Tiểu luận nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế tại việt nam - Pdf 35

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Chủ đề năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt Nam đã, đang và tiếp
tục là vấn đề thời sự, thu hút được sự quan tâm lớn cả từ góc độ nghiên cứu, xây dựng
và điều hành chính sách, quản trị và điều hành kinh doanh ngân hàng,...Nhìn lại 15
năm về đây, kể từ khi triển khai thực hiện hai luật ngân hàng ban hành năm 2008, thực
hiện hai luật mới ban hành năm 2010 có hiệu lực từ đầu năm 2011, cùng với cam kết
mở cửa thị trường dịch vụ tài chính gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, hoạt
động ngân hàng ở nước ta ngày càng sôi động trong môi trường cạnh tranh ngày càng
gay gắt của các loại hình tổ chức tín dụng. Để tồn tại và phát triển được, các tổ chức
tín dụng luôn phải liên tục và không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá
trình hoạt động, mở cửa thị trường dịch vụ tài chính, hội nhập kinh tế quốc tế.
Là một trong những ngành đi tiên phong về mở cửa thị trường và hội nhập quốc
tế, với số lượng ban đầu chỉ có 4 NHTM nhà nước hoạt động rất hạn chế về quy mô tài
chính, dịch vụ đến nay đã phát triển rất nhanh về số lượng tổ chức tín dụng, quy mô tài
chính và khả năng hoạt động. Về mặt cấu trúc cũng rất đa dạng về hình thức sở hữu
(nhà nước, hợp tác xã, liên doanh, 100% vốn nước ngoài, cổ phần) và đa dạng hóa về
loại hình (ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng hợp tác xã, ngân
hàng chính sách xã hội, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng 100% vốn nước
ngoài, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài
chính vi mô). Đến nay, hệ thống NHVN cũng đã nâng cao được khá nhiều về năng lực
cạnh tranh của mình, đóng vai trò quan trọng thúc đẩy tiến trình đổi mới và phát triển
nền kinh tế. Song đứng trước yêu cầu đặt ra trong thực tiễn việc nâng cao năng lực
cạnh tranh của các NHTM Việt Nam luôn đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ.
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO từ tháng 11 - 2006 và đến
tháng 04 - 2007, bắt đầu thực hiện các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường dịch vụ
tài chính và áp lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng bắt đầu xuất hiện, gia tăng
đáng kể. Trong 7 năm qua các tổ chức trung gian tài chính và đông đảo các doanh
nghiệp đều đã chủ động tìm kiếm, nghiên cứu,thực hiện nhiều biện pháp để nâng cao


2. Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa và góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về năng
lực cạnh tranh, phân tích một số lý thuyết về năng lực cạnh tranh của NHTM.
Khái quát kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
một số nước trên thế giới và rút ra bài học cho VIB nói riêng, cho các ngân hàng
thương mại Việt Nam nói chung.


3

Đánh giá tổng quan năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam,
chỉ ra những tồn tại và hạn chế của các kết quả nghiên cứu trước đây có liên quan đến
lĩnh vực cạnh tranh ngân hàng từ đó thấy rõ khoảng trống, những vấn đề còn tồn tại,
chưa được nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ngân hàng thương mại.
Làm rõ thực trạng và đánh giá năng lực cạnh tranh của VIB thông qua các yếu tố
bên trong của ngân hàng (các yếu tố nội lực) nhằm xác định những kết quả đạt được,
những tồn tại, hạn chế và điểm mạnh, điểm yếu, trả lời câu hỏi năng lực cạnh tranh của
VIB hiện nay như thế nào ?
Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh
của VIB trên thị trường Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Năng lực cạnh tranh của VIB trên thị trường Việt nam dựa trên cơ sở
phân tích và đánh giá các tiêu chí phản ánh năng lực cạnh tranh, các hoạt động của
VIB gắn liền với môi trường hoạt động kinh doanh hiện nay cũng như trong thời
gian tới.
Phạm vi nghiên cứu:
Những vấn đề cơ bản về lý luận cạnh tranh và kinh nghiệm nâng cao năng lực
cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt nam trong xu thế hội nhập quốc tế .

ĐẠT ĐƯỢC

Thống kê
So sánh
Phân tích
Tổng hợp

Tổng quan
nghiên cứu
năng lực cạnh
tranh NHTM

Kế thừa kết
quả nghiên
cứu trong và
ngoài nước

Phân tích

Lý luận năng lực cạnh
tranh NHTM

Cạnh tranh
NHTM

Mô hình chuỗi
giá trị E.Porter

Chương
2

Thống kê
Phân tích
So sánh

Tổng quan năng lực
cạnh tranh NHTMVN

Thực trạng
Kết quả

Tổng quan và đánh
giá thực trạng năng
lực cạnh tranh VIB

Thực trạng
năng lực
cạnh tranh
VIB

Thống kê
Vận dung tiêu
chí đánh giá
Vận dụng các
nhân tố mô
hình 5 force

model Porter

Đưa ra 4
nhóm tiêu

Chọn lọc

Kiến nghị
nâng cao
năng lực
cạnh tranh
NHTM

Kiến nghị NHNN
Khuyến nghị với
NHTM


5

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu tác giả cũng sử dụng thêm phương pháp so
sánh đánh giá các yếu tố môi trường nội bộ nhằm đánh giá được năng lực cạnh tranh
của mình trong mối tương quan so sánh với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường mục
tiêu, từ đó tìm ra được những lợi thế cơ bản nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
ngân hàng thương mại trên thị trường.

5. Đóng góp mới của luận án
Về mặt lý luận:
Luận án đã phân tích các trường phái quan điểm về cạnh tranh nói chung và năng
lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại nói riêng, hệ thống hóa và làm sáng tỏ các
vấn đề về nâng cao năng lực cạnh tranh để từ đó đưa ra được quan niệm về cạnh tranh
của ngân hàng thương mại.
Đã nghiên cứu hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt nam trên một
số các chỉ tiêu chính và tổng hợp thành 4 nhóm tiêu chí để đo lường năng lực cạnh
tranh làm cơ sở tham khảo cho quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh ngân hàng

(i) Xây dựng các trung tâm bán hàng, trung tâm phê duyệt và hỗ trợ tín dụng tập
trung theo các vùng kinh tế để chuyên môn hóa nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
và tăng trưởng ổn định, bền vững.
(ii) Tiếp tục tập trung phát triển khách hàng cá nhân theo định hướng ngân hàng bán
lẻ và chú trọng phát triển thêm các khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ SME
(Small and medium-sized enterprises).
(iii) Lựa chọn phát triển các sản phẩm để tập trung đầu tư chuyên môn hoá sâu, tránh
tình trạng triển khai tràn lan rất nhiều sản phẩm không tạo ra sự cạnh tranh chuyên
biệt và triển khai phương thức bán gói sản phẩm dịch vụ tiện ích theo chuỗi cung
ứng vừa đảm bảo quản trị rủi ro đồng thời kiểm soát tối ưu hóa lợi nhuận.
(iv) Chú trọng đầu tư sâu vào phần mềm công nghệ để khai thác các tính năng nhằm
tạo ra các sản phẩm dịch vụ tiện ích mới, xuất hiện đầu tiên trên thị trường - có
tính cạnh tranh cao và xây dựng chỉ số đánh giá thực hiện công việc KPI (Key
Performance Indicator) đo lường đánh giá hiệu quả hoạt động tại mọi thời điểm
làm cơ sở quản trị năng lực cạnh tranh.
(v) Xây dựng đội ngũ cổ đông giầu tiềm lực tài chính, có kinh nghiệm hoạt động và
quản lý ngân hàng, minh bạch và cam kết đầu tư – gắn bó lâu dài.
Việc xác định năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cụ thể tại VIB là một
cố gắng mới của tác giả nhưng cũng là điểm khó khăn đối với luận án vì năng lực cạnh
tranh là tổng hợp của nhiều nhân tố và không phải tất cả các nhân tố đó đều chịu tác
tác động trực tiếp của bản thân VIB mà còn có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng đến
năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại. Mặt khác, có những nhân tố không thể
đánh giá bằng các chỉ tiêu định lượng mà chỉ có thể đánh giá một cách định tính dựa
trên hiểu biết, kinh nghiệm công tác lâu năm trong ngành ngân hàng.


7

6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các công

của thế giới quan tư sản đó mà điển hình là Adam Smith và David Ricardo [36]. Phát
triển các kết quả nghiên cứu của Adam Smith, David Ricardo đã đưa ra lý thuyết
lợi thế so sánh để lý giải nguồn gốc thương mại giữa những người sản xuất có lợi
thế tuyệt đối cao và thấp. Theo ông, mỗi một nước đều có cơ cấu các ngành sản
xuất với mức chi phí rẻ và đắt khác nhau. Chỉ cần các nước tiến hành sản xuất loại
hàng hóa có chi phí rẻ tương đối so với loại hàng hóa khác và tiến hành trao đổi
thương mại ngang giá, bình đẳng (hàm ý cạnh tranh tự do) với nhau thì tất cả các
nước đều có nhiều của cải hơn. Tư tưởng về lợi thế so sánh của David Ricardo đã
tạo cơ sở hiểu sâu sắc hơn tác động của trao đổi hàng hóa theo nguyên tắc thị
trường, cạnh tranh đến tăng trưởng của cải của các quốc gia.
Karl Marx đã phát triển lý luận cạnh tranh ở tầm cao hơn, gồm cạnh tranh để
chiếm đoạt giá trị thặng dư, cạnh tranh thông qua cải tiến chất lượng và cạnh tranh
nguồn lực giữa các ngành. Ba mặt đó diễn ra xoay quanh việc trao đổi ngang giá hàng


9

hóa. Trên cơ sở ủng hộ thuyết giá trị - lao động của Smith, Karl Marx đã chỉ ra cơ chế
chuyển hóa giá trị của hàng hóa thành giá trị thị trường, giá cả sản xuất thông qua cạnh
tranh nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành [10].

1.1.2. Quan niệm của trường phái tân cổ điển
Sự khác biệt giữa hai trường phái cổ điển và tân cổ điển trong những nghiên cứu
về cạnh tranh là cơ sở và trạng thái cạnh tranh. Trường phái cổ điển nghiên cứu dựa
trên lý luận về giá trị - lao động ở trạng thái tĩnh, trường phái tân cổ điển nghiên cứu ở
trạng thái động dựa trên tiêu chuẩn hiệu quả (tối đa hóa đầu ra trên cơ sở đầu vào khan
hiếm). Các nhà kinh tế theo trường phái tân cổ điển rất đông đảo, từ những người khởi
đầu như W.S.Jevons (1835-1882), A.Mashall(1842-1924), L.Walras (1834-1910) đến
các nhà kinh tế đương đại. Những luận điểm chính của trường phái này làcạnh tranh
hoàn hảo mang tới hiệu quả và lý luận cạnh tranh theo tổ chức ngành [36].

hưởng lẫn nhau và thúc đẩy phát triển. Trong môi trường cạnh tranh mới, các yếu tố
trên vẫn chịu sự tác động của Nhà nước.
* Lý luận về chiến lược cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp [13]. Michael
E.Porter cho rằng, khi tham gia cạnh tranh quốc tế, doanh nghiệp trải qua 4 giai đoạn:
- Chạy đua các yếu tố sản xuất: đây là giai đoạn cạnh tranh dựa trên những yếu tố
sản xuất cơ bản nào đó để sản xuất với giá hoặc công nghệ thấp, rẻ. Ở giai đoạn này
các doanh nghiệp rất nhạy cảm với tính chu kỳ của kinh tế thế giới và tỷ giá hối đoái.
- Chạy đua đầu tư: lợi thế cạnh tranh dựa trên yêu cầu của doanh nghiệp và năng
lực đầu tư của quốc gia. Các doanh nghiệp tiếp tục cạnh tranh về giá, sản phẩm
được tiêu chuẩn hóa nhưng vẫn lạc hậu về thế hệ công nghệ so với nước khác.
- Chạy đua sáng tạo: doanh nghiệp nội địa có khả năng cạnh tranh ở quy mô lớn
với doanh nghiệp nước ngoài và thành công nhờ sự cải tiến nhanh, không ngừng.
- Chạy đua của cải: cạnh tranh ngành giảm, mục tiêu là tích lũy của cải đã tạo ra.
Các doanh nghiệp trong giai đoạn này mất lợi thế cạnh tranh quốc tế, né tránh cạnh
tranh, hướng về tạo dựng vị thế vững chắc trên thị trường, cải tiến công nghệ chậm lại,
chủ yếu tìm cách sáp nhập, thôn tính nhau.
Theo Michael E.Porter: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh
tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà
doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận
trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”.
Khi doanh nghiệp tham gia cạnh tranh thương mại quốc tế cần phải có “lợi thế
cạnh tranh” và “lợi thế so sánh”, lợi thế cạnh tranh là sức mạnh nội sinh của doanh
nghiệp, của quốc gia, còn lợi thế so sánh tạo cho doanh nghiệp quốc gia đó có thuận
lợi trong sản xuất cũng như trong thương mại; lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh có
quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau, lợi thế cạnh tranh phát triển dựa trên lợi
thế so sánh, lợi thế so sánh phát huy nhờ lợi thế cạnh tranh [37].


11



1.2.2.2. Luận án tiến sĩ kinh tế bảo vệ trong khoảng 10 năm gần đây
Trong 10 năm về đây có một số đề tài luận án tiến sĩ đã bảo vệ thành công và
được công bố viết về năng lực cạnh tranh của NHTMVN, cụ thể:
a/ Về nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam nói chung
Đề tài:“Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập của các ngân
hàng thương mại Việt Nam”của tác giả Trịnh Quốc Trung bảo vệ năm 2004, tại trường


13

Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh [51]. Tác giả luận án đã phân tích những vấn
đề chung về cạnh tranh, hội nhập và kinh doanh ngân hàng qua đó khái quát các đặc
tính của kinh tế thị trường hiện đại và tính tất yếu khách quan của cạnh tranh cũng
như hội nhập. Thực trạng và giải pháp được đề cập có giá trị cách đây 10 năm, đến nay
thực tế đã diễn biến khác nhiều.
Đề tài:“Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Lê Đình Hạc, bảo vệ
năm 2005 tại trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh [9]. Tác giả luận án đã
hệ thống hóa được một số vấn đề mang tính lý luận về cạnh tranh, hội nhập, hoạt động
ngân hàng liên quan đến cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
trong nền kinh tế. Thực trạng và giải pháp được đề cập có giá trị cách đây 9 năm và
cũng đã có nhiều sự thay đổi.
b/Về nâng cao năng lực cạnh tranh của một NHTM Việt Nam cụ thể.
Đề tài:“Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, của tác giả Phan Hồng Quang bảo vệ
năm 2007, tại Viện nghiên cứu thương mại [46],[47]. Luận án đã nêu lên được những
vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của NHTM ở giai đoạn trước khi gia nhập WTO
và phù hợp với NHTM Nhà nước, không phù hợp với ngân hàng thương mại cổ phần.
Đề tài:“Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần

1.3. Những điểm đã thống nhất và những điểm cần nghiên cứu tiếp về năng
lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.3.1. Những điểm đã thống nhất về năng lực cạnh tranh của ngân hàng
thương mại
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về năng lực cạnh
tranh của ngân hàng thương mại đã đi đến thống nhất ở một số điểm sau:
- Cạnh tranh ngân hàng là một môi trường cạnh tranh đặc biệt giữa các đơn vị kinh
doanh tiền tệ với mức độ khác biệt về sản phẩm thấp, tốc độ sao chép nhanh, mức độ
rủi ro cao, chịu sự điều tiết rất lớn của chính sách tài chính, tiền tệ của chính phủ.
Trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập, cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại
càng trở lên gay gắt hơn đòi hỏi ngân hàng thương mại nào cũng phải chú trọng nâng cao
năng lực cạnh tranh.
- Để cạnh tranh thắng lợi cần phải nâng cao năng lực toàn diện phù hợp với môi
trường cạnh tranh, coi trọng năng lực tài chính, chất lượng nguồn nhân lực, nhất là
nhân lực quản lý, công nghệ ngân hàng, mạng lưới, chủng loại và chất lượng sản
phẩm. Môi trường cạnh tranh nhấn mạnh khuôn khổ pháp lý và đối thủ cạnh tranh.
- Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh thống nhất ở phương diện tìm
cách cải thiện các tiêu chí đo lường năng lực và bảo hộ môi trường cạnh tranh
lành mạnh.
- Mỗi quốc gia, mỗi ngân hàng thương mại có phương thức riêng của mình để
nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên các tác giả đều thống nhất ở 3 phương thức:
Tự ngân hàng thương mại nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua phát huy điểm
mạnh cốt lõi và khắc phục điểm còn yếu kém, hệ thống ngân hàng phải được tổ chức
tốt để có thị trường tài chính lành mạnh, vai trò to lớn của chính phủ trong hỗ trợ ngân
hàng thương mại nâng cao năng lực cạnh tranh.
Có những giải pháp chỉ áp dụng ở một ngân hàng thương mại cụ thể hoặc ở
một lĩnh vực hoạt động riêng, chưa có các giải pháp tổng thể. Ở giai đoạn này,
kinh tế thị trường nói chung và ngành ngân hàng nói riêng chuẩn bị để bước vào



hợp tác toàn diện và nhận chuyển giao lợi thế về vốn, kinh nghiệm, công nghệ và năng
lực, mở rộng hệ thống ngân hàng đại lý và nâng cao uy tín trong giao dịch ngân hàng
quốc tế, (iv) Xây dựng đội ngũ cổ đông giầu tiềm lực tài chính, có kinh nghiệm hoạt
động và quản lý ngân hàng, minh bạch và cam kết đầu tư – gắn bó lâu dài, (v) Tiếp tục


17

tập trung phát triển khách hàng cá nhân theo định hướng ngân hàng bán lẻ và các
khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ SME, (vi) Lựa chọn phát triển các sản phẩm để
tập trung đầu tư chuyên môn hoá sâu, tránh tình trạng triển khai tràn lan rất nhiều sản
phẩm không tạo ra sự cạnh tranh chuyên biệt và triển khai phương thức bán gói sản
phẩm dịch vụ tiện ích theo chuỗi cung ứng vừa đảm bảo quản trị rủi ro đồng thời kiểm
soát tối ưu hóa lợi nhuận.

Kết luận chương 1

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và năng lực cạnh tranh của
ngân hàng thương mại nói riêng thu hút được sự quan tâm lớn ở cả trong và ngoài
nước. Đã có rất nhiều trường phái, quan điểm, các nhà khoa học khác nhau nghiên cứu
về năng lực cạnh tranh qua các thời kỳ khác nhau trên thế giới.
Tại Việt nam cũng đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học ở các cấp, nhiều
cuộc hội thảo, luận án tiến sĩ và các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của
ngân hàng thương mại trong các giai đoạn và ở quy mô khác nhau, có những đánh giá,
đề xuất các giải pháp cụ thể khác nhau.
Dựa trên kết quả nghiên cứu tổng quan, luận án đã chỉ ra những khoảng trống cả
về lý luận và thực tiễn nghiên cứu chủ đề cạnh tranh của ngân hàng thương mại cần
phải tiếp tục nghiên cứu hay còn những quan điểm khác nhau cần tiếp tục được giải
quyết.


tư và công ty quản lý quỹ, công ty chứng khoán và bảo hiểm,… là các tổ chức kinh
doanh trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ, được thực hiện một số hoạt động ngân hàng
như là nội dung kinh doanh thương xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ
hạn và làm dịch vụ thanh toán. Như vậy sự canh tranh ở đây đơn thuần chỉ là cạnh
tranh về hoạt động cho vay, tuy nhiên các định chế tài chính phi ngân hàng không thể
đủ sức cạnh tranh vì phạm vi hoạt động đã giới hạn hơn ngân hàng rất nhiều.
-

Cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước và các ngân hàng nước ngoài: Thực


19

tế từ khi mở cửa thị trường tài chính đến nay thì sự cạnh tranh này mới phát sinh. Ban
đầu, nhóm các NHNNg thường lựa chọn phục vụ cho các doanh nghiệp nước ngoài
đầu tư vào Việt nam và tìm kiếm thị trường bán lẻ nội địa nhiều hơn (cho vay tiêu
dùng, cho vay thẻ,…), thị phần thậm chí còn vượt hẳn so với các ngân hàng thương
mại trong nước. Quy trình thực hiện rất bài bản và chuyên nghiệp, hoạt động kinh
doanh hiệu quả và ít rủi ro hơn. Tuy nhiên, ngoài thị trường bán lẻ thì NHNNg không
cạnh tranh được ở các hoạt động cho vay khác cũng như huy động vốn và cung cấp
các dịch vụ thanh toán cho các doanh nghiệp trong nước.
-

Cạnh tranh giữa các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước và các NHTMCP: Đây là

cuộc cạnh tranh chủ yếu trên thị trường với tính gay go và khốc liệt, có ý nghĩa sống
còn đối với các ngân hàng nhằm chiếm lĩnh thị phần, thu hút khách hàng và kết quả là
sản phẩm dịch vụ gia tăng về chất lượng, tiện ích hơn nhưng giá cả lại thấp hơn và có
lợi cho khách hàng hơn. Ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước có lợi thế về vốn, thường
được thành lập trước các NHTMCP nên có quy mô hoạt động và mạng lưới rộng lớn,

bán những sản phẩm đồng nhất (độc quyền tập đoàn thuần tuý) hoặc phân biệt (độc
quyền tập đoàn phân biệt). Đặc điểm của độc quyền tập đoàn là chỉ có ít ngân hàng
cạnh tranh trực tiếp, các ngân hàng phụ thuộc chặt chẽ, mỗi ngân hàng khi ra quyết
định phải cân nhắc cẩn thận xem hành động của mình ảnh hưởng như thế nào tới đối
thủ cạnh tranh và sẽ phải ứng xử như thế nào?
Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế có hai loại cạnh tranh:
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp, giữa
các NHTM trong cùng một ngành, cùng sản xuất, tiêu thụ một loại hàng hoá hoặc dịch
vụ nào đó, trong đó các chủ doanh nghiệp, chủ ngân hàng tìm mọi cách để thôn tính
lẫn nhau, giành giật khách hàng về phía mình, chiếm lĩnh thị trường. Biện pháp cạnh
tranh của hình thức này chủ yếu là cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm
chi phí sản xuất, giá trị cá biệt (giá trị xã hội), thu lợi nhuận siêu ngạch. Kết quả cạnh
tranh trong nội bộ ngành là làm cho kỹ thuật phát triển, điều kiện sản xuất trong một
ngành thay đổi, giá trị hàng hoá được xác định lại, tỷ suất lợi nhuận giảm xuống và
doanh nghiệp nào chiến thắng sẽ mở rộng được phạm vi hoạt động, doanh nghiệp thua
sẽ mất thị phần, thu hẹp phạm vi hoạt động, thậm chí dẫn tới phá sản.
- Cạnh tranh giữa các ngành: Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, các NHTM
trong ngành kinh tế khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn. Biện pháp cạnh tranh
của hình thức này là chuyển dịch vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành có nhiều lợi
nhuận hơn. Cạnh tranh giữa các ngành sẽ đem lại kết quả là các doanh nghiệp, các
NHTM ở các ngành khác nhau với cùng một số vốn bỏ ra chỉ thu được lợi nhuận như
nhau, tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân cho tất cả các ngành.

2.1.3. Đặc điểm cạnh tranh ngân hàng
Đặc điểm chung của cạnh tranh ngân hàng trong lĩnh vực dịch vụ:
- Do sản phẩm dịch vụ có tính vô hình nên khó có thể cố định sức mạnh cạnh
tranh vào hình thái vật chất của sản phẩm. Người mua sản phẩm dịch vụ thường không
nhận biết được đặc tính của sản phẩm bằng cách đo lường các giá trị sử dụng của nó.



trạng “phá rào” dẫn đến đổ vỡ hoặc phá sản ngân hàng. Điều này không chỉ hệ lụy với
riêng từng ngân hàng mà còn cả hệ thống thậm chí kéo theo hệ lụy đến cả nền kinh tế.
Mặc dù các NHTM luôn cạnh tranh gay gắt với nhau để mở rộng thị phần, tranh thủ


22

khách hàng, nhưng trong tác nghiệp chúng phải hợp tác với nhau để thực thi các chức
năng có tính hệ thống như thanh toán bù trừ, cung cấp thông tin khách hàng cho nhau
để giảm thiểu rủi ro khách hàng gian lận, ngăn chặn tác động dây chuyền làm sụp đổ
hệ thống,…Nói cách khác, ngân hàng thương mại cạnh tranh với nhau trong mối quan
hệ biện chứng của các bộ phận hợp thành hệ thống. NHTM nào cũng phải bảo vệ tính
ổn định, minh bạch và giảm thiểu rủi ro của cả hệ thống, nếu không, sự sụp đổ của
ngân hàng này sẽ kéo theo ngân hàng khác sụp đổ. Để hỗ trợ cho nhau, đôi khi các
ngân hàng thương mại phải cứu nguy cho nhau chứ không phải tiêu diệt lẫn nhau.
- Sản phẩm có rất ít sự khác biệt: Hàng hóa mà ngân hàng thương mại cung cấp
cho khách hàng là quyền sử dụng tiền theo thời gian. Phạm vi của sự khác biệt không
nằm ở tiền mà ở quy trình, tiêu chuẩn, thái độ và phương thức cung cấp, huy động tiền,
ở khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng, không về chất lượng, mà thuần túy về số
lượng và độ dài thời gian sử dụng tiền. Nói cách khác, cạnh tranh ngân hàng vừa dựa
vào chất lượng sản phẩm dịch vụ tiện ích, an toàn,…cung cấp cho khách hàng, dựa vào
phương thức, số lượng cung cấp nhiều hơn và thái độ phục vụ gần gũi, thân thiện, tin
tưởng, phong cách giao dịch chuyên nghiệp và thân thiện.
- Cạnh tranh giá cả trong hoạt động ngân hàng cũng khá hạn chế. Bởi vì, lãi suất
đầu vào và đầu ra của các ngân hàng dễ bị san phẳng, thậm chí còn chịu sự điều tiết
của chính phủ. Chính vì vậy, các ngân hàng thường cạnh tranh về quy mô cung ứng và
chi phí cung ứng hơn là giá bán hàng hóa, cạnh tranh dựa vào uy tín, thương hiệu hơn
là sự khác biệt sản phẩm.
- Cạnh tranh của ngân hàng thương mại chịu sự ảnh hưởng nhạy cảm của thị
trường tài chính quốc tế. Cùng với quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế dòng

- Chủ thể cạnh tranh đa dạng: Trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập ngày
nay có nhiều chủ thể phi ngân hàng tham gia cạnh tranh trong kinh doanh hoạt động
ngân hàng. Các chủ thể phi ngân hàng bao gồm: công ty tài chính, các quỹ tín dụng,
các hình thái tiết kiệm như tiết kiệm bưu điện, điện lực, dầu khí, hóa chất, xi
măng,…các doanh nghiệp bảo hiểm, các doanh nghiệp sản xuất (cung cấp tín dụng
thương mại,…). Các định chế tài chính phi ngân hàng, mặc dù không phải là ngân
hàng, không được phép kinh doanh toàn bộ hoạt động như một ngân hàng, nhưng được
phép kinh doanh một hoặc một số hoạt động mang tính ngân hàng. Các định chế này
được thành lập trên cơ sở khai thác lợi thế tiềm năng của họ thông qua quá trình hoạt
động. Những hoạt động ngân hàng có tính phụ thêm trên cơ sở bắt nguồn từ hoạt động
chính, hoặc được thành lập từ ban đầu do không đủ điều kiện để thành lập ngân hàng
mà chỉ được phép hoạt động một vài sản phẩm ngân hàng, chủ thể này có thể sẽ là các
ngân hàng tiềm năng trong tương lai khi đủ điều kiện.


24

Các chủ thể cạnh tranh với các ngân hàng thương mại trong điều kiện hội nhập
không chỉ là các ngân hàng thương mại, các định chế tài chính phi ngân hàng trong
nước mà còn cả các ngân hàng thương mại, các định chế tài chính phi ngân hàng đến
từ một hay nhiều quốc gia khác trên thế giới. Đối với các nước đang phát triển, những
đối thủ đến từ các quốc gia trên thế giới là những ngân hàng, tập đoàn tài chính có
tiềm lực tài chính mạnh, có nhiều năm kinh nghiệm hoạt động ngân hàng trong một
nền kinh tế thị trường, đe dọa xâm chiếm thị phần của các ngân hàng thương mại trong
nước. Mặt khác quá trình hội nhập cũng hình thành nên các tổ chức tài chính khu vực
quốc tế. Các tổ chức này cũng có thể là những đối tác tham gia cạnh tranh với các
ngân hàng thương mại trong nước.
Do đối tượng kinh doanh chủ yếu là các dịch vụ tài chính, liên quan đến tiền tệ và
hoạt động ngân hàng mang tính hệ thống, hơn nữa các hoạt động ngân hàng có tính
liên kết chặt chẽ cao dẫn đến sự cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng có một số đặc

gian nhất định để xã hội kiểm chứng, trước hết về mặt chất lượng sau đó mới là quá
trình xâm nhập dần đến thay thế sản phẩm của doanh nghiệp đã được xã hội thừa
nhận trước đó. Nhưng trong hoạt động ngân hàng thương mại chỉ cần có sự thay đổi
một chút về lãi suất là khách hàng có thể lập tức thay đổi quan hệ giữa ngân hàng
này chuyển qua ngân hàng khác.
- Nếu các ngành kinh tế khác nói chung tạo ra được một sản phẩm mà xã hội thừa
nhận, đương nhiên có một khoảng thời gian tương đối dài để khai thác nó, tạo ra một
khoản lợi nhuận cho mình. Tuy nhiên, nếu có một ngân hàng thương mại nào đó tạo ra
được một dịch vụ được xã hội ưa chuộng, thì gần như ngay lập tức trong một khoảng
thời gian rất ngắn các ngân hàng khác có thể thực hiện dịch vụ đó, làm phân tán mức
độ ưa chuộng của xã hội với dịch vụ đó, đồng thời với quá trình đó là việc phân tán lợi
nhuận của ngân hàng. Sự cạnh tranh này khá phổ biến và xảy ra thường xuyên giữa
các ngân hàng thương mại do đặc điểm dịch vụ của ngân hàng rất dễ bị bắt chước tạo
nên.
- Ngân hàng kinh doanh trong môi trường kinh tế “đóng”. Nó bị hạn chế nhiều so
với các ngành kinh doanh khác. Nhiều ngân hàng phải nản lòng trước các quy định
chặt chẽ của khuôn khổ pháp luật. Nếu các ngành kinh doanh khác được kinh doanh
khá thoải mái bởi hành lang hoạt động tương đối rộng, trong khi đó các hoạt động của
ngân hàng bị giới hạn đến mức nếu ngân hàng không khéo xoay sở thì sẽ khó thực hiện
công việc kinh doanh của mình. Trong không gian “hẹp” đó các ngân hàng cũng phải hoạt
động, vươn lên để tồn tại và phát triển thì sự cạnh tranh càng mang tính sống còn.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status