SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GV: Thái Thị Luận
MỤC LỤC
I.PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................................................2
3.2.4. Tạo cơ hội cho học sinh chia sẻ trách nhiệm, giúp đỡ nhau trong học tập, rèn
luyện ở lớp, ở nhà.....................................................................................................18
3.2.5. Tôn trọng bản sắc văn hóa dân tộc, nhất là phong tục tập quán.....................21
3.2.6. Rèn luyện các thói quen và hành vi văn minh.................................................24
3.5.7. Phối hợp kịp thời với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.......26
III.PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................................28
1.Kết luận..............................................................................................................................28
2.Kiến nghị............................................................................................................................28
BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT
DTTS
Dân tộc thiểu số
HSDTTS
Học sinh dân tộc thiểu số
TCTV
Tăng cường tiếng việt
GDTH
Giáo dục tiểu học
Trong thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta, cơ hội học tập và
nâng cao trình độ của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng nhiều hơn. Đến nay, các tỉnh
miền núi đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và chống tái mù chữ. Tuy nhiên chất
lượng giáo dục của học sinh dân tộc thiểu số nhìn chung còn thấp so với mặt bằng của cả
nước.
Ở địa bàn huyện KrôngAna nói chung và trường Tiểu học Lê Hồng Phong nói riêng
tỷ lệ số học sinh dân tộc thiểu số khá cao, đặc biệt tại Phân hiệu Buôn Đrai. Bản thân tôi là
một giáo viên đã nhiều năm gắn bó với nghề, với trường nên tôi nhận thức được rất rõ chất
lượng giáo dục cũng như các điểm hạn chế của các em học sinh dân tộc thiểu số.
Để củng cố và chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm trong việc nâng cao chất lượng giáo
dục cho các em học sinh dân tộc, tôi chọn nghiên cứu và xây dựng đề tài “ Một số biện
pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh dân tộc tại trường Tiểu học Lê Hồng
Phong”.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
- Xác định được thực trạng về chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên, cơ sở vật
chất, chất lượng của các em học sinh dân tộc thiểu số của nhà trường.
- Đưa ra được một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho các em học sinh dân
tộc thiểu số trong nhà trường.
2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GV: Thái Thị Luận
3. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu một số phương pháp truyền thống, phương pháp mới mà giáo viên nhà
trường đã thực hiện trong quá trình giảng dạy những năm học vừa qua đối với học
sinh trường Tiểu học Lê Hồng Phong, một số hoạt động ngoài giờ lên lớp có liên
1.2. Cơ sở lý luận khoa học
3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GV: Thái Thị Luận
Giáo dục là hoạt động hướng tới con người, bằng những biện pháp hướng
tới truyền thụ: Tri thức và khái niệm, kỹ năng và lối sống, tư tưởng và đạo
đức. Từ đó hình thành năng lực, phẩm chất, nhân cách, phù hợp với mục đích, mục tiêu, hoạt
động lao động, sản xuất và lối sống xã hội.
Chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của giáo dục: Là nhằm
đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức
khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Thực trạng
2.1. Thuận lợi và khó khăn
a. Thuận lợi:
-
Đảng và nhà nước luôn quan tâm coi trọng công tác dân tộc và giáo dục dân tộc có
đường lối chính sách rõ ràng, pháp luật rõ ràng, các văn bản dưới luật chi tiết cụ thể.
-
Các cấp quản lí ngành Giáo dục luôn quan tâm chỉ đạo sát sao, đặc biệt là chất lượng
giáo dục HSDTTS.
4
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GV: Thái Thị Luận
-
Có sự bất đồng về ngôn ngữ giữa giáo viên với học sinh; giữa giáo viên với phụ
huynh.
-
Nhận thức và nhu cầu học tập của một bộ phận không nhỏ đồng bào dân tộc thiểu số
cò thấp, tỉ lệ chuyên cần của HSDTTS vẫn chưa cao.
-
Phong tục tập quán, đặc điểm tâm lí, văn hóa dân tộc cũng tác động, ảnh hưởng đến
chất lượng học tập của các em.
-
Đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc Ê-đê ở hai buôn Eana và buôn Drai còn gặp
nhiều khó khăn cũng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng học tập của các em.
2.2. Thành công và hạn chế
a. Thành công:
Học sinh hạn chế về hưởng nền giáo dục gia đình và cộng đồng nơi cư trú, có ít cơ
hội được giao tiếp tiếng Việt ở cộng đồng .
-
Phụ huynh chưa tích cực giúp con em mình giao tiếp và sử dụng tiếng Việt.
-
Chất lượng sử dụng tiếng Việt của các em HS DTTS chưa cao.
-
Tiếng Việt thuộc ngữ hệ Việt – Mường có nhiều đặc điểm khác hẳn so với tiếng Êđê
thuộc ngữ hệ Môn – Khơ Me về cấu trúc, cú pháp, … nên các em HSDT tiếp thu
tiếng Việt rất khó.
5
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GV: Thái Thị Luận
2.3. Mặt mạnh và mặt yếu
a. Mặt mạnh:
-
Bản thân đã nhiều năm phụ trách lớp có tỷ lệ HSDTTS cao, giao tiếp trực tiếp với
HSDTTS và phụ huynh nên nắm bắt được nhiều thông tin phản hồi từ phía gia đình
Các hoạt động ngoài giờ lên lớp để tạo sự gần gũi giữa giáo viên và các học sinh dân
tộc thiểu số chưa đạt hiệu quả cao.
-
Chất lượng học tập của các học sinh dân tộc thiểu số chưa đạt được kết quả tốt nhất
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Các nguyên nhân, các yếu tố tác động dẫn đến những thành công là:
-
Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước luôn đề cao coi trọng công tác giáo dục
dân tộc.
-
Được sự quan tâm, chỉ đạo thường xuyên của các cấp quản lí giáo dục.
-
Đội ngũ giáo viên có tinh thần trách nhiệm cao, có ý thức tích cực đổi mới phương
pháp dạy học và trăn trở với chất lượng HSDT.
6
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
-
GV: Thái Thị Luận
tộc thiểu số chưa biết sử dụng tiếng Việt. Thực tế cũng có số ít các em được trải qua sự
chăm sóc của vườn trẻ, nhưng vốn kiến thức ban đầu về tiếng Việt, như những mẫu hội thoại
đơn giản mang tính bắt đầu, những kỹ năng cơ bản như nghe, nói mà trường Mầm Non đã
trang bị cho các em, vì những lý do khách quan khác nhau đã không còn theo các em bước
vào lớp1. Bởi trong sinh hoạt gia đình, cộng đồng, người dân ở đây, cũng như các em chỉ sử
dụng tiếng mẹ đẻ nên khi bước ra thế giới bên ngoài, vào môi trường giáo dục phổ thông,
tiếng Việt lúc bấy giờ là ngôn ngữ thứ hai của các em. Việc giao tiếp thông thường với thầy
cô giáo đã khó khăn, và cũng có khi là không thể, việc nghe giảng những kiến thức về các
môn học khác nhau bằng tiếng Việt lại càng khó khăn hơn đối với các em. Đến trường, đến
lớp là các em bước đến một môi trường sinh hoạt hoàn toàn xa lạ, tâm lý rụt rè, e sợ luôn
thường trực trong các em, làm giảm tốc độ bước chân các em đến trường.
7
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GV: Thái Thị Luận
Mặc dù một số ít học sinh đã trải qua các lớp ở bậc Mầm non nhưng đối với các em,
trường Tiểu học vẫn là một môi trường hoàn toàn mới, tiếng Việt là một ngôn ngữ hoàn toàn
xa lạ. Sự tồn tại của tình trạng này trong đời sống các em là do điều kiện sử dụng ngôn ngữ
trong đời sống sinh hoạt cộng đồng, là do tâm lý sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ rất tự nhiên, bản
năng. Những buổi sinh hoạt cộng đồng, những lần hội họp, người địa phương chỉ sử dụng
ngôn ngữ mẹ đẻ. Họ ngại sử dụng tiếng Việt, có lẽ vì vốn kiến thức về tiếng Việt ở họ quá ít
ỏi, cũng có lẽ vì bản năng ngôn ngữ mẹ đẻ thường trực trong họ. Chính vì thế, mỗi lần các
cán bộ xã, huyện về chủ trì một cuộc họp nào đó ở buôn, làng, họ phát biểu bằng tiếng Việt
rất khó khăn. Thói quen này trong sử dụng ngôn ngữ sẽ ảnh hưởng vào trong đời sống gia
đình của mỗi cá nhân, học sinh vẫn sử dụng tiếng mẹ đẻ khi rời trường, rời lớp. Dần dà các
em không thể sử dụng tiếng Việt, quên ngay những kiến thức về tiếng Việt đã học trên lớp,
Con người là chủ thể nhận thức. Nhận biết về bản thân, về mọi vật xung quanh là sự
sống bản năng của con người. Người dân tộc thiểu số luôn ý thức về nguồn gốc, về điều kiện
sống, hoàn cảnh sống của mình. Chính điều này đã khiến cho học sinh Tiểu học dân tộc
thiểu số tiếp nhận những kiến thức về tiếng Việt khó khăn, tạo rào cản ngăn cách hoạt động
sống của các em với môi trường xã hội rộng lớn, làm cho các em khó tiếp xúc, hòa nhập
cộng đồng. Nhìn ra được cái hạn chế, điều tốt đẹp của bản thân là con người đã phát triển ở
một mức nào đó về nhận thức. Nghĩa là con người đã biết đặt mình trong nhiều mối quan hệ
trong xã hội. Ý thức là nguồn động viên cho sự vươn lên thoát khỏi hoàn cảnh thực tại
nhưng cũng có ý thức tạo cho con người tính mặc cảm, tự ty thân thế, số phận, làm thui chột
hao mòn năng lực, tri thức bản thân. Học sinh Tiểu học dân tộc thiểu số đến trường trong
tâm thế "hèn mọn" đó. Các em cũng đã biết nhìn ngắm những trang phục của các bạn học
sinh người Kinh, nhìn lại trang phục của mình. Nhiều em học sinh đến trường bằng những
đôi dép cũ kỹ, hoặc trong trang phục không lành lặn, hay với những đồng phục bắt buộc
nhàu nát mà các em không chỉ dành cho đến trường, hay cùng với những cuốn tập bị bỏ
quên ngay sau khi rời lớp. Tâm tư ấy cũng phần nào làm cho tinh thần học tiếng Việt của các
em học sinh Tiểu học người dân tộc thiểu số bị suy giảm.
Như đã phân tích ở trên, chính điều kiện sống như thế đã không tạo cho các em
một môi trường học tập, một góc học tập cá nhân, lại càng không thể xây dựng trong các em
ý thức học tập, rèn luyện. Vốn kiến thức về tiếng Việt ở các em hạn chế, ít ỏi là điều hiển
nhiên. Chính vì thế, các em rất ngại phải giao tiếp bằng tiếng Việt, lo sợ phải phát biểu xây
dựng bài trong giờ học, lo ngại phải giao tiếp với giáo viên ngoài giờ học, đặc biệt là các em
rất khó tiếp thu bài ở những môn học khác. Điều này đồng nghĩa với việc kiềm hãm sự phát
triển tư duy ở các em, khó tạo ra một môi trường giáo dục thân thiện! Học sinh đã bắt đầu lo
lắng cho mỗi giờ đến lớp, "sợ" phải đến trường. Học tập lúc này là công việc quá khó khăn
đối với các em. Đối với người dân tộc Ê-đê, không gian sống của họ rất đặc trưng, không có
ranh giới giữa không gian sinh hoạt gia đình và đương nhiên sẽ không có không gian sống cá
nhân. Đây chính là đặc trưng văn hóa của người dân tộc Tây Nguyên. Không gian sống đặc
thù này của người Tây Nguyên khắc sâu trong các em về truyền thống văn hóa, về cội
nguồn. Chúng ta nhận biết không gian sống đặc biệt ấy qua kiến trúc nhà ở của họ, một
- Xây dựng môi trường tốt nhất về vật chất và tinh thần để các em học sinh dân tộc
thiểu số có điều kiện học tập tốt hơn.
- Tạo điều để các em học sinh dân tộc thiểu số có cơ hội học tập, nâng cao kiến thức
ngoài thời gian học ở lớp.
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
3.2.1. Tìm hiểu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của các em học sinh dân tộc
Giáo viên nói chung, giáo viên chủ nhiệm nói riêng muốn có những biện pháp giáo
dục phù hợp với học sinh và có hiệu quả thì rất cần tìm hiểu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng
của học sinh về lớp học. Việc tìm hiểu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của học sinh về lớp
học không những giúp giáo viên hiểu rõ hơn về từng học sinh trong lớp mà còn biết được
những mong muốn của các em về tập thể lớp học của mình cũng như hiểu rõ mức độ hài
lòng của học sinh đối với lớp học, đối với từng môn học. Từ đó giáo viên có thể đưa ra
những đề nghị, sự giúp đỡ đối với mỗi cá nhân một cách phù hợp nhất .
Để tìm hiểu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của học sinh về lớp học có thể có nhiều
cách khác nhau như trao đổi, trò chuyện, lấy ý kiến cá nhân qua phiếu thăm dò… Để thực
hiện hoạt động này, giáo viên cần chuẩn bị trước các câu hỏi về thông tin muốn hỏi. Ngay cả
khi có một vài học sinh nào đó không sẵn sàng chia sẻ tâm tư, tình cảm thì giáo viên cũng
10
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GV: Thái Thị Luận
không nên ép buộc các học sinh đó phải trả lời. Có thể tìm hiểu về những học sinh này qua
các bạn cùng lớp, cùng địa bàn. Cần kiên trì trong một số trường hợp cụ thể.
3.2.2. Tạo môi trường tâm lý an toàn, thoải mái và tôn trọng
Môi trường tâm lý thoải mái trong học tập và hoạt động sẽ tạo điều kiện cho HS tham
gia hiệu quả hơn vào bài học và các hoạt động của lớp học nói chung. Nó còn góp phần kiến
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GV: Thái Thị Luận
Một điều lưu ý đối với GV là mặc dù tạo dựng lòng tin ở HS là không dễ dàng, song
nếu để lòng tin đó một lần bị phá vỡ hay sứt mẻ thì sẽ vô cùng khó khăn để khôi phục lại,
thậm chí là bất khả thi (Trong dân gian có câu: một lần bất tín, vạn lần bất tin). Do vậy, duy
trì sự tin tưởng của HS và bầu không khí tin cậy, chia sẻ trong mọi thành viên lớp học là một
nhiệm vụ quan trọng mà GV phải cùng cả lớp thường xuyên nỗ lực để thực hiện trong suốt
quá trình học tập, làm việc cùng nhau.
- Tăng cường mối quan hệ thầy-trò và tạo sự gắn kết, hiểu biết, tin tưởng giữa HS
trong lớp thông qua nhiều hình thức hoạt động sáng tạo và đa dạng: Mối quan hệ thầy-trò là
một trong những nhân tố quan trọng nhất tạo nên bầu không khí tâm lý của lớp học và có
ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của quản lý lớp hcoj. Ngoài hoạt động học tập hàng ngày, trong
điều kiện và hoàn cảnh cho phép, GV có thể cùng HS và một số GV khác tổ chức các hoạt
động nhóm nhỏ, trò chơi tương tác, câu lạc bộ, hoạt động ngoại khóa và giáo dục ngoài giờ
lên lớp theo các chủ đề do HS đề xuất hoặc có sự tham gia và gợi ý của nhà trường/phụ
huynh HS,… Qua những hoạt động đa dạng như vậy, GV tạo điều kiện tốt nhất cho HS dần
dần học cách tự quản, tự tổ chức hoạt động của mình; biết liên kết và giao lưu với lớp và
khối lớp khác, trường khác để cùng tổ chức hoạt động chung.
Một số dạng hoạt động khác cũng có thể giúp gắn kết HS và tạo điều kiện cho GV
hiểu thêm về HS của mình, như: thăm gia đình HS, thường xuyên trao đổi với ban cán sự lớp
để có hướng giúp đỡ các HS gặp khó khăn đột xuất hoặc thuộc diện phải trợ giúp thường
xuyên; xây dựng các cặp đôi và nhóm “bạn giúp bạn” về hoạt động học tập hoặc trợ giúp
khó khăn trong cuộc sống hàng ngày; tổ chức các buổi sinh hoạt lớp trong đó HS được “nói
về mình”, thể hiện cá tính, những năng lực, sở trường bản thân hoặc chỉ đơn giản là tranh
luận, đóng góp ý kiến cá nhân về một chủ đề nào đó đang được bàn luận trong lớp/trường/xã
hội, v.v.
trong lớp. Việc tìm hiểu này đương nhiên sẽ tốn thời gian và công sức của GV, song hiệu
quả mang lại đối với lớp và với bản thân công tác quản lý lớp học của người GV thì không
thể phủ nhận.
- Bài trí, sắp xếp không gian và bối cảnh lớp học theo phong cách thân thiện với
người học, tích cực, sáng tạo. Không chỉ đơn thuần là nơi diễn ra các hoạt động học tập hàng
ngày, không gian lớp học tác động không nhỏ tới tâm lý, tinh thần, động cơ và hứng thú học
tập của HS. Bàn ghế trong lớp nên bố trí theo các nhóm với khoảng từ 4-6 người để HS dễ
dàng thực hiện các hoạt động học theo nhóm nhỏ. Bố trí những góc trưng bày nho nhỏ ở
cuối lớp như góc thư viện, góc trò chơi, góc cây xanh, huy động HS tự cung cấp sản phẩm
của mình để trang trí, bày biện cho các góc này, hoặc GV tìm cách liên hệ với các đơn vị
trong trường như Đoàn thanh niên, thư viện trường… để yêu cầu hỗ trợ về nguồn tài liệu.
GV nên hỏi ý kiến của chính HS trong việc bài trí lớp học và tôn trọng nguyện vọng, sáng
kiến, ý tưởng riêng của các em trong sự hài hòa với điều kiện và qui định của nhà trường.
Một không gian lớp học sinh động, hấp dẫn sẽ làm cho HS yêu quí lớp của mình hơn và cảm
thấy vui thích, phấn khởi mỗi khi đến trường.
- Kết hợp việc dạy học hàng ngày với các hoạt động “khởi động”, “thư giãn” nhỏ
hoặc trò chơi đơn giản để tạo hứng thú học tập và tăng cường tinh thần đồng đội, tính hợp
tác cũng như rèn luyện nhiều kỹ năng khác nhau cho HS. Một số thầy cô giáo chúng ta
thường chỉ coi trọng chất lượng giờ giảng dạy trên lớp mà không chú ý nhiều đến những
dạng hoạt động “xây dựng tinh thần nhóm” hoặc mang tính “khởi động”, “thư giãn”, giúp
HS tạo cảm giác thỏai mái, hứng thú trước, trong, hoặc giữa các tiết học. Đó có thể là những
trò chơi nho nhỏ, một vài động tác thể dục vui đơn giản, đôi ba câu đố vui/đố mẹo… được
13
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GV: Thái Thị Luận
thuộc cộng đồng đa số, ảnh hưởng của một số phong tục, tập quán và thói quen nhất định
của cộng đồng DTTS
14
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GV: Thái Thị Luận
Việc GV phát hiện ra những trở ngại, khó khăn của HS trong lớp và hỗ trợ các em
vượt qua chúng sẽ tạo cho HS có cảm giác được bảo vệ, chăm sóc và quan tâm, giúp các em
có thêm nghị lực vượt khó. Bên cạnh đó, khi được GV chú ý đến những vấn đề khó khăn của
mình, bản thân HS có thêm động lực để cố gắng hơn trong học tập và rèn luyện. Đồng thời,
GV cũng được HS thêm yêu mến, tin cậy để có thể sẵn lòng chia sẻ nhiều hơn những khó
khăn, khúc mắc của mình trong cuộc sống hoặc học tập.
Quan tâm đến khó khăn của HS còn góp phần giúp GV xây dựng và duy trì được một
tập thể lớp đoàn kết, tương trợ, nơi HS cảm thấy mình là một phần có ý nghĩa của cộng đồng
lớp học và tích cực tham gia các hoạt động chung. Từ đó, từng bước hình thành, củng cố
tinh thần trách nhiệm và ý thức tập thể cho HS. Điều này càng có ý nghĩa đối với nhóm thiểu
số HS dân tộc thường hay mặc cảm, tự ti và ngại giao tiếp trong một tập thể có đông HS
người Kinh hơn.
Một số cách thức thực hiện việc quan tâm đến những khó khăn của học sinh
- Lập hồ sơ chi tiết của từng HS và thường xuyên cập nhật, bổ sung. Hồ sơ HS ở đây
không chỉ thuần túy là một bản ‘trích ngang’ những thông tin về hoàn cảnh cá nhân, gia đình
của HS như quan niệm truyền thống, mà còn bao gồm cả các sản phẩm trong quá trình học
tập và hoạt động của HS như bài tập/bài thi các môn học, các bản thu hoạch, tranh vẽ sáng
tác, bài thơ dự thi, bài báo tường, các nhận xét của những GV khác về HS, bằng chứng về
việc khen thưởng/kỷ luật, v.v. Túi hồ sơ hoàn thiện của một HS chính là “cửa sổ để quan sát
tâm đến một số trường hợp cần sự lưu ý nhiều hơn như HS học quá yếu, HS quá quậy phá,
HS khuyết tật hay một số em khó khăn đặc biệt về kinh tế… Song trên thực tế, khi đã giao
phó những đứa con yêu quí của mình cho nhà trường, hầu hết mọi gia đình đều kỳ vọng sẽ
nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của GV đối với con cái mình để các em ngày càng tiến bộ
trong học vấn cũng như phát triển tính cách cá nhân. Vì vậy, trong điều kiện và khả năng của
mình, GV nên chú ý để làm sao có thể thiết lập và duy trì một kênh thông tin thường xuyên,
liên tục cập nhật tới gia đình của từng HS về những thay đổi, sự tiến bộ hay thụt lùi của các
em về các mặt khác nhau mà GV quan sát, đánh giá hoặc cảm nhận được. Với sự tiến bộ của
khoa học, công nghệ ngày nay, không chỉ ở thành phố lớn mà một số vùng sâu, vùng xa
cũng đã có thể liên lạc bằng internet hoặc tin nhắn điện thoại di động – GV cần tận dụng
những tiến bộ này trong việc duy trì liên lạc với gia đình HS, bên cạnh những cách truyền
thống như sổ liên lạc, thư gửi qua HS,… Công việc này chắc chắn lấy của GV khá nhiều
thời gian, công sức, song lại tạo được hiệu quả to lớn trong việc phối hợp giữa gia đình HS
và GV, nhà trường nói chung. Mặt khác, thông qua mối quan hệ chặt chẽ với gia đình HS,
GV cũng có thể phát hiện và góp phần cùng gia đình giải quyết những khó khăn, trở ngại
của HS trong lớp, tạo được sự tin cậy lớn hơn đối với cả HS lẫn gia đình các em.
- Thiết lập và duy trì mối quan hệ gần gũi, thân thiện giữa GV với HS, từ đó biết và
hiểu rõ hơn những khó khăn đặc thù của từng HS. Một số GV thường e ngại rằng việc duy
trì mối quan hệ thân thiện, gần gũi giữa GV-HS có thể phần nào làm cho HS quên mất
khoảng cách cần thiết giữa thầy và trò theo truyền thống lễ nghi phương Đông, hoặc khiến
HS cảm thấy “nhờn” với thầy cô, từ đó khó khăn hơn trong giáo dục các em. Tuy nhiên, nếu
GV có bản lĩnh, thực sự hiểu tâm sinh lý tuổi HS và có sự nhạy cảm nghề nghiệp cần thiết
để cân bằng được mối quan hệ với HS thì nỗi lo ngại đó sẽ không thành hiện thực.
16
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GV: Thái Thị Luận
nhóm... Để làm được điều đó, trước hết GV cũng phải có hiểu biết, tự trang bị cho mình
những kiến thức, kỹ năng này, hoặc phải tham gia vào những khóa tập huấn chuyên sâu về
kỹ năng sống, sau đó biết cách tổ chức các hoạt động cụ thể để huấn luyện lại cho HS.
17
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GV: Thái Thị Luận
- Tổ chức những hoạt động nhóm nhỏ theo các chủ đề mà HS quan tâm (hoặc theo sở
trường của từng HS) để giúp HS gắn bó hơn với nhau và với tập thể lớp. Ví dụ: nhóm Thể
thao, nhóm Văn thơ, nhóm Hội họa, nhóm Anh ngữ, nhóm Tin học, nhóm Kỹ năng sống,
nhóm Điện ảnh, v.v. Trong mỗi nhóm, GV lựa chọn một hoặc một số HS có khả năng nhất
về lĩnh vực đó làm người hướng dẫn hoặc tổ chức chính, giúp nhóm đề xuất các hoạt động
chung và chia sẻ với cả lớp. Thông qua những hoạt động nhóm nhỏ như vậy, bản thân HS có
điều kiện hiểu rõ hơn về tính cách, hoàn cảnh, những thuận lợi, khó khăn của nhau, và GV
cũng sẽ nắm được nhiều thông tin hơn về HS của mình.
- Tích cực tìm kiếm những cách thức tác động, phối hợp với các lực lượng trong và
ngoài nhà trường để góp phần giải quyết những khó khăn của HS. Đôi khi những vấn đề,
khó khăn mà HS gặp phải trong học tập, đời sống vượt quá khả năng giải quyết, xử lý của
GV, ví dụ HS có những cú sốc nặng nề về tinh thần, tình cảm phải cần tới sự hỗ trợ và tư
vấn chuyên môn của chuyên gia tâm lý, HS có khả năng học tập tốt nhưng gia đình gặp khó
khăn về kinh tế có thể sẽ phải bỏ học giữa chừng nếu không được trợ giúp chi phí học tập,
v.v. Với những trường hợp như vậy, GV không chỉ cần phát hiện được khó khăn của HS mà
còn giữ vai trò quan trọng trong việc làm cầu nối để tác động, liên kết với các lực lượng, cá
nhân trong và ngoài nhà trường có thể cung cấp sự trợ giúp tới HS.
3.2.4. Tạo cơ hội cho học sinh chia sẻ trách nhiệm, giúp đỡ nhau trong học tập, rèn luyện ở
lớp, ở nhà
Xuyên suốt quá trình học nhóm là các hoạt động học tập mang tính hợp tác. Khi học theo
nhóm, người học cảm thấy thoải mái, không bị căng thẳng như lúc học một mình. Các em
nhận được sự hỗ trợ, hợp tác của những người trong nhóm nên sẽ trở nên tự tin hơn và vì
thế, việc học của các em sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
- Phát triển kỹ năng giao tiếp: Bên cạnh việc đạt được mục tiêu học tập là phát triển
kỹ năng ngôn ngữ, người học tham gia vào các hoạt động học tập của nhóm còn có điều kiện
để phát triển kỹ năng giao tiếp. Các em sẽ học được cách trình bày và bảo vệ quan điểm của
mình, biết cách thuyết phục và thương lượng trong việc giải quyết vấn đề. Các em trở nên
mềm dẻo và linh hoạt hơn trong giao tiếp. Kỹ năng giao tiếp của các em vì thế mà ngày càng
được hoàn thiện đáng kể.
- Phát triển tư duy sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp và khả năng giải quyết vấn
đề: Trong khi học nhóm, người học phải tham gia vào các hoạt động như thuyết trình, thảo
luận, tranh luận, giải quyết vấn đề,... Các hoạt động này đòi hỏi người học phải sáng tạo,
lôgic, linh hoạt và nhạy bén. Người học còn phải đánh giá các hoạt động mà nhóm mình
thực hiện để có những điều chỉnh hợp lý.
Các hoạt động nêu trên đã giúp người học phát triển tư duy sáng tạo cũng như khả
năng phân tích, tổng hợp và khả năng giải quyết vấn đề.
Để việc học nhóm của học sinh có hiệu quả, trước hết giáo viên cần giúp từng học
sinh xác định trách nhiệm của bản thân, ngoài ra các thành viên trong nhóm cần có ý thức tự
giác: tự giác về thời gian, bài vở, tự giác “phát biểu”...
- Hãy hoàn thành tất cả các bài tập có thể, dàn ý bài học thuộc và các bài đọc tham
khảo, đối với các môn xã hội.
- Trình bày những gì mình đã chuẩn bị và biết đặt ra các câu hỏi
19
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GV: Thái Thị Luận
20
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GV: Thái Thị Luận
- Vào cuối mỗi buổi học, một thời khóa biểu bao gồm công việc của các thành viên
cho bài học sắp tới.
- Trên tất cả là quan điểm: Mọi người cùng giúp nhau tiến bộ.
3.2.5. Tôn trọng bản sắc văn hóa dân tộc, nhất là phong tục tập quán.
Mỗi dân tộc đều có những bản sắc, phong tục tập quán riêng được hình thành, tạo
dựng và khẳng định trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó. Bản sắc văn hóa dân
tộc là biểu hiện sống động của cốt cách dân tộc qua bao thăng trầm của lịch sử. Giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc cũng chính là giữ gìn cốt cách dân tộc. Cốt cách dân tộc được coi là
"chất", là "bộ gien" của mỗi dân tộc và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc chính là bảo vệ, giữ
gìn bộ gien quý đó.
Đối với các lớp học ở vùng có học sinh DTTS, việc tìm hiểu và tôn trọng bản sắc văn
hóa dân tộc, nhất là phong tục tập quán có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Có thể thấy, mỗi dân
tộc, mỗi địa phương lại có những nét bản sắc, phong tục tập quán riêng, việc tôn trọng bản
sắc văn hóa dân tộc, các phong tục tập quán không chỉ để giữ gìn và phát huy bản sắc văn
văn hóa của mỗi dân tộc mà còn giúp cho các em học sinh thấy được giá trị, vẻ đẹp của
những nét bản sắc riêng đó để giữ gìn và phát huy đồng thời giúp các em nhận thấy được
những phong tục, tập quán lạc hậu tồn tại lâu đời của cộng đồng thiểu số đang cản trở sự
phát triển của cộng đồng, xã hội để các em có thức thay đổi, điều chỉnh nhằm hướng tới một
sự phát triển tốt đẹp hơn.
Việc tôn trọng bản sắn văn hóa dân tộc, nhất là phong tục tập quán vừa là để giữ được
cốt cách của dân tộc mà người giáo viên đang sống và làm việc với nó, vừa là thể hiện sự
hiểu biết của mình với dân tộc đó, có như vậy việc giáo dục, rèn luyện các em học sinh
DTTS mới có thể thực hiện được một cách tốt nhất, hiệu quả nhất.
nhóm, góp ý kiến cá nhân… có xen kẽ những trò chơi, tạo hứng thú cho học sinh khi tham
gia. Nội dung cần biên soạn phù hợp lứa tuổi, ngắn gọn, dễ hiểu, nhiều hình ảnh minh họa
để học sinh dễ theo dõi…
Giáo viên cần tổ chức các buổi sinh hoạt lớp, gợi ý học sinh tham gia ý kiến về các
chủ đề liên quan đến học sinh như: “nét đẹp văn hóa dân tộc em” hay “những điều bạn chưa
biết về phong tục tập quán dân tộc tôi”, ...
Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam.
Cuộc thi là hoạt động nâng cao nhận thức rất hiệu quả do có khả năng lôi cuốn sự
tham gia của học sinh. Rất nhiều học sinh tham gia cuộc thi vì sự hấp dẫn của giải thưởng, vì
muốn thể hiện sự hiểu biết, tài năng của mình. Ngoài ra, khá nhiều học sinh tham gia cuộc
thi vì bị ảnh hưởng của bạn bè cùng nhóm, cùng lớp. Ưu điểm của hình thức hoạt động này
là cho phép mọi học sinh tham gia. Đồng thời việc tổ chức cuộc thi cũng không mất quá
nhiều thời gian và nguồn lực.
Nội dung liên quan đến phong tục tập quán các dân tộc, có nhiều hình thức thi khác
nhau. Đó có thể là các cuộc thi vẽ, viết, kể chuyện, hùng biện, hái hoa dân chủ, biểu diễn
văn nghệ (kịch, hát, thơ…), thiết kế vật trưng bày, sưu tầm mẫu vật…
Các cuộc thi thường được phát động trong một thời gian, ít nhất là 1 tháng, lâu nhất là
1 năm học. Không nên phát động cuộc thi kéo dài hơn 1 năm học trong nhà trường vì sẽ làm
giảm hứng thú của học sinh. Thời gian phát động cuộc thi cũng là lúc học sinh tìm hiểu về
nội dung liên quan đến phong tục tập quán các dân tộc để có ý tưởng dự thi. Trong thời gian
22
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GV: Thái Thị Luận
này, tuỳ từng nội dung và hình thức cuộc thi, giáo viên cần có kế hoạch hướng dẫn, giúp học
sinh thu thập tài liệu và tìm hiểu nhằm đảm bảo chất lượng tác phẩm dự thi.
tiếng cho nhân vật rối của mình.
23
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GV: Thái Thị Luận
Học sinh và giáo viên có thể diễn kịch ngay trong lớp, trong sân trường hoặc bất cứ
nơi nào phù hợp. Có thể mời cha mẹ học sinh và người dân địa phương đến xem vở kịch.
Sau khi diễn kịch, luôn có phần thảo luận với khán giả về những gì diễn ra trong vở kịch và
hỏi khán giả xem họ sẽ làm gì nếu họ là nhân vật trong vở kịch.
3.2.6. Rèn luyện các thói quen và hành vi văn minh
Đối với các em HS vùng sâu, vùng xa, hoặc vùng DTTS, việc rèn luyện cho các em
những thói quen, hành vi văn minh càng có ý nghĩa quan trọng. Do phần lớn thời gian chỉ
sinh sống trong cộng đồng nhỏ bé của mình, hầu hết các em ít có mối quan hệ, giao tiếp với
những cộng đồng, nền văn hóa khác. Vì vậy, hiểu biết và thực hành của các em về những
thói quen, hành vi văn minh được chấp nhận rộng rãi trong xã hội rộng lớn nói chung còn rất
hạn chế. Đôi khi, chính những phong tục, tập quán lạc hậu tồn tại lâu đời của cộng đồng
thiểu số cũng cản trở các em thực hiện những thói quen, hành vi văn minh mà bản thân biết
là cần thiết (ví dụ, ốm nặng nhưng vẫn không được đến bác sĩ khám chỉ vì buộc phải nghe
theo lời gia đình, mời thầy cúng đến làm lễ để ‘đuổi con ma trong người ra’ thì mới khỏi…)
Rèn luyện các thói quen, hành vi văn minh không có nghĩa là các em phải hoàn toàn
phủ nhận, gạt bỏ những lề thói, tập tục, thói quen truyền thống của cộng đồng mình, mà là
giúp các em hiểu được những tác dụng tích cực, ý nghĩa của những thói quen, hành vi văn
minh trong xã hội con người nói chung, để từ đó bản thân HS có ý thức tự giác thực hiện.
Bởi trong thực tế, nhiều HS trong số các em DTTS sau này trưởng thành sẽ tham gia vào các
hoạt động xã hội đa dạng bên ngoài cộng đồng của mình, đi học hoặc đi làm xa, thậm chí
sang các quốc gia khác… Do vậy, việc hiểu biết và thực hành được những thói quen, hành vi
đa dạng để HS có cơ hội luyện tập những hành vi này. Ví dụ: tổ chức các buổi lao động vệ
sinh vườn trường, bắt sâu cho cây; tổ chức cho HS đi tham quan, vui chơi tại một địa điểm
công cộng nào đó, sau đó HS tự tổng kết lại xem những điều gì là nên/không nên làm ở một
nơi công cộng như vậy, v.v. Nếu không có điều kiện ra ngoài thực tế nhiều, GV cũng có thể
tự sáng tạo các hình thức hoạt động tại chỗ, như tổ chức các trò chơi tương tác trong đó
hướng tới việc giáo dục thói quen văn minh; cho HS thi dựng tiểu phẩm và diễn kịch về lối
sống tốt/chưa tốt…
- Kiên trì, ôn hòa nhắc lại các qui định khi HS vi phạm, và kiên nhẫn tập luyện để các
thói quen tốt của HS được củng cố, đồng thời tiếp tục hình thành những hành vi văn minh
mới. Tuy nhiên, GV cần có sự nhạy cảm văn hóa để có thể giúp HS, đặc biệt là các em
DTTS vốn đã quen với lối sống của cộng đồng bản xứ, thực hiện những hành vi, thói quen
mà GV mong muốn một cách tự nhiên, không gò ép. GV cần tránh tạo cho các em cảm giác
đang được giáo huấn, “cải tạo”, hay bị ép buộc phải rũ bỏ tất cả những gì thuộc về nền văn
hóa riêng của mình để tập nhiễm lối sống của đa số tầng lớp dân cư khác. Muốn vậy, bản
thân GV tại các vùng khó khăn cũng cần tự trang bị cho mình một vốn hiểu biết về các tập
tục, nét văn hóa của đồng bào dân tộc để có thể giúp HS phát triển những thói quen tốt dựa
trên nền tảng của truyền thống đạo đức, văn hóa, lối sống của chính dân tộc các em. Sự kết
hợp giữa hai yếu tố vốn văn hóa nội tại và các yếu tố tích cực từ bên ngoài như vậy sẽ góp
phần giúp cho quá trình rèn luyện, giáo dục thói quen, hành vi văn minh cho HS bớt khiên
cưỡng và có tính thuyết phục cao hơn.
- Đa dạng hóa các phương pháp giáo dục, rèn luyện hành vi và thói quen văn minh:
giảng giải, hướng dẫn, xem phim, cung cấp tranh ảnh sách báo, nghe chuyên gia nói chuyện,
đi thực tế, viết bài thu hoach, viết câu chuyện/vẽ tranh, đóng kịch, v.v.
25