Tiểu luận môn chính sách kinh tế
Tháng 05/2013
LỜI MỞ ĐẦU
Chính sách tiền tệ luôn là nhu cầu để ổn định kinh tế vĩ mô với
hạt nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung.
Mặt khác, nền kinh tế thị trường bản chất là một nên kinh tế tiền tệ. Do
đó việc ổn định giá trị đồng tiền cùng với việc thiết lập nền Tài Chính
Quốc Gia mạnh là cơ sở đầu tiên cho việc kiềm chế lạm phát, và ổn
định nền kinh tế.
Ngày này việc làm và phân phối thu nhập vừa là vấn đề bức thiết
trước mắt, vừa là vấn đề lâu dài để ổn định và tăng trưởng kinh tế. Vì
vậy mà việc đẩy lùi và kiểm soát lạm phát, tạo công ăn việc làm là vấn
đề thường trực. Giải pháp cho việc đẩy lùi lạm phát, tránh thất nghiệp
nhiều cần tập trung vào chính sách tiền tệ nhưng việc lựa chọn giải
pháp nào để xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia có hiệu
quả nhất vẫn còn là một ẩn số phức tạp và nhiều bất cập.
Trong thời gian học tập môn học chính sách kinh tế trong thời kỳ
hội nhập quốc tế, Em được Tiến sỹ Lương Minh Việt tận tình giảng dạy
những kiến thức cơ bản nhất về các chính sách kinh tế, Em cũng đã tích
cực nghiên cứu tài liệu và xin trình bày hiểu biết của mình về môn học
thông qua bài tiểu luận “Chính sách tiền tệ với việc thực hiện mục
tiêu ổn định kinh tế ở Việt Nam”.
Tiểu luận gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề chung về chính sách tiền tệ với việc thực hiện
mục tiêu ổn định kinh tế.
Chương II: Chính sách tiền tệ với việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh
tế của Việt Nam thời gian qua.
Chương III: Một số ý kiến đề xuất đổi mới và hoàn thiện chính sách tiền
tệ góp phần ổn định nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay .
làm giảm bớt những dao động của chu kì kinh doanh, giải quyết tốt
những vấn đề cấp bách: Tránh lạm phát cao và thất nghiệp nhiều.
Ổn định kinh tế-một mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng vì:
Thứ nhất: ổn định kinh tế vĩ mô là một điều kiện cơ bản của sự
phát triển xã hội, đặc biệt là hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thứ hai: ổn định kinh tế vĩ mô là một chức năng quan trọng của
nhà nước trong vai trò quản lý nên kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường Nhà nước sẽ trực tiếp can thiệp vào
việc điều hành sản xuất kinh doanh, mà làm tốt chức năng định hướng
cho sự phát triển xã hội (Bao gồm cả chiến lược, quy hoạch, kế hoạch)
đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, ổn định kinh tế
2
Tiểu luận môn chính sách kinh tế
Tháng 05/2013
vĩ mô, quản lý tốt kinh tế nhà nước, đảm bảo việc thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội.
Thứ ba: Trong thực trạng của kinh tế vĩ mô hiện nay, bên cạnh
những kết quả tích cực đã xuất hiện một số hạn chế, bất cập và đứng
trước những thách thức không nhỏ.
II. KHÁI NIỆM VÀ CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TỀN TỆ.
2.1. Khái niệm
Chính sách tiền tệ, là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính
sách kinh tế của nhà nước để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối vơi nền
kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu kinh tê-xã hội trong từng giai
Chính sách nới lỏng tiền tệ: Là việc cung ứng thêm tiền cho nền
kinh tế, nhằm khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, tạo công ăn việc
làm.
Chính sách thắt chặt tiền tệ: Là việc giảm cung ứng tiền cho nền
kinh tế nhằm hạn chế đầu tư, ngăn chặn sự phát triển quá đà của nền
kinh tế là kiểm chế lạm phát.
Để thực hiện hai chính sách tiền tệ này, ngân hang trung ương có
thể sử dụng hàng loạt các công cụ tiền tệ nằm trong tầm tay của mình
đó là các công cụ trực tiếp và công cụ gián tiếp.
2.2.1 Các công cụ trực tiếp: Gọi là các công cụ trực tiếp vì thông
qua chúng,NHTW có thể tác động trực tiếp đến cung cầu tiền tệ, mà
không cần thông qua một công cụ khác.
- Ấn định khung lãi suất tiền gửi và cho vay.
NHTW có thể quy định khung lãi suất tiền gửi và buộc các ngân
hàng kinh phải thi hành.
Nếu lãi suất quy định cao sẽ thu hút được nhiều tiền gửi làm gia tăng
nguồn vốn cho vay. Nếu lãi suất thấp, sẽ là giảm tiền gửi, giảm khả
năng mở rộng kinh doanh tín dụng. Xong biện pháp này sẽ làm cho các
ngân hàng thương mại mất tính chủ động, linh hoạt trong kinh doanh.
Mặt khác nó đễ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn ở ngân hàng, nhưng lại
thiếu vốn đầu tư, hoặc khuyến khích dân cư dùng tiền vào dự trữ vàng,
ngoại tệ bất động sản, trong khi ngân hàng bị hụt hẫng về tiền mặt cũng
như nguồn vốn cho vay.
Trong điều kiện không thể áp dụng các biện pháp khác, chính
phủ có thể phát hành một lượng trái phiếu nhất định để thu hút bớt
lượng tiền trong lưu thông. Việc phân bổ trái phiếu thường mang tính
chất bắt buộc.
4
biến những khoản tiền gửi ban đầu thành những khoản tiền gửi mới cho
cả hệ thống, khả năng sinh ra bộ số tín dụng, tức là khả năng tạo tiền.
Để khống chế khả năng này, NHTW buộc các NHTM phải trích một
phần tiền huy động được theo một tỷ lệ quy định gửi vào NHTW không
được hưởng lãi. Do đó cơ chế hoạt động của công cụ dự trữ bắt buộc
5
Tiểu luận môn chính sách kinh tế
Tháng 05/2013
nhằm khống chế khả năng tạo tiền, hạn chế mức tăng bội số tín dụng
của các NHTM.
Khi lạm phát cao, NHTW nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả năng
cho vay và khả năng thanh toán của các ngân hàng bị thu hẹp (do số
nhân tiền tệ giảm), khối lượng tín dụng trong nền kinh tế giảm (cung
tiền giảm) dẫn tới lãi suất tăng, đầu tư giảm do đó tổng cầu giảm và làm
cho giá giảm (tỷ lệ lạm phát giảm). Ngược lại, nếu NHTW hạ thấp tỷ lệ
dự trữ bắt buộc tức là tăng khả năng tạo tiền, thì cung về tín dụng của
các NHTM cũng tăng lên, khối lượng tín dụng và khối lượng thanh toán
có xu hướng tăng, đồng thời tăng xu hướng mở rộng khối lượng tiền.
Lý luận tương tự như trên thì việc tăng cung tiền sẽ dẫn tới tăng giá (tỷ
lệ lạm phát tăng). Như vậy công cụ dự trữ bắt buộc mang tình hành
chính áp đặt trực tiếp, đầy quyền lực và cực kì quan trọng để cắt cơn
sốt lạm phát, khôi phục hoạt động kinh tế trong trường hợp nền kinh tế
phát triển chưa ổn định và khi các công cụ thị trường mở tái chiết khấu
chưa đủ mạnh để có thể đảm trách điều hòa mức cung tiền cho nền kinh
tế. Nhưng công cụ dự trữ bắt buộc quá nhạy cảm, vì chỉ thay đổi nhỏ
trong tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã làm cho khối lượng tiền tăng lên rất lớn
Qua nghiệp vụ thị trường mở, NHTW chủ động phát hành tiền
trung ương vào lưu thông hoặc rút bớt tiền khỏi lưu thông bằng cách
mua bán các loại trái phiếu ngân hàng quốc gia nhằm tác động trước hết
đến khối lượng tiền dự trữ trong quỹ dự trữ của NHTM và các tổ chức
tài chính, hạn chế tiềm năng tín dụng và thanh toán của các ngân hàng
này, qua đó điều khiển khối lượng tiền trong thị trường tiền tệ chúng ta.
Khi nghiên cứu phần trước đã biết rằng khối lượng tiền tệ ảnh hưởng
trực tiếp tới tỷ lệ lạm phát, việc thay đổi cung tiền tệ sẽ làm thay đổi tỷ
lệ lạm phát.
CHƯƠNG II
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VỚI THỰC HIỆN MỤC TIÊU ỔN ĐỊNH KINH
TẾ CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA.
I.SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM.
Bước sang những năm đầu của thế kỷ 21 chúng ta đã thực hiện
xong kế hoạch năm năm lần thứ 6 là những năm có ý nghĩa quan trọng
trong việc thực hiện các mục tiêu của chiến lược ổn định và phát triển
kinh tế xã hội.
7
Tiểu luận môn chính sách kinh tế
Tháng 05/2013
1.1 chính sách tài chính.
Có nhiều đổi mới đã góp phần củng cổ và làm lành mạnh một
bước nền tài chính quốc gia, giữ ổn định và cân đối kinh tế vĩ mô, thúc
đẩy phát triển kinh tế.
Tháng 05/2013
2003
2004
2005
Tổng thu
Thu nội địa
20,5
10,5
21,6
10,9
22,2
11,2
Thu từ kinh tế nhà nước
Thu từ kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Thu hải quan
Thu dầu thô
Thu viện trợ không hoàn lại
Tổng chi
Chi đầu tư phát triển
Chi trả nợ, viện trợ
Chi thường xuyên
1.2 Chính sách tiền tệ.
Hoạt động ngân hàng từng bước được chấn chỉnh, đã có một số
tiến bộ trong điều hành và sử dụng công cụ chính sách tiền tệ, tín dụng
tiếp tục tăng, đáp ứng một phần quan trọng trong tạo nguồn vốn cho
đầu tư phát triển sản xuất. NHNN vẫn tiếp tục thực thi chính sách tiền
tệ thận trọng, nhằm mục đích ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát góp
phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thị trường không có những biến
động lớn về giá cả, lãi suất và tỷ giá. Tuy nhiên hoạt động ngân hàng
vẫn chưa phát huy mạnh mẽ vai trò là công cụ quan trọng điều tiết kinh
tế vĩ mô. Chính sách tiền tệ và khả năng kiểm soát giám sát nền kinh tế
thông qua hệ thống ngân hàng còn hạn chế.
II.SƠ LƯỢC VỀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ.
2.1 Lãi suất.
Lãi suất là một yếu tố rất nhạy cảm đối với nền kinh tế của các
nước. ở nước ta NHTW đã rất linh hoạt trong việc sử dụng công cụ lãi
suất nhằm tác động tích cực đến nền kinh tế trong qua trình chuyển đối
có thể thấy rõ tình linh hoạt của chinh sách lãi suất qua các thời điểm:
- Trước ngày 1/6/2002 ngân hàng nhà nước Việt Nam thực hiện
cơ chế điều hành lãi suất cơ bản Đồng VN, mức lãi suất cơ bản được
công bố trong những tháng đầu năm 2002 là 0,6%/tháng. NHNN cũng
9
Tiểu luận môn chính sách kinh tế
Tháng 05/2013
đã mạnh dạn thực hiện chính sách tự do hoá lãi suất đối với ngoại tệ từ
theo tín hiệu của thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế.
10
Tiểu luận môn chính sách kinh tế
Tháng 05/2013
Qua hơn hai năm triển khai thực hiện, đến nay đã có 22 tổ chức
tín dụng được cấp giấy chứng nhận là thành viên nghiệp vụ thị trường
mở trong đó có 4 ngân hàng thương mại quốc dân, 10 NHTM cổ phần,
1 ngân hàng nước ngoài, một công ty tổ chức và quỹ tín dụng nhân dân
TW.
Từ tháng 5/2002 nghiệp vụ thị trường mở được đưa vào giao dịch
hàng tuần, quy mô và doanh số ngày càng tăng, lãi suất ngày càng linh
hoạt. Trong các hình thức giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở thì
việc NHNN mua các giấy tờ có giá là chủ yếu (NHNN bơm tiền ra),
chiếm tỷ lệ từ khoảng 71% lên trên 90%.
2.3 Các công cụ khác.
- Lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu:
Như đã biết đây là cửa sổ chiết khấu rất quan trọng để tăng hoặc giảm
khả năng cho vay của các NHTM làm tăng hoặc giảm lượng cung ứng
cho nên kinh tế. Trong thời gian vừa qua lãi suất tái cấp vồn và lãi suất
chiết khấu đã được NHNN áp dụng phù hợp với diễn biến trên thị
trường tiền tệ. Như đã nói do tình hình lãi suất trên thị trường tiền tệ
quá nóng từ tháng 8/2003, NHNN đã quyết định giảm đáng kể lãi suất
tái cấp vốn đây là một quyết định kịp thời đã góp phần hạ nhiệt cơn sốt
lãi suất trên thị trường trong mấy tháng gần đây.
-Dự trữ bắt buộc:
1. Lãi suất.
Mặc dù những thành công của NHNN là đáng ghi nhận trong thiết kế cơ
chế kiểm soát lãi suất như: Hình thành hệ thống lãi suất điều tiết của
NHTW, sử dụng phối hợp các công cụ để điều tiết lãi suất thị trường ...
nhưng hiệu quả và kết quả còn nhiều hạn chế bởi nền tảng cho cơ chế
kiểm soát lãi suất chưa được thiết lập. Nó thể hiện như sau:
1.1. Chưa chủ động trong điều tiết mặt bằng lãi suất thị trường
tiền tệ. Do đó chưa thực vai trò hướng dẫn sự biết động của lãi suất
thị trường.
Cụ thể, mức lãi suất tái cấp vốn và lãi suất trần tăng lên vào tháng
1 năm 1998 diễn ra sau khi mức lãi suất cho vay ngắn hạn của NHTM
đã nhích lên từ tháng 10 năm 1997 trước đó. Tượng tự, mức lãi suất tái
cấp vốn được điều chỉnh giảm từ 13,2% xuống còn 12% vào tháng
2/1999 sau khi mức lãi suất ngắn hạn có xu hướng giảm vào tháng 12
năm 1998 từ 14,7% xuống 14,5% và xuống tiếp 14% vào tháng 2/1999.
12
Tiểu luận môn chính sách kinh tế
Tháng 05/2013
Từ thời điểm tháng 2/1999 đến tháng 8/2001, mức lãi suất thị
trường giảm liên tục từ 14% xuống còn 9,3% đối với lãi suất ngắn hạn,
rồi từ 14,7% xuống còn 10,3% đối với lãi suất trung hạn và dài hạn
trong khi diễn biến lãi suất trần và cơ bản lại tách khỏi xu hướng thị
trường, sự tăng lên của lãi suất tái cấp vốn vào tháng 2/2003 tới
6,6%/năm cũng khẳng định những diễn biến của mặt bằng lãi suất thị
nghiệp vụ thị trường mở lại không có thành viên. Điều đó chứng tỏ khả
năng điều hành vốn khả dụng của NHTM, của NHNN chưa thông suốt.
Bên cạnh đó các NHTM cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài
vẫn ngoài cuộc, đặc biệt là các công ty bảo hiểu lại vắng bóng trên thị
trường đấu thầu tín phiếu kho bạc.
2. Công cụ thị trường mở.
Bên cạnh những kết quả khả quan nghiệp vụ thị trường mở vân
bộc lộ một số hạn chế:
Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở là một hoạt động hoàn toàn
mớ lên một số tổ chức vẫn còn nhiều bỡ ngỡ khi tham gia. Nghiệp vụ
thì trường mở ra đời trong điều kiện nền kinh tế còn đang ỏ trình độ
phát triển thấp, chưa ổn định, thị trường tài chính và thị trường tiền tệ
chưa phát triển, nền kinh tế thế giới lại không ngừng biến động, môi
trường hoạt động của các tổ chức tín dụng còn chứa đựng nhiều rủi ro.
-Hoạt động của thị trường mở chưa thực sự sôi động, mỗi phiên
giao dịch chỉ có từ 1-4 thành viên tham gia, chiếm tỷ lệ tương đối thấp
so với tổng số các thành viên và chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số các
TCTD. Các thành viên tham gia là các NHTM quốc doanh do lượng
hàng hóa trên thị trường chủ yếu tập trung tại các ngân hàng này, còn
việc tham gia các TCTD khác trên thị trường còn nhiều mở nhạt.
- Hàng hóa còn nghèo nàn, không đa dạng về chủng loại và thời
hạn. Luật NHNH quy định chỉ có các loại giấy tờ có giá ngắn hạn mới
được giao dịch trên thị trường mở, do vậy đã giới hạn và thu hẹp phạm
vi hoạt động của thị trường mở.
3.Hoạt động tín dụng.
Tỷ lệ tín dụng trung, dài hạn tăng và không tương xứng vơi tốc độ
tăng nguồn vốn huy dộng của các loại vốn này. Trong vòng quay của
kinh tế thị trường, nhu cầu vốn là rất cao, thì nguồn vốn đầu tư từ ngân
sách hàng năm cho đầu tư còn rất hạn hẹp, vốn tự có của các doanh
NHNN vẫn chưa kiểm soát được toàn bộ các kênh tín dụng nằm ngoài
ngân hàng, như khối lượng của tổng cục đầu tư và hệ thống kho bạc.
Đây là 1 mảng của tổng phương tiện thanh toán cần nằm trong sự kiểm
soát của NHNN.
5. Dự trữ bắt buộc:
Từ năm 1991, dự trữ bắt buộc được áp dụng như một công cụ chủ
yếu để điều hành chính sách tài chính theo pháp lệnh ngân hàng, tỷ lệ
dự trữ bắt buộc có thể ở mức 10-35% tổng nguồn vốn huy động của các
15
Tiểu luận môn chính sách kinh tế
Tháng 05/2013
NHTM. Song xét hoàn cảnh thực tế, tiềm lực của các NHTM Việt Nam
quyết định dự trữ bắt buộc ở mức 10%. Tỷ lệ này từ năm 1991 tới nay
nhưng kỷ luật chấp hành của các NHTM chưa nghiêm túc nên tác dụng
của công cụ này kém hiệu quả.
Đầu năm 1994, NHTW đã có quy định bổ xung: Tỷ lệ dự trữ bắt
buộc đơn vị loại tiền gửi không kỳ hạn là 13%, đối với loại tiền gửi là
7% nhưng cũng là để thi hành cho một thời gian dài. Sự ổn định như
vậy đã nói lên rằng, ở nước ta vào thời kỳ này mới bước đầu sử dụng
công cụ này, nên chưa có khả năng điều khiển nó một cách linh hoạt
theo thị trường tài chính luôn biến động trong lưu thông, nên chưa thực
hiện đầy đủ vai trò điều khiển khối lượng tiền lưu thông hạn chế bởi số
tín dụng của các NHTM như chức năng vốn có của công cụ này.
16
sẽ phát huy tác dụng tốt. Như vây, giai đoạn tới nền kinh tế Việt Nam
còn phải đối đầu với rất nhiều những khó khăn và việc giữ vững mức
tăng trưởng, phát triển và ổn định là rất khó, đòi hỏi sự hoàn thiện dần
của tất cả các chính sách kinh tế trong đó chính sách tiền tệ một công
17
Tiểu luận môn chính sách kinh tế
Tháng 05/2013
cụ hữu hiệu tạo lên một phần những thành công trong giai đoạn qua và
sẽ là công cụ đắc lực trong giai đoạn tới.
1.Điều hành cung ứng tiền tệ.
NHNN cần tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt trong đó
kiểm soát khối lượng tiền cung ứng, vừa đáp ứng đầy đủ yêu cầu
phương tiện thanh toán của nền kinh tế theo tín hiệu thị trường, vừa kịp
thời có những biện pháp để thu hút tiền mặt về, giảm bớt sức ép lạm
phát. Khối lượng tiền tệ tăng thêm chỉ là một chỉ tiêu có tính định
hướng NHTW phải theo dõi diễn biến của hoạt động kinh tế, sự biến
đổi giá cả và tỷ giá hối đoái để điều chỉnh kịp thời việc cung ứng tiền
sao cho việc tăng, giảm khối lượng tiền không ảnh hưởng tới giá cả thị
trường và làm tắc nghẽn lưu thông. Việc điều chỉnh này phải thực hiện
thông qua các nhu cầu đối ứng tạo ra trong lĩnh vực tạo tiền bằng các
chính sách tín dụng về ngoại hối. Trong qua trình điều hành, căn cứ vào
tín hiệu của thị trường NHNN cần điều hòa khối lượng tiền cung ứng
vào các mục tiêu cho thích hợp và phương thức cung ứng tiền thông qua
các kênh:
- Mua ngoại tệ cho quỹ dự trữ.
trưởng kinh tế mức độ cao, bền vững.
2.2.1 Hưởng tới chính sách tỷ giá cân bằng cung cầu.
Để thị trường ngoại hối hoạt động hiệu quả với doanh số dao dịch
cực đại có độ thanh quản cao và chi phí giao dịch thấp thì tỷ giá phải
được hình thành một cách khách quan theo quy luật cung cầu. Với vai
trò là NHTW, hiện nay NHNN quản lý thị trường ngoại tệ chủ yếu
thông qua quan hệ mua bán, công bố tỷ giá bình quân giao dịch liên
ngân hàng, quy định trần tỷ giá giao dịch ngay, tỷ giá phần trăm gia
tăng của tỷ giá kì hạn và các biện pháp quản lý ngoại hối.
2.2.2 Hoàn thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân
hàng.
- Thực hiện vai trò của NHTW là người mua bán cuối cùng trên
thị trường ngoại hối, hiện tại do tỷ giá chưa thực sự làm chức năng điều
tiết quan hệ cung cầu thì vai trò hướng dẫn điều tiết của NHTW cần
được thể hiện thông qua việc mua bán ngoại tệ cuối cùng trên thị
trường ngoại hối. Ngoài ra NHNN cần tham gia và thực hiện các nghĩa
vụ kinh doanh ngoại tệ kì hạn, hoán đổi đúng như quy định nhằm tạo
điều kiện cho NHTM tham gia tích cực hơn vào thị trường ngoại hối.
19
Tiểu luận môn chính sách kinh tế
Tháng 05/2013
- Tiến hành thiết lập thị trường ngoại lệ liên ngân hàng theo quy
mô, hình thực tổ chức kép bao gồm thị trường ngoại tệ liên ngân hàng
trực tiếp giữa các ngân hàng và thị trường gián tiếp qua môi giới.
- Mở rộng số lượng thành viên, mặt khác cần tạo ra môi trường và
Tháng 05/2013
điều kiện cơ bản là ổn định kinh tế vĩ mô, tăng tiềm lực tài chính cho
các ngân hàng và nâng cao uy tín đồng tiền Việt Nam.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng đóng vai trò điều
tiết thường xuyên đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế và lạm phát. Dựa vào việc mở rộng tín dụng người ta có thể đạt
đến sứ mở rộng sản xuất kinh doanh và đầu tư xây dựng cơ bản và
ngược lại. Vì vậy công cụ hạn mức tín dụng có ý nghĩa quan trọng và
việc xác định hạn mức tín dụng là rất cần thiết để thực hiện mục tiêu
chống lạm phát và ổn định kinh tế.
3. Điều hành chính sách tiền tệ với công cụ quản lý.
3.1 Dự trữ bắt buộc.
Thông qua việc thực hiện chế độ dự trữ bắt buộc NHNN điều
hành tổng phương tiện thanh toán qua cơ chế tác động đến khối lượng
và giá tín dụng của các ngân hàng thương mại. Muốn công cụ này trở
lên có hiệu quả hơn thì: Trước mắt phải hoàn hiện từng bước các văn
bản pháp lý trong lĩnh vực này, linh hoạt điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt
buộc cho phù hợp với tình hình thực tế. NHNN có thể hoàn lại số tiền
lãi mà NHTM phải trả cho khách hàng có tiền gửi để đảm bảo cho
NHTM kinh doanh có lãi. Cần thống nhất một tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho
các loại tiền gửi có kì hạn và không có kì hạn. Thống nhất lập số tiền
dự trữ bắt buộc vào một tài khoản tiền gửi không kì hạn và quản lý theo
hạn mức; thực hiện việc thay đổi hay hoàn lại tiền lãi số tiền lãi, số tiền
hụt hay vượt mức dự trữ, sử phát nghiêm ngặt với các trường hợp vi
phạm.
3.2 Chính sách lãi suất:
Đây là công cụ sử dụng hiệu quả trong suốt những năm qua, và
chắc chắn sẽ là công cụ thiết yếu trong những năm tới, bởi chính sách
chính sách tiền tệ của NHNN, cũng như hiệu quả đạt được của TCTD
trong việc điều hành nguồn vốn của mình.
- NHNN cần phải có sự phối hợp giữa các công cụ và biện pháp
điều hành chính sách tiền tệ cần hạn chế các hình thức cung ứng vốn tín
dụng khác từ NHNN như: tái cấp vốn, cho vay theo chỉ định, bên cạch
tiếp tục thực hiện việc khoanh nợ, cũng như việc củng cố và phát triển
thị trường tiền tệ, đặc biệt phải hỗ trợ cho sự phát triển của tiền tệ liên
ngân hàng, nghiệp vụ đấu thầu tín phiếu kho bạc hoạt động mua bán
giấy tờ có giá... Bên cạnh đó, NHNN cần kết hợp trong việc điều hành
22
Tiểu luận môn chính sách kinh tế
Tháng 05/2013
hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở với các nghiệp vụ khác như:
Chiết khấu giấy tờ có giá ngắn hạn, hoán đổi ngoại tệ .... Để tạo ra được
môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng giữa các TCTD, đồng thời
giúp cho nghiệp vụ thị trường mở ngày càng củng cố và trở thành công
cụ điều hành chính sách tiền tệ có hiệu quả của NHTW.
KẾT LUẬN
Qua quá trình nghiên cứu chính sách tiền tệ quốc gia nói riêng và
chính kinh tế vĩ mô nói chung, chúng ta thấy rõ được vai trò và ý nghĩa
của nó trong nền kinh tế bởi chính sách tiền tệ là công cụ điều tiết nền
kinh tế vĩ mô của nhà nước. Nên vị trí của chính sách tiền tệ trở nên hết
sức quan trọng.
Hoạch định một chính sách tiền tệ đòi hỏi cả một quá trình, sự
linh hoạt và sự thống nhất trong sự áp dụng trên thực tiễn trước bối
Tiểu luận môn chính sách kinh tế
Tháng 05/2013
MỤC LỤC
A.Lời nói đầu:.................................................................................. 1
Chương I: Lý luận chung về chính sách tiền tệ với việc thực hiện
mục tiêu ổn định kinh tế..............................................................
2
I.ổn định kinh tế-một mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng...............
..2
II.Khái niệm và công cụ của chính sách tiền tệ ...................................3
III.Tác động của chính sách tiền tệ đối với thực hiện mục tiêu ổn định
kinh tế................................................................................................5
Chương II: Chính sách tiền tệ với thực hiện mục tiêu ổn định kinh
tế của Việt Nam thời gian qua...........................................................8
I.Sơ lược tình hình kinh tế tiền tệ Việt Nam thời gian qua................
8
II.Sơ lược về tình hình sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ của
Việt Nam nhằm ổn định kinh tế....................................................... 10
III.Những đánh giá chung về thực trạng sử dụng chính sách tiền tệ thực
hiện mục tiêu ổn định kinh tế Việt Nam thời gian qua ...................... 13