Ô nhiễm môi trường Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam - Pdf 35

Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG- TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

TS. Phạm Thị Tuyết
Học viện Ngân hàng
Toàn cầu hóa kinh tế khiến các doanh nghiệp, người tiêu dùng, nhà hoạch định chính
sách, các tổ chức phi chính phủ… trên toàn thế giới ngày càng quan tâm hơn tới ảnh hưởng của
nó đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, môi trường xã hội và phúc lợi cộng đồng.
Vì lẽ đó, nếu doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ không có cơ hội tiếp cận thị
trường thế giới. Trước xu hướng này, doanh nghiệp Việt Nam muốn phát triển bền vững luôn
phải tuân theo những chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, đảm
bảo quyền lợi lao động, trả lương công bằng, có kế hoạch, chiến lược trong đào tạo, bồi dưỡng
nhân viên và phát triển cộng đồng… Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến vấn đề ô
nhiễm môi trường- trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số
giải pháp nhằm giúp doanh nghiệp Việt Nam thực hiện tốt trách nhiệm xã hội trong nền kinh tế
hội nhập.
1. Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Thuật ngữ “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” (TNXH) được xuất hiện cách đây khoảng gần
50 năm khi H.R.Bowen, một chuyên gia nghiên cứu tổ chức, đề cập đến trong cuốn sách “Social
responsibilities of the Businessmen” vào năm 1953. Trong cuốn sách này, trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp được Bowen xác định là trách nhiệm của chủ các doanh nghiệp không làm tổn hại
đến các quyền và lợi ích của người khác; chủ doanh nghiệp phải có lòng từ thiện và bù đắp
những thiệt hại do doanh nghiệp mình gây ra khi làm tổn hại cho xã hội… Tuy nhiên, thuật ngữ
này cho đến nay được hiểu dưới nhiều giác độ khác nhau:
Quan điểm thứ nhất, đại diện là Prakash, Sethi… cho rằng: “Trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp là nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ
vọng xã hội đang phổ biến”. Những người theo quan điểm này lập luận rằng doanh nghiệp không
có trách nhiệm với xã hội bởi doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động kinh doanh đã phải đóng
thuế cho nhà nước và vì vậy, doanh nghiệp chỉ có trách nhiệm với cổ đông và người lao động
của doanh nghiệp mà thôi.
Nếu trường phái trên cho rằng trách nhiệm duy nhất của các doanh nhân là tạo ra lợi nhuận tối đa
cho các cổ đông, thì càng ngày càng nhiều người đồng thuận với Liên minh Châu Âu khi cho

giới.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về trách nhiệm xã hội (CSR- Corporate Social Responsibility)
của doanh nghiệp. Một trong các định nghĩa được sử dụng nhiều nhất đó là theo chuyên gia của
Ngân hàng Thế giới (WB): "Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp
đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, hợp tác cùng người lao động, gia đình họ, cộng
đồng và xã hội nói chung để cải thiện chất lượng cuộc sống cho họ, sao cho vừa tốt cho doanh
nghiệp vừa ích lợi cho phát triển”22. Từ những phân tích ở trên có thể khẳng định TNXH của
doanh nghiệp thể hiện trên các phương diện sau:
- Đóng thuế đầy đủ
- Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động
- Bình đẳng trong đối xử với người lao động
- Thực hiện tốt vấn đề vệ sinh, an toàn thực phẩm
- Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
- Thực hiện nghiêm túc vấn đề bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên
1

Michel Capron & Fr. Quairel-Lanoizelée, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, NXB Tri Thức, 2009;
H.R. Bowen, Social Responsability of the Businessman, New York, 1953.
2

Mr. NiGel Twose- WB tại Washington DC. USA - Hội thảo quốc gia về Trách nhiệm xã
hội của DN và khả năng cạnh tranh quốc gia, Hà Nội,12/2002
2


- Tham gia vào các hoạt động từ thiện và trợ giúp xã hội.
2. Lợi ích khi doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội
Khẳng định của ông Martin Neureiter- chuyên gia cao cấp, Trưởng ban phụ trách triển khai ISO
26000: “Chúng ta đừng nên coi trách nhiệm xã hội (CSR) của doanh nghiệp là một gánh nặng
mà nên coi đó là cơ hội, là mục đích tự thân, là một kinh nghiệm để doanh nghiệp hoạt động tốt

tăng đều đặn.
Bốn là, doanh nghiệp có nhiều cơ hội thu hút nhân tài khi thực hiện CSR: Việc thu hút nhân tài
luôn được các doanh nghiệp quan tâm bởi nhân lực giỏi là một trong những yếu tố quan trọng
3


quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Có được những nhân viên tốt đã khó
nhưng việc giữ chân họ là thách thức lớn đối với mỗi doanh nghiệp, nhất là trong nền kinh tế
cạnh tranh. Những doanh nghiệp trả lương thỏa đáng và công bằng, tạo cho nhân viên cơ hội đào
tạo, thăng tiến, biết ghi nhận sự sáng tạo của nhân viên, đóng bảo hiểm y tế đầy đủ và môi
trường làm việc thân thiện… sẽ có khả năng thu hút và giữ được nhân viên tốt.
Người lao động cũng thể hiện ý kiến và quan điểm của mình về CSR theo cách riêng của họ, cứ
ba trong số bốn nhân viên được hỏi cho biết, họ sẽ “trung thành” hơn với ông chủ nào luôn giúp
đỡ và có trách nhiệm với cộng đồng địa phương. Kết quả của nhiều nghiên cứu thực tế tại Bắc
Mỹ đã chứng minh sự liên hệ mật thiết giữa việc thực thi CSR và khả năng thu giữ người tài của
doanh nghiệp. Lý do được nêu ra là những người giỏi, có uy tín thường muốn làm việc ở nơi mà
họ nghĩ là tốt trong xã hội và thấy tự hào.
Năm là, thực hiện tốt CSR giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh và thực hiện tốt hơn
pháp luật lao động. Ông Patrick Gilaber- Trưởng đại diện Unido tại Việt Nam đánh giá: “Chúng
ta đang chứng kiến sự thay đổi của người tiêu dùng trên thế giới, CSR của doanh nghiệp ngày
càng quan trọng và nó khẳng định năng lực hoạt động của chính các doanh nghiệp trong nước và
trên thị trường quốc tế. Phát triển cộng đồng là một mối quan hệ không thể tách rời trong sự phát
triển của doanh nghiệp, nhưng hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam lại chưa đủ khả năng, đặc biệt
là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên họ chưa tận dụng được dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài”3. Điều này phản ánh rõ nhất lợi ích mang lại nếu doanh nghiệp biết phát triển cộng đồng.
3. Thực trạng ô nhiễm môi trường tại Việt Nam trong thời gian qua
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu với kinh tế khu vực và thế giới, các doanh
nghiệp Việt Nam buộc phải có quan hệ với các đối tác nước ngoài, phải thực hiện những quy
định về môi trường, về TNXH theo quy chuẩn quốc tế như Tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội SA
8000 và WRAP; Hệ thống quản trị môi trường ISO 14000; Hệ thống quản lý an toàn và sức khoẻ

và dự báo đến năm 2015, con số này sẽ là gần 70.000 tấn. Ông Lê Văn Kiều, nguyên Chánh
Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng: “Các nước trong khu vực đều đã triển khai quy
định về trách nhiệm doanh nghiệp trong thu hồi sản phẩm thải bỏ. Việt Nam cũng cần bắt kịp với
xu hướng này, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ như hiện nay…”5. Trong
cấu thành giá sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm của các tập đoàn lớn đã có tính đến 10% chi
phí cho thực hiện trách nhiệm môi trường. Vì vậy, triển khai quy định về sản phẩm thải bỏ là rất
cần thiết, Việt Nam cần nhanh chóng áp dụng và sửa đổi dần căn cứ theo nhu cầu thực tiễn.
Ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp cũng rất nghiêm trọng, gần 75% số
dân Việt Nam sinh sống ở nông thôn, với cơ sở hạ tầng phần lớn lạc hậu, các chất thải của con
người và gia súc không được xử lý, thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm
nguồn nước về hữu cơ và sinh vật không ngừng tăng cao. Nhiều nơi do các hộ dân nuôi trồng
thuỷ sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, các khu chế biển thuỷ hải sản đông lạnh không tuân theo quy
trình kỹ thuật đã gây ra nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước. Một phần khiến môi trường
nước ở nông thôn bị ô nhiễm do người nông dân dùng không đúng cách và không hợp lý các hoá
chất nông nghiệp (thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ,….) thiếu các phương tiện vệ sinh cơ sở hạ tầng
phục vụ sinh hoạt nên số hộ gia đình dùng nước đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh chỉ đạt khoảng 30%40%, và chỉ có khoảng 20%- 30% số hộ sử dụng công trình vệ sinh đạt tiêu chuẩn.
Cùng với sự phát triển của các làng nghề, hậu quả về môi trường do các hoạt động sản xuất làng
nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng. Tình trạng ô nhiễm không khí, chủ yếu là do nhiên
liệu sử dụng trong các làng nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO2, SO2 và Nox thải ra trong
4

/>
luong/6763300.epi
5

/>
luong/6763300.epi

5


được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là khá phổ biến, từ đó làm hạn chế hiệu quả
điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế. Đó là chưa kể đến văn bản
quá nhiều, rất dễ dàng gây sự hiểu lầm trong tổ chức, thực hiện ở cấp dưới.
Hai là, quyền hạn pháp lý của các tổ chức bảo vệ môi trường, nhất là của lực lượng cảnh sát môi
trường chưa thực sự đủ mạnh, nên đã hạn chế hiệu quả hoạt động nắm tình hình, phát hiện, đấu
tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Các cơ sở pháp lý, chế tài
xử phạt đối với các loại hành vi gây ô nhiễm môi trường và các loại tội phạm về môi trường vừa
thiếu, vừa chưa đủ mạnh, dẫn đến hạn chế tác dụng giáo dục, phòng ngừa, răn đe đối với những
hành vi xâm hại môi trường. Điển hình như vụ vi phạm pháp luật về môi trường của Công ty

6


Vedan (Đồng Nai) làm ảnh hưởng đến đời sống lâu dài của người dân, nhưng Công ty cũng chỉ
phải nộp hành chính 267,5 tỷ đồng và nộp truy thu tiền phí bảo vệ môi trường là hơn 127,2 tỷ
đồng mà không hề bị xử lý hình sự. Hay vụ Công ty cổ phần Men thực phẩm Mauri La Ngà
(Đồng Nai), nước thải công ty gây chết cá bè, hàng trăm người dân kéo đến công ty yêu cầu
ngừng xả thải. Cảnh sát môi trường, Công an Đồng Nai phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi
trường, UBND huyện Định Quán kiểm tra, xử phạt 32 triệu đồng và tạm đình chỉ hoạt động của
công ty để xử lý môi trường. Tại Hải Phòng, nhà máy chế biến khoáng sản (thuộc Công ty cổ
phần Kinh doanh chế biến hàng xuất khẩu Đà Nẵng) xả chất thải gây ô nhiễm môi trường, ảnh
hưởng cuộc sống người dân nhưng chưa bị xử lý…
Ba là, các cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đối với công tác bảo
vệ môi trường, dẫn đến buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát về
môi trường. Điển hình là sự kiện Công ty Vedan bị bắt quả tang xả thẳng nước thải chưa xử lý
vào sông Thị Vải liên tục 14 năm, chỉ thực sự bị xử lý khi đã “giết chết” dòng sông. Công tác
kiểm tra về môi trường của các cơ quan chức năng đối với các cơ sở sản xuất dường như vẫn
mang tính hình thức, hiện tượng “phạt để tồn tại” còn phổ biến. Từ năm 2007 đến nay, chỉ có
một vụ vi phạm môi trường nhập phế liệu nguy hại được đưa ra khởi tố về hành vi buôn lậu và
phải nhờ cơ quan cảnh sát điều tra kinh tế khởi tố.

- Chính Phủ cần giao cho các Bộ, Ban, Ngành có kế hoạch truyền thông, tuyên truyền, phổ biến
rộng rãi, làm cho tất cả các doanh nghiệp, trước hết là các chủ doanh nghiệp hiểu về TNXH của
doanh nghiệp. Điều quan trọng là, làm sao để việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp trở thành
động cơ bên trong của các doanh nghiệp, được xem là hành vi đạo đức và được điều khiển bằng
động cơ đạo đức từ những người đứng đầu doanh nghiệp. Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về
TNXH, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường, biện pháp khắc phục, bài học kinh nghiệm từ các
quốc gia khác trên thế giới…
- Cuộc bình chọn và trao giải “Doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội” do VCCI chịu
trách nhiệm cần được phổ biến rộng rãi, quy định cụ thể các tiêu chí xét thưởng để các doanh
nghiệp phấn đấu. Doanh nghiệp được nhận thưởng sẽ được cấp chứng nhận về thực hiện tốt
TNXH trên các sản phẩm, dịch vụ của mình.
- Nâng cao nhận thức cho khách hàng, khuyến khích người tiêu dùng chỉ sử dụng những sản
phẩm, dịch vụ rõ ràng về nguốn gốc, được kiểm định và các sản phẩm có chứng nhận doanh
nghiệp thực hiện tốt TNXH. Xúc tiến thành lập Hiệp hội người tiêu dùng Việt Nam với tôn chỉ là
bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng; thúc đẩy doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm sạch,
chất lượng cao và an toàn, không gây ô nhiễm; không mua hàng hoá của những doanh nghiệp không
thực hiện tốt các nội dung cơ bản của TNXH, trong đó có nội dung liên quan đến an toàn vệ sinh
thực phẩm và ô nhiễm môi trường.
Thứ hai, nhóm giải pháp về pháp lý
- Chính Phủ cần xây dựng một hành lang pháp lý bắt buộc các doanh nghiệp phải thực thi TNXH
một cách đầy đủ và nghiêm túc. Khung pháp lý chính là biện pháp có hiệu lực nhất đối với việc
thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; đồng thời, là giải pháp hỗ trợ đắc lực cho giải
pháp về đạo đức, làm cho các động cơ đạo đức thường xuyên được củng cố và ngày càng có hiệu
lực trên thực tế. Chính phủ cần phải hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về môi trường, khắc
phục nhanh chóng sự chồng chéo, thiếu đồng bộ như hiện nay. Bên cạnh đó có những biện pháp
mạnh tay như thiết lập chế tài và quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Bộ luật Hình
sự, đối với những trường hợp vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thực hiện việc trao
quyền rõ ràng, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ cụ thể cho từng cấp để thực hiện việc kiểm
soát vấn đề ô nhiễm môi trường từ các khu công nghiệp, các làng nghề… gây ra.
- Chính phủ cũng nên ban hành một Nghị định hướng dẫn thi hành các quy định về quản lý môi

này.
- Chính phủ nên giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Bộ Lao động- Thương binh và Xã
hội, Ngân hàng Nhà nước cùng xây dựng cơ chế, chính sách ưu tiên cho các doanh nghiệp vay
vốn với lãi suất ưu đãi để đầu tư công nghệ thân thiện với môi trường, đầu tư mua sắm phương
tiện xử lý rác thải, nước thải và khí thải, đầu tư thực hiện các tiêu chuẩn môi trường quốc tế và
các bộ CoC quốc tế về quản lý môi trường (ISO 14000, …) dưới sự giám sát chặt chẽ của Chính
Phủ.
Trong thời đại toàn cầu hóa, uy tín doanh nghiệp không phải chỉ tác động đến bản thân doanh
nghiệp mà nó còn là đại diện bộ mặt của quốc gia trong mắt bạn bè trên toàn thế giới. Chính vì
vậy, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không phải là bề nổi, không chỉ đơn giản là một khía
cạnh “cộng thêm” mà là bản chất của doanh nghiệp. Nói cách khác, doanh nghiệp càng có trách
nhiệm xã hội bao nhiêu, càng có khả năng sinh lợi nhiều bấy nhiêu và ngược lại. Và vì trách

9


nhiệm xã hội là bản chất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp phải thể hiện trách nhiệm xã hội
của mình một cách toàn diện nhằm chung sức xây dựng cộng đồng trong thời đại mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ Luật lao động của nước CHXHCN Việt Nam (Bộ luật lao động số 35-L/CTN ban hành
ngày 5/7/1994; Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật lao động số 35/2002/QH10 ngày
19/4/2002 và số 74/2006/QH11 ngày 12/12/2006).
- Luật Bảo vệ Môi trường của nước CHXHCN Việt Nam (Luật số 29-L/CTN ngày 10/1/1994 và
số 52/2005/QH11 ngày 12/12/2005).
- TS. Lê Thanh Hà, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực lao động- Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 09/2006.
- TS. Lê Thanh Hà (Chủ nhiệm), Các giải pháp thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế, Đề tài cấp Bộ
mã số CB 2007-01-04 của Bộ LĐ-TB-XH, Hà Nội, 2008.
- Nguyễn Mạnh Quân (2007), “Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp”, NXB ĐHKT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status