENERAL ORGANIC CHEMISTRY.......................................................................78
A. VOCABULARY.....................................................................................................................................78
2. The IUPAC systematic approach to nomenclature..................................................................................85
2.2.5. CHAPTER 5:
ALKANES................................................................................................................89
A. VOCABULARY.....................................................................................................................................89
2.2.6. CHAPTER 6: UNSTATURATED HYDROCARBONS...................................................................99
Trang 5
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
A. VOCABULARY.....................................................................................................................................99
2.2.7. CHAPTER 7: BENZENE AND ALKYL BENZENES...................................................................116
A. VOCABULARY...................................................................................................................................116
2.2.8. CHAPTER 8: ALCOHOL -PHENOL..............................................................................................127
A. VOCABULARY....................................................................................................................................127
2.2.9. CHAPTER 9: ANDEHYDES – KETONES AND CARBOXYLIC ACIDS...................................141
A. VOCABULARY....................................................................................................................................141
2.3. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập hóa học bằng tiếng Anh.....................................................................154
2.3.1. Mục đích kiểm tra, đánh giá.............................................................................................................154
2.3.2. Nội dung kiểm tra.............................................................................................................................154
2.3.3. Đánh giá kết quả...............................................................................................................................155
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM...........................................................................................................156
Vinh, ngày 02 tháng 10 năm 2014
Nguyễn Thị Trúc Nguyên
Trang 7
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UBND
GD-ĐT
THCS
THPT
ĐH
GV
HS
TPHCM
Pt
PTPƯ
TSĐH – CĐ
Xt
Đktc
Dd
hh
ĐC
TN
TNSP
GD
HK
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hội nhập thế giới luôn là vấn đề được quan tâm đặc biệt ở nước ta, từ lĩnh vực kinh
tế đến chính trị rồi đến y tế và bây giờ là giáo dục. Đi trước nguyện vọng của GV, HS,
phụ huynh, Bộ GD & ĐT ban hành đề án Phát triển hệ thống trường trung học phổ
thông chuyên giai đoạn 2010 – 2020 (Số 959/QĐ-TTg ngày 24/6/2010). Nội dung của
đề án nêu rõ nhiệm vụ trọng tâm của các trường THPT chuyên giai đoạn 2015 -1020 là
nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ, tin học, dạy tăng cường tiếng Anh, chuẩn bị
triển khai dạy và học các môn vật lí, hóa học, sinh học bằng tiếng Anh ở khoảng 30%
số trường. Mỗi năm tăng thêm 15 - 20% số trường, hoàn thành vào năm 2020.
Những năm qua, việc triển khai dạy khoa học bằng tiếng Anh chỉ mới bắt đầu thí
điểm ở một số trường, tuy nhiên đã gặp phải một số trở ngại, trở ngại về từ ngữ, thuật
ngữ, trở ngại về việc sử dụng khả năng ta, trở ngại về HS. Bên cạnh đó, còn trở ngại
về việc chưa có khung chương trình chung giảng dạy bằng tiếng Anh, chưa có tiêu
chuẩn đánh giá một cách chính xác, cụ thể. Việc thí điểm cũng chỉ mới ở giai đoạn GV
tự mày mò, mỗi trường mỗi kiểu, mỗi GV mỗi kiểu, chủ yếu là tự thân GV vận động,
một mặt tự trao dồi tiếng Anh, mặt khác tự tra khảo kiến thức qua sách báo, qua mạng
internet. Ai may mắn hơn thì có được một số giáo trình tiếng Anh do những du HS
cung cấp. Riêng với môn hóa thì việc triển khai có chậm hơn so với môn khác và cũng
triển khai được ít hơn so với các môn Toán, Lý.
Như vậy, thời điểm này, ngoài phần nhỏ các trường chuyên hàng đầu trong nước
có đủ nhân lực, HS tương đối đảm bảo trình độ để thí điểm thì phần lớn các trường
chuyên khác đây vẫn đang là giai đoạn manh nha, GV vẫn đang tích lũy cho mình kiến
thức và kinh nghiệm để chuẩn bị đáp ứng với yêu cầu chung lâu dài của Bộ.
Mặc dù áp dụng việc dạy các môn khoa học bằng tiếng Anh đang còn nhiều tranh
cãi, số đồng tình chưa nhiều nhưng phải công nhận một thực tế rằng việc dạy hóa bằng
tiếng Anh có một tầm quan trọng riêng, thực hiện được mục tiêu kép đó là tăng cường
Giúp học sinh
Học sinh Việt Nam phần đông vẫn còn yếu ngoại ngữ. Do vậy, thông qua việc học
Hóa và các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh để nâng cao năng lực ngoại ngữ
cho học sinh.
3. Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường THPT (áp dụng
cho chương trình hóa 11)
- Tìm hiểu thực trạng việc dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở các trường chuyên
THPT hiện nay.
- Xây dựng hệ thống từ vựng, mẫu câu, nội dung, phương pháp liên quan đến bài
giảng hóa học lớp 11 bằng tiếng Anh.
- Xây dựng hệ thống về kiểm tra và đánh giá kết quả học tập bằng tiếng Anh.
- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính phù hợp và hiệu quả của các đề xuất.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường
THPT lớp 11.
- Đối tượng nghiên cứu: Việc thiết kế các bài giảng hóa học 11 bằng tiếng Anh
(chương trình chuẩn)
5. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Kiến thức hóa học 11 theo chương trình giảm tải của Bộ.
- Đối tượng: Phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh lớp 11.
- Về địa bàn thực nghiệm sư phạm: Một số trường THPT ở Hà Tĩnh.
- Về thời gian thực hiện đề tài: Từ 01/08/2013 đến 15/09/2014.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1.
Các phương pháp nghiên cứu lí luận
Để nghiên cứu lí luận, việc đầu tiên rất quan trọng là thu thập, đọc và nghiên cứu
các tài liệu liên quan đến đề tài. Đồng thời với việc sử dụng các phương pháp nghiên
cứu lí luận sau:
- Đề xuất phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh.
- Phương pháp thiết kế bài giảng hóa học bằng tiếng Anh.
- Phương pháp kiểm tra đánh giá các nội dung dung hóa học bằng tiếng Anh
8.2.
Thực tiễn
- Xây dựng hệ thống từ vựng, thuật ngữ và mẫu câu về hóa học lớp 11 bằng tiếng Anh
được sử dụng trong dạy học hóa học ở trường phổ thông.
- Xây dựng hệ thống bài tập hóa lớp 11 bằng tiếng Anh.
- Tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh tham gia đề án dạy học hóa học bằng
tiếng Anh
Trang 11
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Mục đích và ý nghĩa dạy học hóa học phổ thông bằng tiếng Anh
1.1.1
Rèn luyện các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh trong học tập
Tiếng Anh là một ngôn ngữ quốc tế được sử dụng rộng rãi trong trong rất nhiều
lĩnh vực khác nhau trong đó có lĩnh vực khoa học kĩ thuật và giáo dục. Chính vì vậy,
tiếng Anh là một công cụ cho chúng ta tiếp cận với các nền giáo dục tiên tiến và khoa
học công nghệ hiện đại. Việt Nam là một đất nước đang phát triển, hội nhập quốc tế
giúp chúng ta nâng cao hiệu quả giáo dục và đào tạo, trao đổi và áp dụng được các
công nghệ tiên tiến thế giới.
Việc dạy học cho học sinh THPT môn Hóa và các môn khoa học bằng tiếng Anh là
một hướng đi đúng có tính chiến lược, giúp giải quyết nhu cầu nhân lực chất lượng cao
cho đất nước trong những năm sắp tới.
Dưới góc độ là những người đã từng dạy môn Hóa ở trường THPT cũng như bậc
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
Đối với một tiết dạy ngữ pháp hay từ vựng, thông thường trong tiến trình của tiết
dạy có 3 giai đoạn đó là: Presentation - Practie - Production. Tiến trình của một tiết
dạy nghe cũng phải trải qua 3 giai đoạn: Pre - Listening, While - Listening, và Post Listening. Tiến trình dạy học này không những giúp học sinh nắm hiểu bài mà còn
giúp các em sử dụng kỹ năng nghe trong giao tiếp thực tế.
1.1.1.1.3 Rèn luyện kĩ năng nghe trong dạy học hóa học
Những nguyên tắc, kĩ thuật để rèn luyện kĩ năng nghe trong dạy học hóa học một
cách hiệu quả
• Pre - Listening
Là giai đoạn giúp học sinh có định hướng, suy nghĩ về đề tài hay tình huống trước
khi học sinh nghe
• While - Listening
Đây là giai đoạn mà ở đó học sinh có cơ hội luyện tập. Ở giai đoan này giáo viên
đưa ra các dạng bài tập, yêu cầu học sinh thực hiện. Học sinh có thể mắc lỗi ở giai
đoạn này vì vậy giáo viên chú ý cần sữa lỗi cho học sinh và đưa ra các phương án trả
lời đúng.
• Post - Listening
Đây là giai đoạn luyện tập sau khi nghe. Ở giai đoạn này học sinh sử dụng những
kiến thức, kỹ năng ngôn ngữ đã được luyện tập ở giai đoạn “While – Listening” vào
các tình huống giao tiếp thực tế, có ý nghĩa. Kỹ năng nói
1.1.1.1.4 Mục đích và ý nghĩa
Kỹ năng nói là kỹ năng khó đối với học sinh và đây là kỹ năng giao tiếp quan trọng
chúng ta có thể nghe viết ra được nhưng không diễn đạt thành lời một cách trôi chảy
được.
1.1.1.1.5 Nguyên tắc chung cho một tiết dạy nói
Tiến trình của một tiết dạy nói cũng phải trải qua 3 giai đoạn: Pre - Speaking,
While - Speaking, và Post – Speaking như một tiết dạy nghe. Tiến trình dạy học này
không những giúp học sinh nắm hiểu bài mà còn giúp các em sử dụng kỹ năng nói
- Lôi cuốn sự hứng thú của học sinh.
- Tạo ra nhu cầu muốn đọc cho học sinh.
- Khuyến khích học sinh suy nghĩ về chủ đề mà họ sẽ học.
• While - Reading
Đọc hiểu bài đọc để trả lời các câu hỏi dẫn nhập hay kiểm tra các phán đoán ở phần
Pre-Reading là rất cần thiết bởi nó góp phần khắc sâu hơn những gì các em đã làm
được, đồng thời giúp các em nhận biết những điều chưa hoàn thành. Giáo viên nên ấn
định rõ thời gian cụ thể cho mỗi hoạt động.
• Post - Reading
Các hoạt động sau khi đọc giúp cho giáo viên có thể kiểm tra được mức độ
hiểu bài, khả năng vận dụng bài vào thực tiễn cuộc sống; cũng như khả năng tưởng
tượng của học sinh. Vì vậy, giáo viên nên áp dụng nhiều thủ thuật khác nhau để tránh
sự trùng lặp nhàm chán.
1.1.1.3 Kỹ năng viết
1.1.1.3.1 Mục đích và ý nghĩa
Trong chương trình phổ thông hiện nay, dạy viết chủ yếu là nhằm phối hợp với các
kỹ năng khác để làm phong phú thêm các hình thức luyện tập trên lớp, củng cố những
kiến thức đã học, đồng thời giúp học sinh bước đầu làm quen văn phong, cấu trúc chặt
chẽ của văn viết và học cách sử dụng hoạt động viết vào một số mục đích giao tiếp cụ
thể.
1.1.1.3.2 Nguyên tắc chung cho một tiết dạy đọc
Tiến trình của một tiết dạy viết cũng phải trải qua 3 giai đoạn: Pre - Writing, While
- Writing, và Post - Writing.
• Pre –Writing
Nghiên cứu bài mẫu về ba vấn đề: chủ đề - nội dung - dữ liệu (nếu sách học có nội
dung này).
Phần này yêu cầu học sinh viết cá nhân hoặc theo tổ, nhóm, cặp nhằm khuyến
khích các em có khả năng xây dựng một dàn bài chi tiết để phục vụ cho việc viết bài.
• While - Writing
Viết cá nhân: Dựa trên dàn bài đã có HS tiến hành viết nháp.
Một trong những yếu tố tác động đến động lực, thái độ và tình cảm của người học
đối với môn học là quan hệ giữa người dạy với người học và giữa người học với nhau.
Giáo viên cần xây dựng mối quan hệ thân thiện và tôn trọng lẫn nhau với người học.
Có thể thấy rằng tính cách và hành vi của giáo viên có tác động to lớn tới động lực
học tập của người học. Do đó GV cần tạo dựng một không khí học tập thoải mái, nhẹ
nhàng với nhiều hoạt động đa dạng để người học nào cũng có cơ hội đạt kết quả. Đồng
thời người dạy phải hiểu được nguyện vọng, sở thích cũng như những khó khăn của
người học và tìm cách giúp họ khắc phục những khó khăn đó cũng như giúp họ tìm ra
những cách học phù hợp với sở trường, sở đoản của HS.
1.1.3
Hội nhập với giáo dục thế giới
1.1.3.1 Đặt vấn đề
Mới đây, Hội nghị thế giới về giáo dục, tổ chức từ 5 đến 8/7/2009 tại UNESCO
Paris, nhận định rằng giáo dục đang chuyển động dưới tác động của những động lực
mới. Đó là: Sự gia tăng nhu cầu nhập học, việc đa dạng hoá các loại trường và nguồn
cung ứng, hợp tác giữa các nhà truờng và liên kết mạng, nhu cầu học tập suốt đời, tác
động của công nghệ thông tin và truyền thông, trách nhiệm xã hội của các trường đại
học, sự thay đổi trong vai trò của Chính phủ.
Vì thế, hợp tác quốc tế về giáo dục đã chuyển sang một giai đoạn phát triển mới,
cao hơn và phức tạp hơn. Đó là hội nhập quốc tế về giáo dục. Các thách thức và cơ hội
Trang 15
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
của tiến trình hội nhập quốc tế về giáo dục đã được phân tích nhiều trong các diễn đàn,
hội thảo và tài liệu nghiên cứu, quốc tế cũng như trong nước. Vấn đề là từ những phân
tích đó, mỗi quốc gia cần tìm ra cho mình các chính sách và chiến lược cần thiết để
giáo dục đại học thực hiện được tốt nhất sứ mệnh của mình trong việc sản sinh, truyền
bá và áp dụng tri thức, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Điều
dựng một xã hội mở, dân chủ hơn, và một nhà nước pháp quyền.
Thứ chín, hội nhập tạo điều kiện để mỗi nước tìm cho mình một vị trí thích hợp
trong trật tự quốc tế, giúp tăng cường uy tín và vị thế quốc tế, cũng như khả năng duy
trì an ninh, hòa bình và ổn định để phát triển.
Thứ mười, hội nhập giúp duy trì hòa bình và ổn định khu vực và quốc tế để các
nước tập trung cho phát triển; đồng thời mở ra khả năng phối hợp các nỗ lực và nguồn
lực của các nước để giải quyết những vấn đề quan tâm chung của khu vực và thế giới.
b. Khó khăn
Trang 16
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
Tuy nhiên, hội nhập không chỉ đưa lại những lợi ích, trái lại, nó cũng đặt các nước
trước nhiều bất lợi và thách thức.
Một, hội nhập làm gia tăng cạnh tranh gay gắt khiến nhiều doanh nghiệp và ngành
kinh tế gặp khó khăn, thậm chí là phá sản, từ đó gây nhiều hậu quả về mặt kinh tế, xã
hội.
Hai, hội nhập làm tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào thị trường bên
ngoài và, do vậy, khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những biến động của thị
trường quốc tế.
Ba, hội nhập không phân phối công bằng lơi ích và rủi ro cho các nước và các
nhóm khác nhau trong xã hội, do vậy có nguy cơ làm tăng khoảng cách giàu và nghèo.
Bốn, trong quá trình hội nhập, các nước đang phát triển phải đối mặt với nguy cơ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế tự nhiên bất lợi, do thiên hướng tập trung vào các ngàng sử
dụng nhiều tài nguyên, nhiều sức lao động, nhưng có giá trị gia tăng thấp. Do vậy, họ
dễ có thể trở thành bãi rác thải công nghiệp và công nghệ thấp, bị cạn kiệt nguồn tài
nguyên thiên nhiên và hủy hoại môi trường.
Năm, hội nhập có thể tạo ra một số thách thức đối với quyền lực Nhà nước (theo
quan niện truyền thống về độc lập, chủ quyền) và phức tạp đối với việc duy trì an ninh
khiến cho loại hình sư phạm chưa có sức thu hút nhân tài - những người thực sự có
tâm, có đức vào làm trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo con người. Hệ thống các phòng
thí nghiệm, nghiên cứu còn quá nghèo nàn, không hút được các nhà nghiên cứu khoa
học trẻ.
Sáu là, hệ thống thi cử đánh giá thực lực khả năng của học sinh còn bất cập, mặt
khác lại gây tốn kém tiền bạc, công sức và thời gian của học sinh, các ông bố bà mẹ và
cả xã hội.
Bảy là, bệnh thành tích đang trở thành một "bạo bệnh" khó có cơ cứu chữa. Trong
nhiều nguyên nhân, có một nguyên nhân cở bản, cách tuyển chọn nhân sự của Nhà
nước, hoặc tiêu chuẩn hoá cán bộ dựa trên bằng cấp chứ không dựa vào thực tài. . .
1.1.3.4 Chiến lược hội nhập quốc tế về giáo dục
Ngày 4-11-2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc
tế.
Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: Tạo chuyển biến căn
bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn
công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con
người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo
của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu
quả.
Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có
cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các
điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội
nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và
bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến
trong khu vực.
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu khách quan và cấp
khỏe tốt để tạo nguồn tiếp tục đào tạo thành nhân tài, đáp ứng yêu cầu phát triển đất
nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế.
Các trường trung học phổ thông chuyên là hình mẫu của các trường trung học phổ
thông về cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo và tổ chức các hoạt động giáo dục.
1.2.1.1.2 Mục tiêu cụ thể
a. Củng cố, xây dựng và phát triển các trường trung học phổ thông chuyên hiện tại
đồng thời với tăng dần quy mô; bảo đảm mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có
ít nhất một trường trung học phổ thông chuyên với tổng số học sinh chuyên chiếm
khoảng 2% số học sinh trung học phổ thông của từng tỉnh, thành phố.
b. Tập trung đầu tư nâng cấp các trường trung học phổ thông chuyên thành các trường
đạt chuẩn quốc gia và có chất lượng giáo dục cao. Ưu tiên đầu tư mở rộng diện tích,
xây dựng cơ sở vật chất, tăng cường phương tiện, thiết bị dạy học đồng bộ, hiện đại.
Đến năm 2015, có 100% trường trung học phổ thông chuyên đạt chuẩn quốc gia, trong
đó có 15 trường trọng điểm, có chất lượng giáo dục ngang tầm các trường trung học
tiên tiến trong khu vực và quốc tế;
c. Phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ
cấu và đạt mức cao của chuẩn nghề nghiệp; nâng tỷ lệ giáo viên, cán bộ quản lý có
trình độ tiến sĩ, thạc sĩ đồng thời với việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,
ngoại ngữ, tin học và khả năng nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, đáp ứng nhu
cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục trong các trường
trung học phổ thông chuyên. Đến 2015, có 100% cán bộ quản lý, giáo viên giỏi về
chuyên môn, nghiệp vụ, sử dụng thông thạo tin học và thiết bị dạy học hiện đại; 20%
cán bộ quản lý, giáo viên sử dụng được ngoại ngữ trong giảng dạy, giao tiếp;
d. Tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục trong các trường trung học phổ
thông chuyên theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới. Đến năm 2015, có
ít nhất 50% học sinh được xếp loại học lực giỏi; 70% học sinh giỏi, khá về tin học;
30% học sinh đạt bậc 3 về ngoại ngữ theo tiêu chí do Hiệp hội các tổ chức khảo thí
ngoại ngữ châu Âu ban hành. Đến năm 2020, có ít nhất 70% học sinh được xếp loại
Trang 19
chuyên
+ Sáu:Tăng cường hợp tác quốc tế trong việc phát triển hệ thống trường trung học phổ
thông chuyên
1.2.2
Đánh giá thực trạng triển khai đề án của Bộ GD & ĐT về dạy học các
môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở các trường THPT
Sở Giáo dục và Đào tạo TP. HCM đã có văn bản hướng dẫn thực hiện đầu
tháng 1/2013: 10 trường THPT dạy toán bằng tiếng Anh gồm THPT chuyên Lê Hồng
Phong, THPT chuyên Trần Đại Nghĩa, THPT Lê Quí Đôn, THPT Bùi Thị Xuân,
THPT Lương Thế Vinh, THPT Gia Định, THPT Nguyễn Thị Minh Khai, THPT Hùng
Vương, THPT Nguyễn Thượng Hiền, THPT Mạc Đĩnh Chi phải sử dụng chương trình
của ĐH Cambridge. Sở Giáo dục và Đào tạo TP. HCM cho biết, về nguồn giáo viên,
các trường có thể hợp đồng thỉnh giảng giáo viên các trường khác, hoặc giáo viên bản
ngữ từ các trung tâm. Bên cạnh đó có thể gửi giáo viên theo học các khóa bồi dưỡng
có cấp bằng chứng nhận do tổ chức EMG thực hiện dưới sự ủy nhiệm của đại học
Cambridge. Theo hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo TP. HCM, các trường thực
hiện thí điểm dạy toán và các môn khoa học tự nhiên (KHTN) bằng tiếng Anh sử dụng
chương trình của đại học Cambridge ủy nhiệm cho Công ty EMG thực hiện tại Việt
Trang 20
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
Nam với hai phương thức: hợp đồng với EMG thực hiện toàn bộ chương trình; sử
dụng lực lượng giáo viên sẵn có hoặc do trường tự hợp đồng (tài liệu dạy và học sẽ do
EMG cung cấp theo mức giá thỏa thuận). Thời lượng: hai tiết/tuần/môn học cho học
sinh khối 10, 11. Chuẩn đầu ra sẽ dựa trên chuẩn của ĐH Cambridge: học sinh sẽ dự
các kỳ thi của Cambridge do EMG thực hiện tại Việt Nam.
Ông Phạm Văn Nam - hiệu trưởng Trường THPT Bùi Thị Xuân - cho biết: “Việc
thống nhất một chương trình chung cho tất cả các trường là cần thiết. Phụ huynh cũng
trưởng đều cho rằng đây là chương trình không bắt buộc, làm được hay không phụ
thuộc vào sự đồng lòng của phụ huynh và học sinh. Ngay cả một số trường THPT nổi
tiếng ở TP. HCM, thời gian qua lớp 10 mở được nhưng đến lớp 11 thì học sinh xin rút
hết.
Bà H. T. Diễm Thúy - phụ huynh ở Quận 1 TP. HCM - cho biết: “Con tôi đang học
chương trình THCS của Cambridge. Tôi có xem sách giáo khoa của họ, khách quan
nhận xét thì chương trình của họ rất hay. Tuy nhiên, việc chuyển tải những cái hay ấy
Trang 21
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
đến học sinh là cả một quá trình và nghệ thuật của giáo viên. Con tôi nói hồi năm lớp 6
giáo viên dạy chương trình Cambridge hay lắm, nhưng lên lớp 7, rồi lớp 8 thì thầy dạy
dở quá, không chuyển tải được hết ý của bài học cho học sinh, về nhà tôi phải dạy lại
cho
cháu.
Vì vậy, ở bậc THPT khi triển khai chương trình, dù với phương thức sử dụng giáo viên
sẵn có ở trường hay thỉnh giảng tại các trung tâm, hoặc hợp đồng với cơ quan đại diện
cho đại học Cambridge tại Việt Nam thì tôi đề nghị Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố
phải có sự kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chương trình cũng như thanh tra, dự giờ
giáo viên để kịp thời chấn chỉnh những cái không phù hợp. Không thể cứ hợp đồng với
một đơn vị nào đó là giao hết cho họ”.
Thực tế ở các trường cho thấy trình độ tiếng Anh của học sinh ở các trường chuyên
rất khác nhau. Vì thế, để có thể tiếp thu được bài giảng đòi hỏi phải có lộ trình trang bị
“vốn liếng” tiếng Anh chứ không thể ngay một lúc tiến hành đồng loạt. Một giáo viên
dạy chuyên Toán trường THPT chuyên Nguyễn Huệ (Hà Nội) cho biết: “Chúng tôi tự
bồi dưỡng cho học sinh chuyên Toán vì thấy các em có khả năng chứ trường chưa có
chủ trương thực hiện việc này. Qua những tiết ngoại khóa, chúng tôi thấy khả năng của
các em có thể đáp ứng được và các em tỏ ra rất hào hứng. Khi các em thích thì tôi tin
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
động dẫn đến kém hiệu quả”. Ông Khôi cũng cho rằng về nguyên tắc phải tiến tới việc
sử dụng giáo trình đã được công nhận theo chuẩn quốc tế, nhưng phải phân loại cho
phù hợp với từng đối tượng học sinh. Cùng quan điểm, ông Thái Văn Bình - Hiệu
trưởng trường THPT chuyên Nguyễn Huệ, Hà Nội), đề xuất: “Muốn làm tốt, phải có lộ
trình rõ ràng. Điều quan trọng là phải nâng cao trình độ tiếng Anh của học sinh, đào
tạo giáo viên tại các trường sư phạm dạy các môn bằng tiếng Anh. Số tiết đưa vào dạy
cũng phải phù hợp”.
1.2.3
Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai dạy học
các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở các trường THPT
1.2.3.1 Thuận lợi.
Sự nỗ lực, lòng quyết tâm vượt qua khó khăn, đặc biệt là tấm lòng yêu HS - sáng
tạo trong dạy học
Đất nước mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế của thế giới thì việc học tiếng các môn
tự nhiên bằng tiếng Anh được xác định là thiết yếu cho mọi lứa tuổi và được đưa vào
giảng dạy ở các cấp học. Thông qua việc học các môn tự nhiên bằng tiếng Anh, HS có
cơ hội tìm tòi, học hỏi, hiểu biết hơn về đất nước, con người và văn hóa của các nước
trên thế giới và hơn hết là các em được hiểu kỹ hơn, sâu sắc hơn về đất nước mình.
• Những giáo viên không ngại khó
Môn hóa học có đặc điểm riêng và hơi khó hơn so với các môn khác khi dạy bằng
tiếng Anh. Khi dạy phải tham khảo rất nhiều sách tiếng Anh. Để soạn giáo án cho một
tiết dạy thường mất vài ngày hoặc cả tuần. Giáo trình có rồi, tiếng Anh cũng có rồi
nhưng mình phải thiết kế bài giảng làm sao cho đơn giản, dễ hiểu, sao cho học sinh
hiểu được và có hình ảnh để minh hoạ chứ không nói chay. . . .
Ông Nguyễn Thành Công, giáo viên Trường THPT Chuyên Sư phạm (ĐH Sư
phạm Hà Nội): Không nên chờ bao giờ hoàn thiện tiếng Anh mới học bằng tiếng Anh.
Cứ dạy đi, sai đâu sửa đó, còn vướng chỗ nào, thì lúc đó cả thầy và trò, nhà trường tiếp
tục tìm giải pháp. Sẽ mất rất nhiều thời gian nhưng về lợi ích lâu dài cho các em khi đi
em theo học nhưng đến lớp 11 này chỉ còn 30 em đăng ký học tiếp. Tương tự, Trường
THPT Nguyễn Thị Minh Khai có trên 30 em lớp 10 theo học nhưng đến lớp 11 chỉ còn
lại 13 em và chưa biết năm nay có bao nhiêu học sinh mới vào lớp 10 đăng ký học (vì
chưa họp bàn với phụ huynh). Tại Trường chuyên Trần Đại Nghĩa, tình hình cũng
không khả quan hơn với môn toán được khoảng 20 học sinh, còn môn lý vỏn vẹn 8 em
theo học. Ở các trường còn lại, tình hình học sinh giảm dần vì lý do như đi du học
hoặc không muốn học tiếp cũng trở thành nỗi băn khoăn của ban giám hiệu. Có thể nói
chỉ duy nhất Trường THPT Lê Quý Đôn - đơn vị thực hiện mô hình giáo dục tiên tiến,
vẫn duy trì ổn định sĩ số của 3 lớp 10 đầu khối A và lên lớp 11 của năm học mới này.
Sở dĩ số học sinh ở đây không hao hụt là do việc tổ chức dạy chương trình theo
nguyên lớp, phần đông học sinh có mục tiêu đi du học. Những trường khác tổ chức lớp
học theo sự tự nguyện nên nguồn học sinh phải gom từ nhiều lớp, cộng thêm phải học
giờ ngoại khóa và đóng thêm chi phí khoảng 100.000 - 150.000 đồng/học sinh/tháng
nên khó duy trì sĩ số.
Một hiệu trưởng băn khoăn, nếu chỉ đặt mục tiêu như đề án nâng cao năng lực sử
dụng tiếng Anh cho học sinh phổ thông là có thể đọc tài liệu, nghiên cứu tài liệu các
môn khoa học tự nhiên thì chương trình chưa thật sự hấp dẫn các em. Trừ một số ít
học sinh muốn đi du học, hướng tới việc lấy chứng chỉ SAT thì mặn mà, còn lại đều
cảm thấy chưa cần thiết phải học. Đó là chưa kể học sinh khối 11 chuẩn bị cho kỳ thi
đại học nên xác định mục tiêu gần hơn là xa. Đây là nguyên nhân khiến chương trình
khó có thể mở rộng với quy mô lớn hơn.
• Thiếu giáo viên và chương trình chuẩn
Nhiều trường còn bộc bạch cái khó khác là phải tự mày mò cách làm để triển khai
chương trình thí điểm này. Hai cái khó lớn nhất là thiếu giáo viên có trình độ tiếng
Anh đạt chuẩn và thiếu chương trình chuẩn, thống nhất. Do không được Sở GD-ĐT
TPHCM cung cấp giáo trình chuẩn nên mỗi trường tự liên hệ với đối tác nước ngoài,
tự tìm chương trình, sách tham khảo để biên soạn giáo án giảng dạy. Chính vì thế, mỗi
trường một kiểu và dạy theo đủ loại giáo trình của Úc, Canada hoặc Cambridge. Tuy
giáo trình của ĐH Cambridge được xem chuẩn nhất nhưng chi phí mua lại quá cao nên
nhiều trường không kham nổi. Về giáo viên, các trường đều bị động, phải tự đào tạo,
lúc đầu người học sẽ thấy khó khăn, nhưng về lâu dài sẽ có lợi.
Tuy nhiên, cần chỉ đạo của Bộ về chương trình và thống nhất về sách giáo
khoa,đào tạo giáo viên ở trong và ngoài nước. .
Tại Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong TP. HCM, dù đã triển khai việc dạy
Toán, Lý, Hóa bằng tiếng Anh nhiều năm qua, nhưng theo đại diện nhà trường, từ thực
tiễn triển khai nhà trường cũng phải rút kinh nghiệm giảm thời lượng.
Lý do phải điều chỉnh thời lượng các môn học bằng tiếng Anh, theo ban giám hiệu
trường là để học sinh không bị quá tải và đảm bảo chất lượng cần thiết cho các môn
chuyên.
Một trăn trở chung khác của lãnh đạo các trường chuyên, nếu triển khai dạy các
môn Toán, Lý, Hóa. . . bằng tiếng Anh thì giáo viên thiếu rất nhiều. Trong khi đó, thầy
Bình cho rằng, nếu tuyển được giáo viên có khả năng tiếng Anh thì cũng phải mất ít
nhất 5 năm mới vững vàng về chuyên môn đứng lớp. . .
Do đó, cần có cơ chế đãi ngộ phù hợp để giữ chân giáo viên giỏi. Bởi khi họ giỏi
ngoại ngữ thì không tránh khỏi lời mời của những môi trường làm việc tốt hơn, lương
cao hơn, và họ sẽ "nhảy việc".
"Nếu Bộ GD-ĐT đã đưa ra chủ trương dạy các môn tự nhiên bằng tiếng Anh thì
phải cố theo và làm thực chất, không để rơi vào tính hình thức vì như thế tức là đã phá
đi kế hoạch đặt ra", Hiệu trưởng Trường THPT Chuyên Nguyễn Huệ (Hà Nội) Thái
Văn Bình kết luận.
Hiện nay, còn nhiều khó khăn trong việc dạy và học tiếng Anh trong các trường
học ở Việt Nam:
Trang 25