BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VÊN
THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG
“SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP HỌC VIỆN”
Đề tài: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHƯƠNG THỨC ĐẦU TƯ
THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh tế
Nhóm sinh viên thực hiện:
1.Phan Thị Thơ
2.Hồ Thị Quỳnh Như
3.Bùi Anh Phương
4.Đinh Hoài Thu
5.Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Dân tộc : Kinh
Lớp : KHPT3
khoa: Kế hoạch phát triển
Năm thứ: 3 / số năm đào tạo: 4
Ngành học: kế hoạch phát triển
Người hướng dẫn: Th.s An Thị Xuân Quỳnh
LỜI CẢM ƠN
Nữ
Nữ
Nữ
Nữ
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát
triển kinh tế - xã hội. Góp phần quan trọng vào đó là đường lối chính sách huy động sự
tham gia của các thành phần kinh tế, tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng, tạo nền tảng
và động lực cho tăng trưởng, nỗ lực xây dựng thể chế, cải cách hành chính và nâng cao
hiệu quả khu vực công… Trong bối cảnh ngân sách quốc gia của nước ta còn eo hẹp,
nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA sụt giảm thì việc huy động sự tham gia của
khu vực tư nhân vào các dự án kết cấu hạ tầng là rất cần thiểt, mà phương thức đầu tư
theo hình thức đối tác công – tư ( PPP ) là một phương thức thích hợp đã được áp dụng
ở nhiều nước trên thế giới.
Ở Việt Nam, phương thức đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP) đã
xuất hiện từ những năm 90 với các mô hình BOT, BTO, BT…. Tuy nhiên, trong quá
trình thực hiện, phương thức này đang phải đối mặt với những khó khăn cả trên khía
cạnh lý luận khoa học, khuôn khổ pháp lý, chính sách và năng lực triển khai.
Xuất phát từ những đòi hỏi của thực tiễn, và yêu cầu của phát triển kinh tế xã
hội, chúng tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp thúc đẩy phương thức đầu tư theo hình
thức đối tác công-tư (PPP) ở Việt Nam” để nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Nghiên cứu cơ sở lý luận về phương thức đầu tư theo hình thức đối
-
tác công – tư (PPP) trên thế giới và ở Việt Nam.
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc
vận dụng phương thức đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP) và tình hình thực
-
hiện ở việt nam.
Đề xuất các giải pháp: Đề tài thực hiện nhằm đưa ra các giải pháp để thúc đẩy phương
thức đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP) ở Việt Nam thông qua việc nghiên
đạo các đơn vị liên quan ( Bộ trưởng Bùi Quang Vinh, Cục trưởng Cục Quản lý đấu
thầu Lê Văn Tăng. Đại diện ngân hàng nhà nước Việt Nam TS Lê Văn Hinh cùng một
-
số đại diện các đối tác tư nhân khác.)
Phương pháp phân tích thông tin/ dữ liệu đã thu thập đượctổng hợp và phân tích
những lý thuyết về phương thức đầu tư theo hình thức đối tác công-tư (PPP) trên thế
giới và ở Việt Nam.
5 Kết cấu đề tài:
Nội dung của đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phương thức đầu tư theo hình thức đối tác công-tư
(PPP)
Chương 2: Thực tiễn ứng dụng phương thức đầu tư theo hình thức đối tác
công-tư (PPP) trên thế giới và ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy phương thức đầu tư theo hình thức đối tác côngtư (PPP) ở Việt Nam.
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG THỨC ĐẦU TƯ THEO
1.1.
HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG –TƯ(PPP)
Tổng quan về phương thức đầu tư theo hình thức đối tác công-tư
1.1.1. Khái niệm về Đối tác công tư (Public Private Partnership-PPP)
Theo Luật Đầu tư công năm 2014 của Việt Nam thì “ Đầu tư theo hình thức đối
tác công - tư là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa Cơ quan Nhà
thống luật pháp hoặc do tình trạng vỡ nợ của nhà cung cấp.
Thứ hai là mối quan hệ lâu dài giữa đối tác công với đối tác tư. Như chúng ta
đã biết đặc trưng của dự án PPP là những dự án xây dựng kết cấu hạ tầng cơ bản có
quy mô vốn lớn và thời gian thực hiện kéo dài 5 năm đến 30 năm. Chưa kể là đến
những sự cố bất khả kháng có thể xảy ra và làm cho dự án kéo dài hơn nữa.
Thứ ba là các nội dung chính của dự án PPP bao gồm “thiết kế, xây dựng. vận
hành và bảo trì” gắn liền với nguồn tài chính từ đối tác tư nhân. Và phần nguồn vốn
ngân sách của chính phủ sẽ được phục vụ cho các nội dung liên quan đến việc : giải
phóng mặt bằng, trả lương cho công nhân…
Cuối cùng là chủ thể tham gia PPP về đối tác công ở đây có thể là các bộ
ngành, chính quyền địa phương hoặc các doanh nghiệp nhà nước. Trong khi đó đối tác
tư nhân có thê là các doanh nghiệp, doanh nghiệp dự án hoặc các nhà đầu tư trong
nước và nước ngoài.
1.1.3. Vai trò của phương thức đầu tư theo hình thức đối tác công-tư(PPP)
Vai trò quan trọng nhất khi áp dụng phương thức đầu tư theo hình thức đối tác
công – tư (PPP) là tận dụng được lợi thế, điểm mạnh của cả khu vực công và khu vực
tư nhân, và điều đó mang lại lợi ích cho tất cả các bên, nhà nước, khu vực tư nhân và
người thụ hưởng sản phẩm dịch vụ của mối quan hệ hợp tác công-tư.
Vai trò của PPP đối với Nhà nước và xã hội
Chia sẻ rủi ro. Những rủi ro có thể phát sinh trong quá trình triển khai dự án
như sự vỡ nợ của nhà thầu, môi trường bị tàn phá, rủi ro về thị trường, tài chính….
Việc nhận diện và chuyển giao rủi ro từ đối tác công sang đối tác tư nhân ngày càng
phát triển, với độ chính xác ngày càng cao và xu hướng dịch chuyển (rủi ro) sang khu
vực tư nhân (Forward và Aldis, 2009). Xu hướng dịch chuyển này không có nghĩa là
Nhà nước đổ mọi rủi ro lên vai tư nhân mà nó được phân bổ theo nguyên tắc: rủi ro sẽ
được phân chia cho bên nào có khả năng giải quyết tốt hơn, với chi phí thấp hơn. Đối
tác tư nhân sẽ gánh vác và xử lý rủi ro về tài chính, xây dựng và vận hành, trong khi
đó đối tác công (Nhà nước) sẽ gánh chịu trách nhiệm với rủi ro chính trị. Với nhiều
Tao ra sự ổn định và tăng trưởng cho khu vực tư nhân: Với việc tham gia vào
cơ chế PPP, khu vực tư nhân có được nhiều cơ hội đầu tư mang tính dài hạn hơn, ít rủi
do hơn với sự đảm bả của Nhà nước. Từ đó, tạo ra sự ổn định và tăng trưởng cho khu
vực nhân, thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp địa phương cũng như tạo ra nhiều
công ăn việc làm cho người lao động
Tiết kiệm chi phí: việc kết hợp hai khâu Thiết kế và xây dựng trong cùng một
hợp đồng, cơ chế PPP cho phép nhà thiết kế có tính sáng tạo cao hơn và cùng với nhà
xây dựng thiết lập mối liên hệ gần gũi và sâu sắc hơn, tiết kiệm được nhiều chi phí
đồng thời cũng giúp giảm thời gian quá trình xây dựng, để dịch vụ sớm được đưa vào
sử dụng. Hơn thế nữa, hầu hết các dự án PPP cần dịch vụ vận hành và bảo trì trong
suốt vòng đời của dự án, và việc này được giao cho khu vực tư nhân. Do vậy, khu vực
tư nhân sẽ có động lực và các giải pháp nhằm giảm thiểu chi phí vận hành và bảo trì
trong suốt vòng đời của công trình.
1.1.4. Các mô hình đối tác công-tư (PPP) trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.4.1 Lịch sử hình thành phương thức đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) trên
thế giới.
Mô hình PPP đã được áp dụng trong việc xây dựng các kênh đào ở Pháp vào
thế kỷ 18, các cây cầu ở London vào thế kỷ 19 hay cây cầu Brooklyn nổi tiếng ở New
York cũng vào thế kỷ 19. Tuy nhiên, mô hình này chỉ thực sự bắt đầu phổ biến trên thế
giới từ đầu thập niên 1980 và nó đã đóng một vai trò nhất định trong việc phát triển cơ
sở hạ tầng ở các nước phát triển.
Vương quốc Anh là một trong những quốc gia đầu tiên xây dựng và triển khai
thành công dự án PPP. Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX Vương quốc Anh đã có
những bước đi ban đầu cho việc hình thành cơ chế PPP cho các dự án cung cấp dịch
vụ công và từ thập niên 80 đã áp dụng rộng rãi.
PPP tại Vương quốc Anh được hiểu theo nghĩa rất đơn giản và hiệu quả như
sau: Khu vực công chỉ trả tiền nếu những yêu cầu dịch vụ được cung cấp, trả theo từng
cho thuê, đối tác tư nhân phải thanh toán tiền thuê cho cơ quan nhà nước một khoản cố
định, không phụ thuộc vào khả năng thu phí từ người sử dụng. Và do đó, đối tác tư
nhân chịu hoàn toàn rủi ro kinh doanh.
+ Hình thức nhượng quyền khai thác (Franchise): Là hình thức PPP trong đó,
cơ quan nhà nước nhượng lại quyền vận hành, khai thác và cung cấp dịch vụ công cho
đối tác tư nhân dựa trên các tài sản/tiện ích/cơ sở hạ tầng sẵn có, thuộc quyền sở hữu
của khu vực nhà nước. Nhưng khác với hình thức cho thuê, đối tác tư nhân phải trả
một khoản phí cố định theo thoả thuận cho cơ quan nhà nước, thì trong hình thức
nhượng quyền, đối tác tư nhân được phép thu phí từ người sử dụng dịch vụ và trả một
khoản phí cho cơ quan nhà nước theo tỷ lệ trên một đơn vị dịch vụ bán ra, đồng thời
được phép giữ lại một phần doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ công. Theo đó, với
hình thức nhượng quyền khai thác, rủi ro kinh doanh của khu vực tư nhân thường thấp
hơn so với hình thức cho thuê.
• Mô hình hợp đồng dịch vụ/quản lý
- Hợp đồng dịch vụ: là hợp đồng thoả thuận giữa một cơ quan/ đơn vị thuộc
khu vực công (sau đây gọi là cơ quan nhà nước) có thẩm quyền với một đơn vị/công ty
tư nhân, trong đó cơ quan nhà nước thuê đơn vị tư nhân thực hiện một hoặc một số
nhiệm vụ, dịch vụ cụ thể trong một thời gian nhất định.
•
Mô hình thiết kế - xây dựng - tài trợ - vận hành (DBFO: Design - Build -
Finance - Operate)
Trong mô hình này đối tác tư nhân thực hiện tất cả các giai đoạn của một dự án
để cung cấp dịch vụ công, bao gồm: thiết kế (D), xây dựng (B), tài trợ (F) và vận hành
dự án (O) thông qua một hợp đồng dài hạn.
• Mô hình xây dựng- chuyển giao ( BT: Build-and-Transfer)
Là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư
để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, sau khi xây dựng xong công trình Nhà
đầu tư chuyển giao lại cho nhà nước, nhà nước dành cho nhà đầu tư quyền quản lý
khai thác sử dụng công trình đó trong một thời hạn nhất định; việc phân chia lợi ích
của mỗi bên trong quá trình khai thác sử dụng công trình là một trong những nội dung
chủ yếu của hợp đồng.
• Mô hình xây dựng- sở hữu- vận hành- chuyển giao ( BOOT: Build-Own-Operate-andTransfer )
Là hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước với nhà đầu tư. Theo hợp đồng này,
nhà đầu tư được ủy quyền tiến hành xây dựng, quản lý hoạt động và bảo trì cơ sở hạ
tầng trong một thời hạn nhất định trước khi chuyển giao. Trong suốt thời gian quản lý
cơ sở hạ tầng, nhà đầu tư có quyền sở hữu và có toàn quyền điều hành cơ sở hạ tầng và
doanh thu tạo ra từ cơ sở hạ tầng để thu hồi các khoản chi phí tài chính và đầu tư, cùng
các khoản chi phí bảo trì và vận hành cơ sở hạ tầng.
• Mô hình xây dựng- sở hữu- vận hành ( BOO: Build-Own-and-Operate)
Là một hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước và nhà đầu tư, theo đó nhà đầu
tư chịu trách nhiệm về tài chính, xây dựng, sở hữu, điều hành và bảo trì cơ sở hạ tầng.
Nhà đầu tư được phép thu hồi tổng mức đầu tư, chí phí điều hành và bảo trì cộng với
một mức lợi nhuận hợp lý bằng cách thu phí, lệ phí, tiền thuê hay các chi phí từ người
sử dụng cơ sở hạ tầng.
• Mô hình xây dựng- vận hành- chia sẻ- chuyển giao ( BOST: Build-Operate-ShareTransfer)
Là một hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước và nhà đầu tư, theo đó nhà đầu
tư chịu trách nhiệm về tài chính, xây dựng, điều hành và bảo trì, chia sẻ một phần
doanh thu và chuyển giao cơ sở hạ tầng cho cơ quan nhà nước quản lý vào cuối một
khoản thời gian nhất định được thể hiện trong hợp đồng. Nhà đầu tư được phép thu hồi
chi phí đầu tư, điều hành và chi phí bảo dưỡng cộng với một mức lợi nhuận hợp lý
bằng cách thu lệ phí cầu đường, phí, cho thuê hoặc các khoản thu khác từ người sử
• Mô hình xây dựng – chuyển giao – kinh doanh ( BTO)
Là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để
xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển
giao cho nhà nước có thẩm quyền và được quyền kinh doanh công trình đó trong một
thời gian nhất định.
• Mô hình xây dựng – chuyển giao (BT)
Là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để
xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ
quan nhà nước có thẩm quyền và được thanh toán bằng quỹ đất để thực hiện dự án
khác theo các điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 14 và Khoản 3 Điều 43 Nghị định
15/2015/CĐ-CP.
• Mô hình xây dựng – sở hữu – kinh doanh (BOO)
Là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để
xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư sở
hữu và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định.
• Mô hình xây dựng – chuyển giao – thuê dịch vụ (BTL)
Là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để
xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển
giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở
vận hành, khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư theo các điều kiện quy định tại
Khoản 2 Điều 14 Nghị định này.
• Mô hình xây dựng – thuê dịch vụ - chuyển giao (BLT)
Là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để
xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư được
tư ( PPP).
1.2.1. Lựa chọn kế hoạch vốn đầu tư Nhà nước tham gia thực hiện dự án PPP
Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình và quy định về tổng mức đầu tư đối với
mỗi loại
Cùng là dự án theo phương thức đầu tư công- tư (PPP) nhưng lại được chia
thành nhiều loại khác nhau dựa trên tính chất và tổng mức đầu tư của từng dự án cụ
thể. Theo nghị định số 12/2009/NĐ-CP , Điều 49-luật Xây dựng và các văn bản pháp
luật khác quy định: các dự án đầu xây dựng công trình quan trọng quốc gia được chia
làm ba loại đó là nhóm A,B,C.(Ban hành kèm theo Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày
10 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ)
Bảng 1: Các loại dự án đầu tư công trình và tổng mức đầu tư
STT
LOẠI DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
I
Dự án quan trọng quốc gia
I
Nhóm A
Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuộc lĩnh vực bảo vệ an
ninh, quốc phòng có tính chất bảo mật quốc gia, có ý nghĩa chính
trị - xã hội quan trọng.
Các dự án đầu tư xây dựng công trình: sản xuất chất độc hại, chất
nổ; hạ tầng khu công nghiệp
Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp điện, khai thác
dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim,
Trên 1.500 tỷ đồng
Trên 1.000 tỷ đồng
Trên 700 tỷ đồng
STT
6
II
1
STT
2
3
4
III
1
2
3
4
biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ). Các trường
phổ thông nằm trong quy hoạch (không kể mức vốn), xây dựng
khu nhà ở.
Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuỷ lợi, giao thông (khác ở
điểm III - 1), cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ
thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hoá dược,
thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính,
viễn thông.
Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp nhẹ, sành sứ,
thuỷ tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, sản xuất
nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm, thuỷ
sản.
Các dự án đầu tư xây dựng công trình: y tế, văn hoá, giáo dục,
phát thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ xây dựng
khu nhà ở), kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa
học và các dự án khác.
TỔNG MỨC
ĐẦU TƯ
Trên 500 tỷ đồng
Từ 75 đến 1.500 tỷ đồng
TỔNG MỨC
ĐẦU TƯ
Từ 50 đến 1.000 tỷ đồng
Từ 40 đến 700 tỷ đồng
Từ 30 đến 500 tỷ đồng
đầu tư có trách nhiệm đảm bảo đủ số vốn đầu tư xây dựng cũng như có vai trò tham
gia vào việc quẩn lý và sử dụng nguồn vốn đó.
Nguyên tắc số 4: Quản lý việc sử dụng vốn đầu tư công theo đúng quy định
đối với từng nguồn vốn; bảo đảm đầu tư tập trung, đồng bộ, chất lượng, tiết kiệm, hiệu
quả và khả năng cân đối nguồn lực; không để thất thoát, lãng phí.
Nguyên tắc số 5: Bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động đầu tư công.
Muốn làm được như vậy đầu tiên là phải xây dựng được khung pháp lý chặt chẽ .
Thêm vào đó cần có cơ quan thi hành và đảm bảo thực hiện một cách hiệu quả.
Nguyên tắc số 6: Khuyến khích tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư hoặc đầu tư
theo hình thức đối tác công tư vào dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và cung cấp
dịch vụ công.
Quy trình lập kế hoạch, xác định phần vốn NN thực hiện dự án PPP quy định tại Dự thảo
Nghị định PPP
CQNNCTQ/ Nhà đầu tư lập ĐXDA (điều 15,16,21)
Thẩm định, phê duyệt ĐXDA, quyết định chủ trương đầu tư vốn Nhà nước tham gia thực
hiện dự án ( Điều 17)
CQNNCTQ công bố dự án ( Điều 18 )
CQNNCTQ lập, tổng hợp kế hoạch vốn đầu tư Nhà nước tham gia thực hiện dự án trong kế
hoạch trung hạn 5 năm ( khoản 1 Điều 13 )
Thẩm định, phê duyệt BCNCKT, bao gồm xác định phần vốn đầu tư Nhà nước tham gia
thực hiện dự án ( Khoản 2 điều 12 )
Căn cứ kế hoạch đầu tư công trung hạn và BCNCKT được phê duyệt, CQNNCTQ lập và
Dự án nhóm A
Dự án nhóm B, C
Thẩm quyền phê duyệt chủ
trương đầu tư vốn đầu tư Nhà
nước tham gia thực hiện dự án
( khi phê duyệt ĐXDA)
Thẩm quyền xác định phần vốn đầu tư Nhà nước
tham gia thực hiện Nhà nước tham gia thực hiện dự án ( khi
phê duyệt BCNCKT)
Quốc hội
Thủ tướng Chính phủ
Thủ tướng chính phủ
Người đứng đầu các Bộ, cơ quan
trung ương
Bộ trưởng, Thứ trưởng cơ quan ngang Bộ,
UBND cấp tỉnh ( trừ dự án sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi
của các nhà tài trợ nước ngoài trong lĩnh vực an ninh, quốc
phòng, tôn giáo do thủ tướng Chính phủ phê duyệt)
Mốc thời gian lập kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 – 2020
- 31/12/2014 : các Bộ, các ngành, địa phương lập, thẩm định kế hoạch đầu tư công trung
hạn 5 năm 2016 – 2020 gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư
hoạch, các trở ngại về việc thu phí sử dụng và các hình thức hợp đồng PPP
Nghiên cứu tiền khả thi
Nghiên cứu khả thi về mặt tài chính, đặc biệt về mô hình tài chính dự án, các
phương án và phân tích độ nhạy và các chi phí vòng đời và rủi ro.
Đề xuất dự án do nhà đầu tư lập. Nhà đầu tư tự chịu rủi ro khi lập đề xuất, nhà
đầu tư có thể được trao quyền riêng trong khoảng thời gian xác định để xây dựng đề
xuất dự án.
Đánh giá đề xuất dự án: đề xuất dự án phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch
phát triển ngành, vùng và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tiếp
theo đề xuất dự án phải phù hợp với lĩnh vực đầu tư . Thứ ba đề xuất dự án có khả
năng thu hút và tiếp cận nguồn vốn thương mại, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của
nhà đầu tư. Thứ tư là có khả năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ ổn định, đạt chất lượng
đáp ứng nhu cầu người sử dụng. thứ năm là có tổng mức đầu tư từ 20 tỷ đồng trở lên,
trừ dự án đầu tư theo hợp đồng O&M và dự án thuộc lĩnh vực nông nghiệp và phát
triển nông thôn thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
. Cuối cùng là dự án có khả năng thu hồi vốn từ khoản thu của người sử dụng được ưu
tiên lựa chọn
Báo cáo nghiên cứu khả thi
Để xác định tính hiệu quả, cần xác định các yêu cầu về thu hồi đất và giải
phóng mặt bằng, đánh giá tác động môi trường và xã hội và xác định các yêu cầu hỗ
trợ của Nhà nước bao gồm bảo lãnh và vốn hỗ trợ VGF. Việc định lượng phí sử dụng
cần thiết/phần thanh toán sẵn có từ ngân sách nhà nước giúp đảm bảo tính khả thi về
tài chính. Cần báo cáo về tham vấn thị trường và sự quan tâm của thị trườn, trong đó
định nghĩa đầy đủvề tiêu chuẩn đầu ra và yêu cầu dịch vụ, đề xuất phân bổ rủi ro và dự
thảo hợp đồng dự án. Kế hoạch đấu thầu và tuyển chọn các tư vấn giao dịch, quản lý
và giám sát dự án, bao gồm Kế hoạch đầu thầu.
Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt là Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thứ
trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND Tỉnh
Cơ quan phê duyệt phần vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án là
Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, chủ tịch UBND tỉnh.
1.3.
Khung pháp lý hiện hành về PPP ở Việt Nam hiện nay
1.3.1. Môi trường thể chế PPP ở Việt Nam
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh PPP: Trong thu hút vốn
đầu tư PPP; sự minh bạch và bình đẳng giữa các bên tham gia đóng vai trò hết sức
quan trọng. Cùng với đó, môi trường pháp lý cần phải hạn chế tối đa những rủi ro liên
quan đến các xung đột về lợi ích. Để làm được điều này, khung pháp lý phải được thiết
kế đủ rộng để giúp nhà đầu tư tư nhân tránh các rủi ro như: rủi ro đấu thầu, rủi ro đàm
phán, rủi ro xây dựng, rủi ro đầu tư, rủi ro môi trường, rủi ro ngoại tệ,v.v… Hiện nay,
trong khung pháp lý luật điều chỉnh PPP tại Việt Nam, văn bản có tính pháp lý cao
nhất là Luật Đấu thầu, Luật xây dựng, Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư. Luật
Đầu tư quy định việc quản lý hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh, bao gồm
đầu tư, kinh doanh vốn của nhà nước vào tổ chức kinh tế, đầu tư của nhà nước vào
hoạt động công ích, đầu tư bằng nguồn tín dụng phát triển. Luật Đấu thầu quy định về
quy trình, thủ tục, các hình thức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư
vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp đối với các gói thầu của các dự án có vốn nhà nước
chi cho đầu tư phát triển, dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản. Luật Ngân
sách nhà nước quy định tổng thể về chi đầu tư phát triển, bao gồm xây dựng các công
trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn do trung ương
quản lý; đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài
chính của Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực
(Hình 2: Sơ đồ khung pháp lý hiện hành về PPP ở Việt Nam)
Nghị định số 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư PPP
được Chính phủ ban hành vào ngày 14/2/2015, có hiệu lực từ ngày 10/4/2015. Nghị
định được xây dựng trên cơ sở khắc phục những hạn chế trong khung pháp lý trước
đây về PPP, tiếp thu những kinh nghiệm thực tiễn tại Việt Nam cũng như theo thông lệ
quốc tế với mười nội dung cơ bản. Nghị định số 30/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư được Chính phủ ban hành
vào ngày 17/3/2015, có hiệu lực từ ngày 5/5/2015 gồm mười nội dung. Đây là lần đầu
tiên việc hướng dẫn về quy trình, thủ tục lựa chọn nhà đầu tư được quy định tại cấp
nghị định. Điều đó góp phần xây dựng môi trường đầu tư công bằng, minh bạch và
hiệu quả kinh tế, đặc biệt đối với các dự án PPP.
Đầu tư theo hình thức đối tác công tư PPP nhằm thu hút nguồn vốn từ khu vực
tư nhân là một kênh hiệu quả. Vì vậy, Chính phủ Việt Nam đang triển khai kế hoạch
xây dựng và hoàn thiện một hành lang pháp lý rõ ràng, có hệ thống về đầu tư theo hình
thức PPP, bao gồm: Luật đầu tư công; Luật đầu tư; Luật đấu thầu; Luật xây dựng;
Nghị định về đầu tư theo hình thức đối tác công tư; Nghị định hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư và các thông tư, văn bản hướng dẫn
khác có liên quan. Điều này thể hiện quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc
phát huy mọi nguồn lực nhằm thúc đẩy đầu tư phát triển hạ tầng ở Việt Nam.
1.3.3.
a
Ban chỉ đạo PPP ở Việt Nam
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo
Ban Chỉ đạo PPP có chức năng giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nghiên
cứu, chỉ đạo, triển khai thực hiện mô hình đầu tư theo hình thức đối tác công - tư. Ban
Chỉ đạo PPP có nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ