Tiểu luận môn tác phẩm kinh điển những đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và ý nghĩa của nó đối với việc nghiên cứu chủ nghĩa tư bản hiện nay - Pdf 35

LỜI MỞ ĐẦU
Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, thế giới chứng kiến sự phát triển
vô cùng nhanh chóng và mạnh mẽ của lực lượng sản xuất; cách mạng khoa
học kỹ thuật đã tạo ra bước nhảy vọt trong sản xuất; nhưng không lâu sau đó,
cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1900-1903 nổ ra, gây những hậu quả nặng
nề; chiến tranh thế giới thứ nhất giữa các nước tư bản chủ nghĩa đã cho thấy
những vấn đề mới nảy sinh mà sâu xa nguyên nhân của nó là vấn đề kinh tế;
trong khi đó phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động đang dâng cao. Cũng từ đây, cụm từ "chủ nghĩa đế quốc" dần được sử
dụng một cách phổ biến để ám chỉ một sự biến đổi trong tính chất kinh tế
chính trị của chủ nghĩa tư bản
Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn phát triển cao nhất và cuối cùng của chủ
nghĩa tư bản ra đời. Sự ra đời của nó là nguyên nhân kinh tế của sự xuất hiện
chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc. Những thứ lý thuyết đủ loại đó, ngay từ
đầu, đã ra sức bào chữa, tô vẽ cho chủ nghĩa đế quốc, lớn tiếng ủng hộ những
chính sách phản động của nó. Những nọc độc của nó không phải không ảnh
hưởng đến phong trào cách mạng có thể làm lạc hướng đấu tranh của giai cấp
công nhân và các dân tộc bị áp bức bóc lột chống chủ nghĩa đế quốc.
Thực tế lịch sử đó đòi hỏi phải có sự phân tích hết sức khoa học về chủ nghĩa
đế quốc để từ đó đề ra chiến lược, sách lược cách mạng đúng đắn.
Là nhà hoạt động thực tiển kiệt xuất và là nhà lý luận thiên tài, V.I.Lênin đã
dầy công nghiên cứu, sáng tạo nên học thuyết về chủ nghĩa đế quốc, về cách
mạng vô sản, cách mạng giải phóng dân tộc, đáp ứng yêu cầu nóng bỏng của
thời đại.
Theo Lênin, Chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa
tư bản. Giai đoạn này bao gồm 5 đặc điểm kinh tế cơ bản:
1. Tích tụ sản xuất và các tổ chức độc qyền
2. Tu bản tài chính và đầu cơ tài chính

2




"Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản" là một
công trình khoa học chức đựng nhiều tri thức và lý luận và có ý nghĩa vô cùng
lớn lao, không chỉ với giai cấp công nhân mà với toàn bộ nhân dân lao động
trên thế giới. Trong đó, lý luận về độc quyền được coi là nền tảng, gốc rễ của
toàn bộ tác phẩm. Thông qua việc phân tích c ác đ ặc đi ểm kinh t ế c ơ b ả c
ủa ch ủ ngh ĩa đ ế qu ốc …, bản chất của chủ nghĩa đế quốc được phơi bầy và
sáng tỏ.
Chính vì lý do này mà em đã chọn đề tài “Những đặc điểm kinh tế

Cơ bản của Chủ Nghĩa Đế Quốc và ý nghĩa của nó đối với việc
nghiên cứu chủ nghĩa tư bản hiện nay“
trong tác phẩm "Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa
tư bản". Tuy nhiên do c ó nhiều khó khăn hạn chế nên việc triển khai đề tài
khó tránh khỏi những thiếu sót.
Kính mong quý thầy cô giúp đỡ , bổ sung để em hoàn thiện hơn bài làm
của mìng.
Em xin chân thành cảm ơn!

4


B : N ỘI DUNG

I. Tiểu sử Lênin và tác phẩm “ Chủ nghĩa đế quốc giai
đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản
1. Tiểu sử Lênin
V.I. Lê-nin sinh ngày 22 tháng Tư năm 1870 ở Simbirsk (nay là
Ulianovsk), mất ngày 21 tháng Giêng 1924 ở làng Gorki gần Moskva.

riêng vào giữa năm 1917 ở Pê-tơ-rô-grát; được xuất bản bằng tiếng Pháp và
tiếng Đức lần đầu tiên năm 1921 trên tạp chí "Quốc tế cộng sản", số 18. Nó ra
đời dưới sự kiểm duyệt gắt gao của chế độ Nga hoàng, trong thời gian cuộc
chiến tranh thế giới thứ nhất đang diễn ra ác liệt, vì thế Lênin đã bị hạn chế rất
nhiều trong việc trình bày và phân tích những quan điểm kinh tế chính trị của
mình. Tuy vậy, điều này không hề làm giảm đi giá trị của tác phẩm, mà ngược
lại, nó vẫn được đánh giá là một công trình khoa học đồ sộ, đóng góp quan
trọng vào kho tàng lí luận kinh tế của nhân loại.
Cuốn sách này "sẽ giúp vào sự hiểu biết một vấn đề kinh tế cơ bản mà
không nghiên cứu thì sẽ không hiểu tí gì về sự đánh giá cuộc chiến tranh hiện
nay và vấn đề chính trị hiện nay, cụ thể là vấn đề thưc chất kinh tế của chủ
nghĩa đế quốc". (Lênin toàn tập, t.17, tr.662)
Tác phẩm đi sâu phân tích về các đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản
hiện đại, từ đó cho độc giả một cách nhìn nhận toàn diện, sâu sắc về nguyên
nhân của cuộc chiến tranh đế quốc đang diễn ra. "dựa vào những tài liệu tổng
hợp không thể tranh cãi được của thống kê tư sản và những lời thú nhận của
các học giả tư sản ở tất cả các nước, nêu rõ tình hình tổng quát của kinh tế tư
bản chủ nghĩa thế giới, trong những mối quan hệ quốc tế của nó, vào đầu thế
kỉ XX, ngay trước khi xảy ra cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa thế giới lần
thứ nhất".(Lênin toàn tập, t.17, tr.663)
Không chỉ đi phân tích, làm rõ về bản chất của chủ nghĩa tư bản, Lênin
còn đi tới nhận định về vai trò, địa vị lịch sử của chủ nghĩa tư bản, về tính
chất tất yếu thay thế nó bằng xã hội mới tốt đẹp hơn – xã hội cộng sản chủ

6


nghĩa. Đồng thời chỉ ra con đường đi cho giai cấp công nhân và nhân dân lao
động thế giới đến với xã hội mới đó.
Tác phẩm gồm có phần mở đầu và mười chương.

Để làm rõ hơn nữa nhận định của mình V.I Lênin đã đưa ra hàng loạt
các số liệu thống kê công nghiệp ngày nay nhằm cung cấp đầy đủ nhất, phản
ánh rõ nét quá trình ấy.
Ở Đức: “ Cứ 1000 xí nghiệp công nghiệp năm 1882 có 3 xí nghiệp
lớn, nghĩa là có trên 50 công nhân làm thuê. Năm 1895 có 6 xí nghiệp và năm
1907 có 9 xí nghiệp. Cứ 100 công nhân thì có 20, 30, 37 người làm trong các
xí nghiệp ấy”.(Tr.22 chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư
bản).
Đó mới là mức tập trung công nhân, khi nói mức tập trung sản xuất
thì quá trình ấy còn diễn ra mạnh mẽ hơn nhiều, lao động trong các xí nghiệp
lớn sẽ có năng suất lao động cao hơn. Nếu hiểu cái mà ở Đức gọi là công
nghiệp theo nghĩa rộng( thương nghiệp và đường giao thông) thì chúng ta có
thể thấy quá trình tập trung ấy diễn ra ghê gớm như thế nào!
“ trong tổng số 3265632 xí nghiệp, thì số xí nghiệp lớn là 30588, tức
là chỉ chiếm 0.9%. Các xí nghiệp này dung 5.7 triệu công nhân trong tổng số
14.4 triệu công nhân tức là chiếm 39.4%, ngoài ra còn dùng 6.6 triệu mã lực
hơi nước trong tổng số 8.8 triệu mã lực( 75.3%) và dung 1.2 triệu KW điện
trong tổng số 1.5 triệu KW tức là 77.2%”.(Tr.23 chủ nghĩa giai đoạn tột
cùng).
Số xí nghiệp lớn chiếm chưa đầy 1% nhưng lại chiếm hơn ¾ tổng số
sức hơn nước và điện lực, còn lại tới 91% số xí nghiệp nhỏ chỉ sử dụng tới
7% sức hơi nước và điện lực điều đó cho thấy “ hàng vạn xí nghiệp thật lớn là
tất cả, hàng triệu các xí nghiệp nhỏ chỉ là số không”
Thông qua những con số thông kê trên cho thấy tư bản tiền tệ và các
ngân hàng làm cho ưu thế của thiểu số những xí nghiệp rất lớn càng có tính
chất áp đảo hơn nữa, tức là có hàng triệu “chủ xí nghiệp” hạng nhỏ, hạng vừa
và ngay cả một phần thuộc hạng lớn, trên thực tế đều hoàn toàn bị vài trăm
tên tư bản tài chính triệu phú nô dịch.

8


9


điều nặng( kinh doanh bị đình đốn, khủng hoảng), khi giá cả những chế phẩm
sụt giai đoạn tột cùng…)
Còn nhà kinh tế học Hai-Man lại cho rằng: “các xí nghiệp đơn thuần
chết đi bởi bị chẹt vì giá cao về vật liệu va giá cả thấp về thành phẩm”. Theo
ông kêt quả của sự ra đời “ chế độ lien hợp hoá” là sự kết hợp của các công
ty, xí nghiệp lớn thuộc một ngành công nghiệp hay nhiều ngành công nghiệp
khác nhau, tâp hợp lại thành những xí nghiệp khổng lồ là chỗ tựa đồng thời là
người chỉ đạo nửa số các ngân hang lớn ở Bec Lanh.
Ông cũng khẳng định sự đùng đắn của học thuyết Mac về sự tập trung
chỉ đúng với nước mà công nghiệp đã được thuế quan và các thuế vận tải bảo
hộ ( nền công nghiệp mỏ ở Đức). Có thể nói Đưc là 1 trường hợp riêng biệt,
bởi nếu xét ở Anh - một nước có chế độ tự do mậu dịch thì sự tập trung cũng
dẫn tới độc quyền ( tuy chậm hơn hoặc dưới một hình thức khác)
Căn cứ vào những tài liệu về sự phát triển kinh tế ở nước Anh, giáo sư
Hec-Man LeVy giải thích : ở Anh cũng có hiện tượng đó là do có nhưng xí
nghiệp với quy mô lớn và trình độ kĩ thuật cao “ chính quy mô to lớn của các
xí nghiệp và trình độ kĩ thuật cao của những xí nghiêp này đã mang trong
mình nó cái xu hướng đi đến đôc quyền”. Một mặt, tập trung dẫn tới những xí
nghiệp mới gặp nhiều khó khăn khi càn một lượng tư bản đổ vò kinh doanh.
Mặt khác, “các xí nghiệp mới” muôn vượt hảy đuổi kịp các xí nghiệp khổng
lồ thi bụôc họ phải tạo ra một khối lượng sản phẩm dư thừa lớn tới mức “
cung tăng vọt” thì mới có thể bán được nhưng sản phẩm ấy một cách co lãi,
không thì số sản phẩm ấy sẽ có tác dụng làm giảm giá cả tới mức gây thiệt hại
cho những xí nghiệp mới. Điều đó cho thấy việc dẫn tới độc quyền chỉ dễ dàng
với những nước mà chế độ thuế quan bảo hộ còn đối với những nước khác dù
phát triển tới đâu đi nữa thi quá trình đó diễn ra cũng không đơn giản gì.

2: Sau cuộc khủng hoảng 1873 là giai đoạn phát triển rộng rãi acảu
những cac-ten, nhưng những cac- ten đó vẫn là ngoại lệ, chúng vẫn còn chưa
vững chắc, chúng vẫn còn là những hiện tượng nhất thời.
3: Thời kì phồn vinh cuối thế kỷ XIX và cuộc khủng hoảng của những
năm 1900 – 1903, các cac- ten trở thành một trong những cơ sở của toàn bộ

11


đời sống kinh tế - xã hội, là động lực thúc ẩy quá trinh chuyển từ chủ nghĩa tư
bản sang chủ nghĩa đê quốc.
Những cac-ten thoả thuận với nhau về điều khoản bán hang, về kì hạn
trả tiền, chúng chia nhau khu vực tiêu thụ, chúng quyết định số lượng sản
phẩm cần chế tạo, chúng quy định gái cả, chúng chia lãi cho các xí nghiệp
vv… Điều đo cho thấy sự ra đời của các cac- ten ngày càng đông đảo và
chiếm một vị trí khá áp đảo. “ số lượng cac cac- ten ở Đức năm 1896 ước độ
250, năm 1905 là 385 với sự tham gia của gần 12.000 xí nghiệp(tr.33_ chủ
nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng…) tay phần lớn tư liệu sản xuất, quá trình
sản xuất, hầu như chi phối mọi hoạt động kinh tế của xã hội. “ Những cac- ten
va tơ rớt thường thường nắm đến 7 hay 8 phần 10 tổng sản lượng của một
nghành công nghiệp”. Ví dụ điển hình như xanhđica than đá miền Rê-na-ni
thành lập năm1893, đã nắm được 86.7% số than đá của vùng này và tới 1910
thì xanhđica ấy đã nắm 95,4% . Sự độc quyền được tạo ra bằng cách đó đảm
bảo những khoản thu nhập khổng lồ và đưa tới sự hình thành những đơn vị kĩ
thuật sản xuất có một quy mô rộng lớn.
Bên cạnh những cac- ten là những tơ rơt, những xanhđica cũng lần lượt
ra đời chếngự mọi mặt của đời sống xã hội.
Vậy độc quyền là gì? thế nào la tổ chức độc quyền? thế nào là cac- ten,
tơ rơt, xanhđica?
Từ những sự phân tích ở trên ta có thể rút ra những khái niệm về độc

hàng ,về kỳ hạn trả tiền…Chúng chia nhau các khu vực tiêu thụ.Chúng quyết
định số lượng sản phẩm cần chế tạo.Chúng quy định giá cả. Chúng chia lợi
cho các xí nghiệp” (Lênin toàn tập, t.17). Trong nhiều trường hợp các thành
viên thấy ở vị trí bất lợi nên rút khỏi các-ten, làm cho cac-ten tan vỡ trước kỳ
hạn.
- Xanhđica (Cundicat) là hình thức tổ chức độc quyền cao hơn, ổn định
hơn cácten. Các xí nghiệp tham gia xanhđica vẫn giữ độc lập về sản xuất, chỉ
mất độc lập về lưu thông: mọi việc mua - bán do một ban quản trị chung của
xanhđica đảm nhận. Mục đích của xanhđica là thống nhất đầu mối mua và
bán để mua nguyên liệu với giá rẻ, bán hàng hoá với giá đắt nhằm thu lợi
nhuận độc quyền cao.

13


- Tờrớt (trusts) là một hình thức độc quyền cao hơn cácten và xanhđica,
nhằm thống nhất cả việc sản xuất, tiêu thụ, tài vụ đều do một ban quản trị
quản lý. Các nhà tư bản tham gia tờrớt trở thành những cổ đông thu lợi nhuận
theo số lượng cổ phần. Những tơ-rớt thường nắm trong tay bảy ,tám phần
mười tổng sản phẩm ngành công nghiệp
- Côngxoócxiom (Consortium) là hình thức tổ chức độc quyền có trình
độ và quy mô lớn hơn các hình thức độc quyền trên. Tham gia côngxoócxiom
không chỉ có các nhà tư bản lớn mà còn có cả các xanhđica, tờrớt, thuộc các
ngành khác nhau nhưng liên quan với nhau về kinh tế, kỹ thuật. Với kiểu liên
kết dọc như vậy, một côngxoócxiom có thể có hàng trăm xí nghiệp liên kết
trên cơ sở hoàn toàn phụ thuộc về tài chính vào một nhóm tư bản kếch sù.
Với các hình thức khác nhau, độc quyền đã đi vào mọi ngành, mọi lĩnh
vực sản mạnh rất lớn.xuất kinh doanh và bằng đủ mọi cách, nó nắm các mạch
máu kinh tế nên có sức mạnh to lớn
Với những hình thức tổ chức độc quyền trên, độc quyền đi vào mọi

nhỏ và xí nghiệp lớn, giữa những xí nghiệp lạc hậu và những xí nghiệp tiến
bộ hơn về kỹ thuật _về sự quản lý nữa mà là tình trạng bọn độc quyền bóp
chết những người nào mà không chịu phục tùng độc quyề, ách thống trịi và sự
cưỡng chế của chúng.
Người ta lầm tưởng rằng khi các tổ chức độc quyền ra đời sẽ thủ tiêu
được các cuộc khủng hoảng, đó chỉ là những câu chuyện hoang đường của
các nhà kinh tế học tư sảnvẫn cố hết sức tô điểm cho chủ nghĩa tưbản mà
không hề hiểu rằng: “ tổ chức độc quyền được than lập trong một vài ngành
công nghiệp, lại làm cho tình trạng hỗn loạn vốn có trong toàn bộ nền sản
xuất tư bản chủ nghĩa tăng lên và trầm trọng hơn”.( tr.45_ chủ nghĩa đế quốc
giai đoạn tột cùng…….)
Sự độc quyền đi kèm với những tiến bộ khoa học kỹ thuậtchỉ là những
yếu tố làm tăng thêm sự mất cân đối trong nền kinh tế, tăng them hỗn loạn ,
khủng hoảng. Và những cuộc khủng hoảng, đủ mọi thứ khủng hoảng không
chỉ riêng trong kinh tế lại càng làm cho xu hướng tập trung và đọc quyền tăng
lên với quy mô lớn . I-ây_đen-xơ chứng minh rằng: “ cuộc khủng hoảng
năm1900 đã dẫn tới một sự tập trung công nghiệp mạnh mẽ hơn rất nhiều so

15


với cuộc khủng hoang năm 1873 trước kia. Nếu năm 1873 dụa vào khủng
hoảng nó cũng đã chhọn ra được những xí nghiệp khá nhất, với trình độ kinh
tế tiến bộ hơn, song chúng không thể tự giúp mình thoát khỏi khủng hoảng
một cách thắng lợi được thì tới cuộc khủng hoảng năm 1900 các xí nghiệp
độc quyền lại nắm được địa vị độc quyền toàn năng như thế hơn nữa lại nắm
được ở mức độ cao hơn, nhờ có kỹ thuật phưc tạp, có tổ chức hết sức chu đáo
và có một lượng tư bản hùng hậu.”(tr.47 chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng
của chủ nghĩa tư bản.)
Độc quyền đó là “giai đoạn mới nhất trong sự phát triển của chủ nghĩa

Trong 9

1907-1908
47%

1912-1913
49%

32,5%

36%

hơn 10tr Mac
Trong 15 ngân

16,5%

12%

hàng có tư bản từ 1-10tr
Trong các ngân

4%

3%

năm

ngân hàng lớn ở Bec
lanh

vào một tay ngân hàng lớn ở đức, anh, pháp qua sự thống kê số liệu của nhà
kinh tế học Ritxo đã nói lên một cách rõ dàng hơn rằng cùng với sự tập trung
tư bản và phát triển thêm số chu chuyển của ngân hàng ý nghĩa của chúng
cũng thay đổi một cách căn bản “từ một tư bản riêng rẽ đã hình thành nên một
tư bản tập thể”.
Đức với 6 ngân hàng lớn ở Béc lanh năm 1895 mới có 16 chi nhánh ở
đức, quỹ tiền gửi và phòng hối đoái là 14, với tổng số các cơ quan chỉ có 42
đặc biệt tham dự thường xuyên vào các ngân hàng cổ phần ở đức có duy nhất
1,nhưng 16 năm sau năm 1911 những con số kể trên thay đổi nhanh
chóng.Tổng số cơ quan đã lên tới 450, số chi nhánh ở đức vượt lên hàng trăm
104, quỹ tiền gửi là 276 và tham dự vào các ngân hàng cổ phần ở Đ ức lên tới
63.
Anh và Ai-rơ-lan năm 1910 “ tất cả các ngân hàng đã có 7151 chi
nhánh.Bốn ngân hàng lớn,mỗi cái có hơn 400 chi nhánh từ (477-689) bốn
ngân hàng khác mỗi cái có hơn 200 chi nhánh và ngân hàng , mỗi cái có hơn
1000 chi nhánh”.
Ở Pháp 3 ngân hàng lớn đã phát triển các hoạt động và mạng lưới chi
nhánh của mình năm 1870 ở các tỉnh 47, ở Pari-17, tổng cộng có 64 chi
nhánh.Đến năm 1909 số chi nhánh ở các tỉnh lên tới 1033,ở Pari là 196 với
tổng số chi nhánh là 1229.

18


Ta thấy với mạng lới dày đặc nhưng mạch máu ngân hàng lan rộng
nhanh chóng như thế nào, nó bao phủ cả nước tập trung hết thảy tư bản vào
các khoản thu bằng tiền,biến hàng nghìn hàng van doanh nhân tản mạn, thành
một đơn vị kinh tế TBCN thống nhất toàn quốc, rồi sau đó thành một đơn vị
kinh tế TBCN thế giới.
Khi quá trình tập trung vốn và nắm trong tay nhiều chi nhánh dẫn tới

Việc chủ nghĩa tư bản mới, ở đó chế độ độc quyền giữ vị trí thống trị
thay thế chủ nghĩa tư bản cũ trong đó chế độ cạnh tranh thống trị, còn được
thể hiện ở chỗ tác dụng của sở giao dịch bị giảm bớt. Trong tạp chí “ Ngân
hang ” có viết: “ đã từ lâu sở giao dịch không còn là tổ chức trung gian cần
thiết trong lĩnh vực lưu thông như trước kia, khi mà ngân hàng chưa có thể
đem phần lớn những chứng khoán đã phát hành để phân phối cho khách hàng
của nó”. ( Trang 62 chủ nghĩa tư bản độc quyền giai đoạn phát triển chủ nghĩa
đế quốc )
Mỗi ngân hàng một sở giao dịch sự lớn mạnh của ngân hang càng lớn,
sự tập trung các hoạt động ngân hang càng tiến bộ thì vai trò của sở giao dịch
càng tăng lên. Nếu trước kia số phận của các sở giao dịch phụ thuộc vào
nhiều yếu tố bên ngoài thì nay các ngân hàng và công nghiệp đều “tự
mìnhxoay sở lấy” được.Bởi quá trình tổ chức ngày càng đầy đủ hơn, việc điều
tiết có ý thức thông qua các ngân hàng ngày càng được mở rộng, việc làm
tăng trách nhiệm của một số ít người lãnh đạo đối với nền kinh tế quốc dân.
Trong khi đó đến cả Rit-tơ một nhà kinh tế học hoạt động trong lĩnh
vực ngân hàng có uy tín cũng đưa ra những nhận định trống rỗng rằng ‘‘ sở
giao dịch ngày càng mất tính năng tương đối cần thiết đối với toàn bộ nền
kinh tế và đối với việc lưu thông các chứng khoán” (Tr.64)
Nói cách khác chủ nghĩa tư bản cũ – chủ nghĩa tư bản với chế độ tự do
cạnh tranh tự do cùng với cái máy điều tiết cần thiết là sở giao dịch đã lùi về
quá khứ. Chủ nghĩa tư bản mới xuất hiện mang những nét mới rõ rệt- một cái
gì đó hỗn hợp giữa cạnh tranh và độc quyền.
Thực tế nhận thấy một số ít ngân hàng đang có khuynh hướng muốn đi
đến sự “thỏa thuận” độc quyền, hình thành nên các tơ rớt ngân hàng do quá

20


trình tập trung ngày càng được đẩy mạnh dẫn tới sự cạnh tranh ngày càng gay

hàng lớn ở Béc Lanh đã có những viên giám đốc của mình làm đại diện trong
344 công ty công nghiệp, và có những ủy viên ban quản trị của mình làm đại
diện trong 407 công ty công nghiệp nữa, tức là tổng cộng trong 751 công
ty.”(tr67).
“Sự liên hiệp về người” giữa ngân hàng với công nghiệp được bổ xung
bằng “sự liên hiệp về người” giữa những công ty ngân hàng và công nghiệp
với chính phủ, những chức vụ quan trọng trong hội đồng giám sát được dành
cho những người có danh tiếng, những cứu viên chức nhà nước.
1 là: Việc liên hệ với công nghiệp được giao toàn bộ cho một giám
đốc, đó là công việc chuyên môn của giám đốc đó.
Song song với việc mở rộng phạm vi hoạt động của các doanh
nghiệp, các ban quản trị …thì việc chuyên môn hóa những người lãnh đạo các
ngân hàng lớn cũng được đẩy mạnh. Qúa trình đó chỉ thực hiện được trong
điều kiện toàn bộ hệ thống ngân hàng có quy mô lớn hoặc có liên hệ rộng rãi
trong giới công nghiệp. Sự phân công hình thành theo 2 hướng:
2là: Mỗi giám đốc đảm nhiệm việc giám sát riêng từng xí nghiệp
….Tóm lại trong các ngân hàng lớn tùy thuộc vào quy mô hoạt động mà sự
phân công giữa những người lãnh đạo trong ngân hàng được phân biệt rõ rang
với mục đích nâng họ lên giúp họ có thêm khả năng xét đoán, thông thạo
trong những vấn đề chung của công nghiệp chuẩn bị cho họ những kiến thưc
cơ bản nhất trong nghành ngân hàng.Ngoài phương pháp này ngân hàng còn
có khuynh hướng bầu thêm những người hiểu biết, những nhà kinh doanh
nhưng nhà cựu viên chức phù hợp.

22


Kết quả đem lại là sự hợp nhất ngày càng chặt chẽ giữa TB ngân
hàng và TB công nghiệp như Bu-kha xin nói: “là sự hòa vào nhau giữa TB
ngân hàng và tư bản công nghiệp” hay hiểu cách khác là sự phát triển của

độc quyền ngân hàng xuất hiện. Nó thường bỉểu hiện theo cách: Độc quyền
ngân hàng bỏ ra một số tiền mua cổ phiếu phát hành của các tổ chức độc
quyền công chốt ,chi phối tuyệt đại bộ phận của cải của xã hội . Đó chính là
bọn đầu sỏ tài chính hay bon tài phiệt.đầu tư nhỏ, tư bản tài chính và đầu sỏ
tài chính có thể chi phối và điều tiết được một khối lượng tư bản lớn gấp
nhiều lần.

Thống trị về kinh tế là cơ sở để thống trị về chính trị , xã hội,

chúng nắm lấy bộ máy nhà nước và biến nó thnàh công cụ đắc lực cho mục
đích của mình. Chúng quyết định mọi đường lối đối nội và đối ngoại của nhà
nước tư sản.
Dưới sự thống trị của tư bản tài chính và đầu sỏ tài chính đã làm cho tư
bản sở hữu và tư bản kinh doanh tách rời nhau tới cao độ và đưa tới nhiều xu
hướng cực đoan ,quân lãnh thổ thế giới.phiệt như: chạy đua vũ trang, phân
chia lại thị trường thế giới
2.2) Sự hình thành của TBTC
Để nói về sự hình thành của tư bản tài chính Lê Nin đưa ra nhận định
của Hin phéc đinh đầu tiên “TBTC là do ngân hàng chi phối và do các nhà
công nghiệp sử dụng”.
Định nghĩa này chưa đầy đủ, vì nó không chỉ rõ một trong những yếu
tố quan trọng nhất, cụ thể là sự tập trung sản xuất và tư bản đã phát triển
mạnh đến nỗi đang và đã dẫn tới độc quyền, nhưng toàn bộ sự trình bày đều
nhấn vai trò của các tổ chức ĐQTBCN, trong khi bản chất của CNĐQ thì
chưa đánh giá đúng mức.

24


Lê Nin lại đưa ra ý kiến riêng của mình. Theo ông “sự tập trung sản

bọn độc quyền phát triển lên thôi mà còn là cơ hội để chúng vơ vét hết của
cải,tài sản của công chúng bằng mọi thủ đoạn đen tối và bẩn thỉu mà không
phải chịu bất kì loại hình phạt nào, vì theo pháp luật thì bọn lãnh đạo(công ty
mẹ) không phải chịu trách nhiệm gì về (công ty con) trên thực tế những” công
ty con” này là độc lập hoạt động
Trên thực tế ngoài chế độ “tham dự” thì hình thức “phát hành chứng
khoán” cũng khá phổ biến ở những nước tư bản phát triển như Mỹ,Pháp. Tư
bản tài chinhsvaof tagy một số ít người và giữ vị trí độc quyền đã thu được
món lời rất lớn và ngày càng tăng nhờ vào hình thức này, không những thế
nó còn giúp củng cố vị trí thống trị của bọn đầu sỏ tài chính và bắt toàn thể xã
hội phải nộp cống cho bọn độc quyền. Hin-phec-đinh đã đưa ra vô số những
ví dụ về lối “kinh doanh” kiểu này ở mỹ: “Năm 1887 nhờ việc hợp nhất 15
công ty nhỏ với số tư bản chung là 6 ½ triệu đô la,Ông ha-ven-nai-ơ đã sang
lập ra to-rơt độc quyền.tơ-rớt độc quyền đã quy định những giá cả độc quyền
làm cho nó có những khoản thu nhập đủ để có thể trả 10% lợi tức cổ phần cho
số tư bản “pha thêm”góp 7 lần, tức là trả gần 70% cho số tư bản thực tế bỏ ra
khi sang lập tơ-rớt.

26



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status