TIỂU LUẬN MÔN QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆP ĐỊNH BTA - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA THƯƠNG MẠI –DU LỊCH –MARKETING
MÔN: QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
NHÓM LÀM ĐỀ TÀI:
1. Ngô Thị Hồng Nhung
2. Lê Thị Thanh Tâm
3. Huỳnh Thị Hồng Châu
4. Phạm Thị Thu Vi
5. Nguyễn Quang Vinh
6. Du Chí Hùng
GIẢNG VIÊN:THS. TRỊNH XUÂN ÁNH
LỚP LIÊN THÔNG NGOẠI THƯƠNG KHÓA 18
Hoa kỳ -Việt Nam (BTA) 14/07/2000
PHẦN MỞ ĐẦU
Hiện nay chiến tranh đã đi qua, mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đang có nhiều
thay đổi trước xu thế mới của thời đại. Bỏ lại sau lưng nỗi đau, nỗi mất mát từ cuộc chiến
tranh, chúng ta đang từng bước tiến lên xây dựng kinh tế, mở rộng quan hệ hợp tác với các
quốc gia trên thế giới để từng bước khẳng định sức mạnh của dân tộc mình.Ngay nay xu thế
hội nhập trở thành xu thế của thời đại. Toàn cầu hoá mà trọng tâm là toàn cầu hoá kinh tế đã
tác động mạnh mẽ đến sự phát triển thương mại trên phạm vi toàn thế giới. Cái đích cuối
cùng mà quá trình toàn cầu hoá hướng tới là một nền kinh tế toàn cầu thống nhất không còn
biên giới quốc gia về kinh tế . Và Mỹ là một trong những thị trường lớn nhất thế giới và hứa
hẹn là thi trường cung cấp các sản phẩm máy móc, công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở Việt Nam. Do đó việc ký kết và thông qua hiệp định thương mại giữa hai nước là
điều kiện cần thiết cho cả Việt Nam và Mỹ thúc đẩy mở rộng quan hệ kinh tế, thương mại
song phương.
2 | P a g e
Hoa kỳ -Việt Nam (BTA) 14/07/2000
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT – MỸ (BTA - Bilateral Trade
Association)

xây dựng mạng trục.
3. Dịch vụ xây dựng
- Mức cam kết của Việt Nam khá cao và hầu như tự do hoá ngay lập tức ngành dịch vụ này. Các hạn
chế chính vẫn là doanh nghiệp 100% vốn của nước ngoài chỉ được cung cấp dịch vụ xây dựng cho
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong 3 năm sau khi thành lập. Ngoài ra, không cho
phép hiện diện thương mại dưới hình thức chi nhánh.
4. Dịch vụ phân phối
- Cam kết đối với dịch vụ phân phối khá thông thoáng. Các nhà phân phối Hoa Kỳ được phép góp 49%
vốn trong liên doanh và sau 6 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực, hạn chế về vốn này sẽ được bãi
bỏ.
5. Dịch vụ tài chính
- Các cam kết trong ngành dịch vụ tài chính tương đối thông thoáng. Cụ thể, Việt Nam chấp nhận các
tiêu chuẩn và định nghĩa của GATS về dịch vụ tài chính và cam kết cao hơn nhiều so với hiện trạng
chính sách lúc đó. Đối với dịch vụ bảo hiểm, trong BTA Việt Nam cam kết hầu hết các lĩnh vực bảo
hiểm thương mại thông thường với lộ trình tự do hoá hoàn toàn hình thức hiện diện thương mại sau 5
năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.
- Việt Nam chỉ bảo lưu hạn chế phân biệt đối xử quốc gia đối với một số loại bảo hiểm theo luật định
như bảo hiểm y tế, trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba, bảo hiểm xây dựng, lắp đặt,
bảo hiểm các dự án dầu khí và bảo hiểm các dự án xây dựng có nhiều rủi ro đối với an ninh công
cộng và môi trường.
- Đối với dịch vụ ngân hàng và tài chính khác, Việt Nam cam kết trong tất cả các phân ngành dịch vụ
ngân hàng và chứng khoán nhưng mức độ tự do khá thấp, đặc biệt là các hoạt động kinh doanh đồng
nội tệ, hạn chế mở rộng điểm giao dịch, tham gia góp vốn của nước ngoài trong các ngân hàng
4 | P a g e
Hoa kỳ -Việt Nam (BTA) 14/07/2000
thương mại cổ phần. Sau 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam cho phép hình thức liên
doanh với tỷ lệ vốn nước ngoài là 49% và 10 năm sau cho phép hình thức hiện diện ngân hàng con
100% vốn nước ngoài. Cam kết trong BTA không cho phép nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được
trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ liên quan tới chứng khoán.
6. Dịch vụ du lịch

dịch vụ, nhưng cam kết về bảo hộ đầu tư (như quy định về tước quyền sở hữu, chuyển tiền ra nước
ngoài, giải quyết tranh chấp, v v ) được áp dụng cho tất cả các ngành.
III. QÚA TRÌNH ĐÀM PHÁN VÀ KÝ KẾT
- Việc ký kết hiệp định thương mại Việt Mỹ là một quá trình dài mà có thể nói trong lịch sử đàm phán
các hiệp định kinh tế thế giới từ trước 2001 thì có lẽ việc đàm phán để kí kết hiệp định thương mại
Việt - Mỹ là kéo dài hơn cả. Để ký được hiệp định này, chúng ta phải mất tới 5 năm với 11 vòng đàm
phán: Vòng 1 bắt đầu từ ngày 21/6/1996 tại Hà Nội đến tận vòng 11 ngày 3/7/2000 tại Oasinhtơn để
hoàn tất hiệp định. Cuối cùng ngày 13/7/2000 tại thành phố Hồ Chí Minh hai nước Việt Nam - Hoa
Kỳ đã kí kết hiệp định thương mại Việt - Mỹ. Như vậy: “Hiệp định thương mại Việt - Mỹ là thắng lợi
của phía Việt Nam trong quá trình đàm phán kiên trì để: một mặt đảm bảo được các lợi ích trước mắt
và lâu dài, đồng thời là bước đi đầu tiên để chính thức đưa Việt Nam vào quá trình hội nhập Quốc tế”
- Ngày 13/7/2000 tại Washington (tức ngày 14/7/2000 giờ Việt Nam), Bộ trưởng Thương mại Việt
Nam Vũ Khoan và bà Charlene Barshefsky, Đại diện thương mại thuộc phủ Tổng thống Hợp chủng
quốc Hoa Kỳ đã thay mặt Chính phủ hai nước ký Hiệp định giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về quan hệ thương mại, đánh dấu bước phát triển mới trong
quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước, kết thúc một quá trình đàm phán lâu dài và kiên trì. Hiệp
định được ký đúng vào dịp kỷ niệm lần thứ 5 ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, đã
hoàn tất quá trình bình thường hoá quan hệ kinh tế- thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ.
- Qua 11 vòng đàm phán, hai bên đều thể hiện sự quyết tâm thúc đẩy nhanh tiến trình đàm phán ký kết
Hiệp định thương mại. Cả Việt Nam và Mỹ đều bày tỏ sự quan tâm tới quá trình bình thường hoá
quan hệ về kinh tế vì các doanh nghiệp của cả hai phía đang mong đợi điều này. Tuy nhiên không
phải vì lợi ích trước mắt mà bỏ qua những lợi ích lâu dài nên các bên vừa quyết tâm đàm phán vừa
phải bảo vệ lợi ích lâu dài của mình.
Vòng 1: Từ 21/6/1996 đến 26/9/1996 tại Hà Nội
Vòng 2: Từ 9/12/1996 đến 11/12/1996 tại Hà Nội
Vòng 3: Từ 12/4/1997 đến 17/4/1997: Mỹ đã trao cho ta văn bản dự thảo của Hiệp định.
6 | P a g e
Hoa kỳ -Việt Nam (BTA) 14/07/2000
Vòng 4: Từ 6/10/1997 đến 10/10/1997 tại Oasinhtơn: Hai bên sơ bộ trao đổi về những quy định
chung và thương mại hàng hoá trong Hiệp định.

• Điều 3: đối xử cấp quốc gia.
• Điều 4: quyền tác giả, gồm cả cho tác phẩm viết, chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu, băng ghi
âm, ghi hình.
• Điều 5: tín hiệu truyền qua vệ tinh.
• Điều 6: nhãn hiệu hàng hóa.
• Điều 7: sáng chế.
• Điều 8: thiết kế bố trí mạch tích hợp.
• Điều 9: bí mật thương mại.
• Điều 10: kiểu dáng công nghiệp.
• Điều 11 đến 18: thực thi quyền sở hữu trí tuệ, các thủ tục, biện pháp v.v.
1.3. Thương mại dịch vụ:
• Điều 1: Phạm vi và Định nghĩa
• Điều 2: Đối xử Tối huệ quốc
• Điều 3: Hội nhập Kinh tế
• Điều 4: Pháp luật Quốc gia
• Điều 5: Độc quyền và nhà cung cấp dịch vụ độc quyền
• Điều 6: Tiếp cận thị trường
• Điều 7: Đối xử Quốc gia
• Điều 8: Các cam kết bổ sung
• Điều 9: Lộ trình cam kết cụ thể
8 | P a g e
Hoa kỳ -Việt Nam (BTA) 14/07/2000
• Điều 10: Khước từ Lợi ích
• Điều 11: Các định nghĩa
1.4. Phát triển các quan hệ đầu tư:
• Điều 1: Các định nghĩa
• Điều 2: Đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc
• Điều 3: Tiêu chuẩn chung về đối xử
• Điều 4: Giải quyết tranh chấp
• Điều 5: Tính minh bạch

đối với một loạt các sản phẩm được các nhà xuất khẩu Mỹ quan tâm như các sản phẩm vệ sinh, phim,
máy điều hoà nhiệt độ, tủ lạnh, xe gắn máy, điện thoại di động, video games, thịt cừu, bơ, khoai tây,
cà chua, hành, tỏi, các loại rau xanh khác, nho, táo và các loại hoa quả tươi khác, bột mỳ, đậu tương,
dầu thực vật, thịt và cá đã được chế biến, các loại nước hoa quả Việc cắt giảm thuế quan các mặt
hàng này được áp dụng dần dần trong giai đoạn 3 năm. Phía Mỹ thực hiện cắt giảm ngay theo quy
định của Hiệp định song phương.
- Những biện pháp phi quan thuế: Phía Mỹ, theo quy định của WTO sẽ không có những rào cản phi
quan thuế (trừ hạn ngạch đối với hàng dệt may); trong khi đó, Việt Nam đồng ý loại bỏ tất cả các hạn
chế về số lượng đối với một loạt các sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp (các linh kiện lắp ráp, thịt
bò, các sản phẩm cam quýt ) trong giai đoạn từ 3 -7 năm, phụ thuộc vào từng mặt hàng.
- Cấp giấy phép nhập khẩu: Việt Nam sẽ loại bỏ tất cả các thủ tục cấp giấy phép một cách tuỳ ý, và sẽ
tuân thủ theo các quy định của Hiệp định WTO. Về việc định giá trị đánh thuế hải quan và các khoản
phí hải quan, Việt Nam cần tuân thủ các luật lệ của WTO đối với việc định giá các giao dịch và định
giá thuế hải quan, cũng như hạn chế các khoản phí hải quan đánh vào các dịch vụ được thanh toán
trong vòng 2 năm.Về phía Mỹ, theo Luật Thương mại Mỹ, các công ty của Việt Nam và các nước
khác đều sẽ được cấp giấy phép hoạt động khi có yêu cầu.
- Những thước đo về tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm: Hai bên cam kết tuân thủ theo
các tiêu chuẩn của WTO; các quy định về kỹ thuật, và những thước đo về vệ sinh an toàn thực phẩm
phải được áp dụng trên cơ sở đối xử quốc gia, và chỉ được áp dụng trong chừng mực cần thiết để giải
quyết những mục đích chính đáng (bảo vệ con người, bảo vệ cuộc sống của động vật, sinh vật).
10 | P a g e
Hoa kỳ -Việt Nam (BTA) 14/07/2000
- Mậu dịch quốc doanh: Cần phải được thực thi theo các quy định của WTO (ví dụ, các doanh nghiệp
quốc doanh Việt Nam trước kia chỉ tiến hành các cuộc giao dịch theo những mối quan tâm về thương
mại và còn ít quan tâm tới các quy định của WTO).
2.2. Quyền Sở hữu Trí tuệ
- Các bên cam kết xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ và đồng bộ theo chuẩn mực quốc tế để bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ
- Trên lĩnh vực bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ, tuy Việt Nam chưa tham gia nhiều Điều ước Quốc tế đa
phương về bảo hộ quyền tác giả nhưng Việt Nam đã tham gia nhiều Điều ước Quốc tế đa phương về

được ưu tiên áp dụng trong phạm vi xung đột.
2.3. Thương mại Dịch vụ
- Trong lĩnh vực dịch vụ, Việt nam cam kết tuân thủ các quy định của WTO về Tối huệ quốc, đối xử
quốc gia và các nguyên tắc trong pháp luật quốc gia. Bên cạnh đó, Việt Nam đồng ý cho phép các
công ty và các cá nhân Mỹ đầu tư vào các thị trường của một loạt các lĩnh vực dịch vụ, bao gồm kế
toán, quảng cáo, ngân hàng, máy tính, phân phối, giáo dục, bảo hiểm, luật và viễn thông. Hầu hết các
cam kết về các lĩnh vực đó có lộ trình thực hiện sau 3 đến 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.
Cam kết của Việt Nam trong 3 lĩnh vực dịch vụ lớn nhất của Mỹ – ngân hàng, bảo hiểm và viễn
thông - được nêu rõ dưới đây.
- Dịch vụ Ngân hàng. Việt Nam đồng ý thực hiện các biện pháp tự do hoá sau: Trong vòng 9 năm kể từ
khi Hiệp định có hiệu lực, các ngân hàng của Mỹ được phép thành lập liên doanh với các đối tác Việt
nam, trong đó phần vốn góp của Hoa Kỳ từ 30% đến 49% vốn pháp định của liên doanh. Sau 9 năm,
được phép thành lập ngân hàng 100% vốn đầu tư của Hoa Kỳ.
- Bảo hiểm. Theo Hiệp định Thương mại Song phương, đối với các lĩnh vực bảo hiểm “bắt buộc” (bảo
hiểm phương tiện và xây dựng), sau 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, Việt nam sẽ cho phép các
công ty Mỹ thành lập liên doanh, không hạn chế phần vốn góp của Hoa Kỳ. Sau 6 năm, cho phép
thành lập các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư của Hoa Kỳ. Ðối với bảo hiểm nhân thọ và các lĩnh vực
bảo hiểm “không bắt buộc” khác, sau 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, cho phép thành lập các
liên doanh có mức vốn góp tối đa của Mỹ là 50% vốn pháp định của liên doanh. Sau 5 năm, cho phép
thành các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư Hoa Kỳ.
- Viễn thông. Theo Hiệp định Thương mại Song phương, đối với các dịch vụ viễn thông cao cấp (như
Internet, thư điện tử và voice mail), Việt Nam sẽ cho phép thành lập các liên doanh sau 2 năm kể từ
khi Hiệp định có hiệu lực, với mức vốn góp tối đa của Mỹ là 50% vốn pháp định của liên doanh.
Dịch vụ Internet có lộ trình thực hiện là 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Ðối với các dịch vụ
viễn thông cơ bản (như fax, điện thoại di động và các dịch vụ vệ tinh), cho phép thành lập các liên
doanh sau 4 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực với mức vốn góp của các công ty Mỹ khống chế ở
mức 49% vốn pháp định của liên doanh. Ðối với các dịch vụ điện thoại nội hạt, đường dài và quốc tế,
cho phép thành lập liên doanh sau 6 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực với mức vốn góp của Hoa
Kỳ không quá 49% vốn pháp định của liên doanh. Việt Nam đồng ý sẽ xem xét việc nâng các mức
hạn chế vốn góp của Hoa Kỳ khi tiến hành đánh giá Hiệp định trong 3 năm tới.

13 | P a g e
Hoa kỳ -Việt Nam (BTA) 14/07/2000
CHƯƠNG II: HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA MỸ VÀO VIỆT NAM
I. Giai đoạn 1994-2013
Làn sóng đầu tư của Mỹ vào Việt Nam có thể chia ra thành những giai đoạn sau:
• Làn sóng đầu tư đầu tiên (3-1994 - 12-2000): Trước khi Hiệp định thương mại song phương
Việt Nam - Mỹ (BTA) có hiệu lực.
- Thời kỳ này, hàng loạt các công ty đa quốc gia đã đến Việt Nam để đặt nền tảng cho cơ hội phát triển
dài hạn như Pepsico, Coca-Cola, Cargil, 3M, P&G, Kimberly-Clark Các công ty đã đặt nhà máy và
bán sản phẩm tại Việt Nam. Lĩnh vực thu hút được nhiều vốn đầu tư của Mỹ là công nghiệp với 82
dự án (tương đương 63,6% các dự án của Mỹ đầu tư vào Việt Nam) và 620 triệu USD (tương đương
58,6% tổng vốn đầu tư của Mỹ vào Việt Nam). Tiếp đến là ngành dịch vụ (31 dự án với gần 300 triệu
USD). Và cuối cùng là lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp với 16 dự án và gần 143 triệu USD. Trong
lĩnh vực công nghiệp, công nghiệp nặng và công nghiệp dầu khí là 2 ngành thu hút được số vốn nhiều
nhất. Điều này chứng tỏ các nhà đầu tư Mỹ có xu hướng đầu tư vào các ngành liên quan đến năng
lượng, có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng lâu dài đến nền kinh tế (ngành dầu khí) cũng như những
ngành có nhiều lợi thế về kỹ thuật và công nghệ để có thể tận dụng chi phí nhân công rẻ, làm hạ giá
thành, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh trong sản phẩm.
• Làn sóng đầu tư thứ hai (2001-2006): Khi Việt Nam và Mỹ phát triển các mối quan hệ thương
mại song phương.
- Thuế giảm xuống còn 3% (từ mức 45%). Dòng vốn FDI tăng trưởng mạnh trong các lĩnh vực mà Việt
Nam có hàng xuất khẩu sang Mỹ, đặc biệt là các lĩnh vực thâm dụng lao động như may mặc, giày
dép, chế biến gỗ và hàng nội thất. Dòng vốn FDI đổ vào 3 lĩnh vực này chủ yếu là từ "các nhà máy
đối tác" đặt tại Hàn Quốc, Hồng Kong, Đài Loan và Singapore. Các công ty Mỹ đã tham gia trực tiếp
vào chuỗi cung ứng với việc mua và phân phối sản phẩm vào thị trường Mỹ, góp phần đưa thương
mại hai chiều Việt Nam - Mỹ tăng từ mức 1,5 tỷ USD (năm 2001) lên 24,9 tỷ USD (năm2012)
• Làn sóng đầu tư thứ ba (1-2007 - 2012): Khi Việt Nam trở thành thành viên WTO.
- Tập đoàn công nghệ Intel (Mỹ) đầu tư 1 tỷ USD vào nhà máy đặt tại khu công nghệ cao tại TP. Hồ
Chí Minh, đánh dấu bước chuyển biến dòng vốn đầu tư từ Mỹ với nguồn vốn đầu tư tập trung vào các
lĩnh vực sản xuất ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại. Năm 2011, Mỹ đứng thứ 7 trong số gần 100

mở rộng đầu tư được triển khai, nhà máy này sẽ tăng nhu cầu lên khoảng 1.000 công nhân.
- Tổng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) của Mỹ vào Việt Nam đạt 10,5 tỷ USD (5-2013), đứng thứ 7 trong số
các quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, với 658 dự án. Nhiều công ty của Mỹ đang kinh
doanh tại Việt Nam, trong đó có những công ty lớn, đầu tư lâu dài, ổn định. Một số công ty, tập đoàn
lớn của Mỹ như Tập đoàn Coca Cola, Procter & Gamble, Unocal, Conoco… đầu tư vào Việt Nam
thông qua các chi nhánh, công ty con của Mỹ đăng ký tại một số nước khác như British Virgin Island,
Singapore, Hồng Kông
II. Hiện nay
- Động thái các tập đoàn lớn của Mỹ ồ ạt sang Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư gần đây cho thấy tín
hiệu khả quan với hoạt động đầu tư. Có thể nói, trong cả thập kỷ trở lại đây, chưa khi nào sự quan
tâm của doanh nghiệp Mỹ đối với Việt Nam lại cao đến vậy.
15 | P a g e
Hoa kỳ -Việt Nam (BTA) 14/07/2000
- Năm 2013, chỉ có 22 doanh nghiệp Mỹ đến tìm hiểu và quan tâm đến môi trường kinh doanh tại Việt
Nam. Chỉ trong chưa đầy 6 tháng đầu năm 2014, đã có đến 3 lần các đoàn doanh nghiệp với số lượng
lớn bao gồm nhiều tập đoàn danh tiếng của Mỹ tìm kiếm cơ hội đầu tư tại Việt Nam. Không những
thế, ngoài việc tìm kiếm cơ hội đầu tư, động thái các doanh nghiệp mong muốn có thể làm việc với
Chính phủ Việt Nam cho một kế hoạch kinh doanh dài hạn đang mang lại những tín hiệu đáng lạc
quan.
- Các đoàn các doanh nghiệp lớn của Mỹ thuộc các lĩnh vực bảo hiểm, năng lượng, giáo dục đào tạo…
đã sang Việt Nam để thảo luận về các vấn đề kinh tế quan trọng.
- Trong hai tháng đầu năm 2014, với lượng vốn đăng ký hơn 1,3 tỷ USD, Mỹ đã vươn từ vị trí thứ 7
lên vị trí thứ nhất trong danh sách các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Trong 5 dự án
đầu tư của Mỹ vào Việt Nam từ đầu năm đến nay, lớn nhất là dự án xây dựng tổ hợp khách sạn 5 sao,
khu vui chơi giải trí tại Bà Rịa-Vũng Tàu của Tập đoàn Good Choice (vốn đầu tư 1,29 tỷ USD). Hiện
nay, Tập đoàn Exxon Mobil sau khi khảo sát, muốn triển khai dự án đưa khí từ ngoài khơi vào bờ và
xây nhà máy điện với tổng vốn 20 tỷ USD. Cụ thể, nhà máy điện có công suất giai đoạn một là 1.500
MW; giai đoạn hai 4.000-5.000 MW và nhà máy xử lý khí. Hồi tháng 3 , hơn 20 CEO, cố vấn đầu tư,
lãnh đạo cấp cao của các tập đoàn, các tổ chức kinh tế và trường đại học hàng đầu trong lĩnh vực
công nghệ thông tin, dược phẩm, giáo dục như Microsoft, Boeing, Virginia Manson Mediacal Center,

May mặc 900 2380 2571 3239 4293.6 5151.7
Đồ gỗ 80 188 386 895 1229.4 1449.3
Giày dép 225 327 475 960 1041.5 1213
Dầu thô 181 278.1 349 1036 776.1 1091.5
Thủy sản 616 732 568 653 528.1 558.8
Cà phê 53 76 114 204 539.6 534.8
2.Nhập khẩu của Việt Nam từ Mỹ: Năm 1995, đạt 252,3 triệu USD; Năm 2000 đạt 367, 50 triệu
USD đứng thứ 9; Năm 2004 đứng thứ 7, đạt 5,275 tỷ USD. Hàng nhập khẩu lớn từ Mỹ có bông xơ,
linh kiện điện tử, phân bón, nguyên phụ liệu giày dép, chất dẻo, gỗ, hoá chất, tân dược, ô tô, vài năm
gần đây là máy bay.
ĐVT: Triệu USD
Năm Kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ Kim ngạch nhập khẩu từ Mỹ
1990 0.01 0.6
1991 0.01 1.1
1992 0.1 2.0
1993 0.1 3.8
17 | P a g e
Hoa kỳ -Việt Nam (BTA) 14/07/2000
1994 50.5 172.2
1995 169.7 130.4
1996 301.2 720.3
1997 235.0 405.0
1998 468.6 324.9
1999 504.0 322.7
2000 732.8 363.4
2001 1,065.3 411.0
2002 2,452.8 458.3
2003 3,938.6 1,143.3
2004 5,024.8 1,133.9
2005 5,924.0 862.9

các lĩnh vực mà hai bên có nhiều tiềm năng.
 Trong hiệp định thương mại Việt Nam cam kết sẽ mở thông thoáng cho các doanh nghiệp Mỹ
dễ dàng đầu tư vào Việt Nam nhưng do sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ nói riêng và của toàn
bộ nền kinh tế nói chung còn nhiều hạn chế, hệ thống chính sách kinh tế, thương mại chưa hoàn
chỉnh Cho nên, nước ta sẽ gặp khó khăn lớn trong cạnh tranh khi mở cửa cho các nhà đầu tư Hoa
Kỳ vào Việt Nam sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam trong cuộc
chiến “sinh tồn”.
 Giải pháp:
- Hai bên cần tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho cộng đồng doanh nghiệp trao đổi, tiếp xúc nhằm thúc
đẩy quá trình giao thương và đầu tư trực tiếp và giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể học hỏi
thêm kinh nghiệm.
19 | P a g e
Hoa kỳ -Việt Nam (BTA) 14/07/2000
- Các doanh nghiệp Việt Nam phải tự có chiến lược đẩy mạnh xây dựng thương hiệu nhằm tạo được
chỗ đứng vững chắc thì sẽ khó bị lung lay khi các công ty nước ngoài xâm nhập chẳng hạn như tham
gia “ hàng việt Nam chất lượng cao” cũng là một phần trong xây dựng thương hiệu.
- Phải đầu tư đổi mới công nghệ máy móc nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.
- Phải đầu tư về nguồn nhân lực, cho nhân viên giỏi sang nước bạn học hỏi nhằm đem kỹ thuật tiên
tiến ở nước bạn về ứng dụng cho công ty.
 Giải pháp:
 Hệ thống rào cản thương mại rất phức tạp: rào cản liên quan tới chất lượng, vệ sinh an toàn thực
phẩm; nguồn gốc xuất xứ; bảo vệ môi trường, quyền sỡ hữu trí tuệ Về cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí
tuệ, nước ta còn nhiều khó khăn về nhãn hiệu thương mại, bản quyền tác giả, bảo vệ thiết kế công
nghiệp và người dân chưa có thói quen tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ. Vì vậy Việt Nam nằm trong danh
sách các nước bị theo dõi về quyền sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ, một phần do sản phẩm lậu và nhái vẫn
được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường, bao gồm cả vi phạm bản quyền online. Đây là thách thức của
Việt Nam khi thực hiện cam kết về quyền sỡ hữu trí tuệ trong hiệp định BTA. Trong khi đó các luật về
quyền sỡ hữu trí tuệ chưa chặt chẽ cũng như phát huy được tính thực thi.
 Giải pháp:
- Để giúp các doanh nghiệp có thể phát triển xuất khẩu sang các nước mà rào cản kỹ thuật cao thì các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status