TRẠNG THÁI TƯƠNG TƯ TRONG THƠ CỦA XUÂN DIỆU VÀ NGUYỄN BÍNH - Pdf 35

TRẠNG THÁI TƯƠNG TƯ TRONG THƠ CỦA
XUÂN DIỆU VÀ NGUYỄN BÍNH

I. Lời nói đầu
Ca dao Việt Nam có câu :
"Hôm qua anh đến chơi nhà
Thấy mẹ nằm võng thấy cha nằm giường
Thấy em nằm đất anh thương..."
Tình thương yêu thế là nảy nở. Thật đơn giản và hồn nhiên. Nhưng chắc
hẳn chúng ta cũng không lạ gì câu thơ của Xuân Diệu :
" Núi cao chót vót chon von
Anh xây xây mãi chưa tròn tình yêu ".
(Là)
Phải thừa nhận một điều rằng tình yêu là vấn đề muôn thuở. "Làm sao cắt

1


nghĩa được tình yêu!" (Xuân Diệu) cũng như những cung bậc của tình yêu, đặc
biệt là trạng thái tương tư.
Mã Giang Lân định nghĩa: "Tương tư là nhớ nhau. Trai gái nhớ nhau". Mà
cái nỗi nhớ ấy có khi e ấp, kín đáo, có khi da diết, nồng nàn, khi thì dâng trào
mãnh liệt... đôi lúc nó cũng kèm theo những nỗi muộn phiền, xót xa , hờn
trách...
Thơ ca là nơi thể hiện cảm xúc con người. Chính vì thế mà thi nhân đem nỗi
lòng của mình vào mà tỏ bày, gửi gắm... Nỗi nhớ tương tư đã đi vào câu hát,
những khúc ca dao và đến phong trào Thơ mới 1932 - 1945, một thời kỳ vàng
son rực rỡ của Văn học Việt Nam với sự "giải phóng" của cảm xúc, cái tôi cá
nhân và tinh thần thời đại, thì cái nỗi nhớ ấy có dịp được thể hiện, phô bày,
giải phóng các cung bậc của mình. Khi nhắc đến "tương tư", ta không thể nào
không nhắc đến nhà thơ “chân quê” - Nguyễn Bính và “Ông hoàng thơ tình”

Khi nhóm “Nhân văn - giai phẩm” đi theo đường lối chống Đảng , chống
Chủ nghĩa xã hội trong văn nghệ, Xuân Diệu đã viết một loạt bài tiểu luận ứng
chiến in thành tập "Những bước đường tư tưởng của tôi (1958)".
Xuân Diệu đã nhiều lần thăm Liên Xô và dịch nhiều trường ca , nhiều bài
thơ của các nhà thơ nổi tiếng (Ê-xê-nhin, thơ Puskin,...), đồng thời giới thiệu
và dịch thơ ba nhà thơ lớn Hung-ga-ri, những nhà thơ Bun-ga-ri, Cu Ba..., dự
hội nghị trù bị các nhà văn Á Châu ở Niu - đê - li (1958) và thăm Ấn Độ hai

3


tháng, giới thiệu và dịch thơ của Ta-go. Ông đã tham gia vào nhiều hoạt động
chính trị quan trọng và cũng là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn Lâm nghệ thuật
Cộng Hòa Dân Chủ Đức.
b. Sự nghiệp sáng tác
Thơ: Thơ thơ (1938, 1939, 1968, 1970), Gửi hương cho gió (1945, 1967),
Ngọn Quốc kỳ (1945, 1961), Hội nghị non sông (1946), Dưới sao vàng
(1949), Sáng(1953), Mẹ con (1954), Ngôi sao (1955), Riêng chung (1960),
Mũi Cà Mau - Cầm tay (1962), Một khối hồng (1964), Hai đợt sóng (1967),
Tôi giàu đôi mắt(1970),Hồn tôi đôi cánh (1976),Thanh ca (1982).
Văn xuôi: Phấn thông vàng (1939, truyện ngắn), Trường ca (1945, bút
ký), Miền Nam nước Việt (1945, 1946, 1947, bút ký), Việt Nam nghìn dặm
(1946, bút ký), Việt Nam trở dạ (1948, bút ký), Ký sự thăm nước Hung
(1956, bút ký),Triều lên (1958, bút ký).
Tiểu luận phê bình: Thanh niên với quốc văn (1945), Tiếng thơ (1951,
1954), Những bước đường tư tưởng của tôi (1958, hồi ký), Ba thi hào dân
tộc (1959)...
Dịch thơ: Thi hào Nadim Hitmet (1962), V.I. Lênin (1967), Vây giữa
tình yêu (1968), Việt Nam hồn tôi (1974), Những nhà thơ Bungari (1978,
1985), Nhà thơ Nicôla Ghiđen (1982)..

nhân (1941), Một nghìn cửa sổ (1941), Người con gái ở lầu hoa (1942),
Mười hai bến nước (1942), Mây Tần (1942), Tỳ bà truyện (1944), Đồng
Tháp Mười (1955), Gửi người vợ miền Nam (1955), Trông bóng cờ bay

5


(1957, truyện thơ), Nước giếng thơi (1957, thơ tuyển), Tiếng trống đêm
xuân (1958, truyện thơ), Tình nghĩa đôi ta (1960), Đêm sao sáng
(1962)…Ngoài ra ông còn viết truyện: Ngậm miệng (1940),Sang máu
(1947)...và kịch thơ: Bóng giai nhân (1942-cùng với Yến Loan), Nguyễn
Trãi (1943), ...kịch bản chèo: Cô Son (1961), Người lái đò sông Vị
(1964)...và lý luận sáng tác: Cách làm thơ lục bát (1955)…
II. So sánh trạng thái tương tư trong thơ Xuân Diệu và Nguyễn Bính
1. Trạng thái tương tư trong thơ Xuân Diệu.
Xuân Diệu từng viết rằng:
“Làm sao sống được mà không yêu
Không nhớ không thương một kẻ nào”
(Bài thơ tuổi nhỏ)
Tương tư không phải là vấn đề của một người, một lớp người, mà là của
tất cả những ai đã biết yêu. Người yêu thơ Xuân Diệu vì cái hay của thơ mà
trong cái hay ấy có cái đồng cảm xúc đối với mình và cái ý thơ lạ lạ:
“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi.”
(Nhị hồ)

6


Các trạng thái tương tư trong thơ Xuân Diệu lại phong phú và độc đáo,

Nỗi nhớ mong có dịp được khơi dậy để rồi mong nhớ, “từng nhà mở cửa”
vì tương tư nắng, và ánh nắng ấy ắt hẳn sẽ làm ấm lòng “từng nhà” để đáp trả
nỗi tương tư. Nhưng còn “ta”, người mà “ta” tương tư vẫn biền biệt, thế nên
chàng trai biết trước mình “sắp nhớ nhung” và rồi cũng sắp cảm thấy lạnh
lùng. Biết trước kết quả rồi mà vẫn nhớ. Mà càng nhớ thì nỗi nhớ lại càng tăng.
Trong “Tương tư chiều”, nỗi nhớ lại càng thiết tha, day dứt:
“Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm
Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em”
Nhưng rồi thì sao?
“Anh một mình, nghe tất cả buổi chiều

8


Vào chậm chậm ở trong hồn hiu quạnh”
Nỗi nhớ không có người giải tỏa, không có người đáp trả, vì thế mà nó
càng trào dâng mãnh liệt:
“Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!
Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi
Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời,
Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm”
Tất cả nỗi nhớ lần lượt hiện ra dồn dập, chàng trai nhớ người yêu, xong lại
nhớ tới mình trong những ngày tháng đã qua, nhớ và hoài vọng: một đôi môi,
một đôi mắt “đang nhìn anh đăm đắm”.
Trong tình yêu, nỗi nhớ như một sợi dây nối liền hiện thời và dĩ
vãng.Trong những giây phút tương tư, chàng trai nhớ người yêu và mặc dù
không biết người yêu có nhớ hay không, những ngày đã trôi qua đậm đà kỉ
niệm:
“Em có nhớ một buổi chiều yên tịnh

Thiếu nữ làm duyên, đứng mỉm cười”
(Nụ cười xuân)
Chỉ một hành động chờ đợi cũng đủ để nói lên nỗi nhớ: nhớ thì mới mong
đợi, ngóng trông:
“Em ở bên mình ta ngó say,
Song le bên ấy với bên này
Cũng xa như ngững bờ xa cách
Không có thuyền qua, không cánh bay”
(Bên ấy bên này)
Nỗi nhớ mênh mông không bến bờ. Nhưng bờ xa cách vẫn tồn tại, vẫn
cách ngăn “bên ấy” với “bên này”, không phải là “Thôn Đông” với “Thôn
Đoài” của Nguyễn Bính, mà là hai bờ xa cách của tâm hồn. Người tương tư
đơn phương mà trông ngóng.
c. Tình si
Có gì khó chịu bằng nỗi tương tư? Có gì làm con người ta “si” bằng nỗi

11


tương tư? Tương tư mà không được giải tỏa, thì nó càng ray rứt, càng mênh
mông, càng dằn vặt kẻ si tình; Xuân Diệu thở than nỗi lòng thay cho những
người đã từng yêu, từng nhung nhớ, một trạng thái mãnh liệt nhất của tương
tư:
“Ôi! Tình si
Không có một giờ yên ổn!”
(Thở than)
Phải! Ca dao Việt Nam đã hơn một lần nói về trạng thái ấy:
“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa, như ngồi đống than”
Thì bây giờ, Xuân Diệu, ông hoàng thơ tình, nhà thơ trẻ tuổi nhạy cảm và



Xưa nay, nếu hễ ai yêu mà cũng đến đươc với nhau thì hẳn tình yêu cũng
chẳng còn là vấn đề muôn thuở. “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở ”(Hồ Dzếnh)câu thơ ấy cũng không hẳn là không có nguyên do.
Nhưng có ai không xót xa khi tình tan vỡ? Có ai không đau lòng khi thầm
ôm một mối tương tư?
“Vì sao giáp mặt buổi đầu tiên
Tôi đã đày thân giữa xứ phiền
Không thể vô tình qua trước cửa
Biết rằng gặp gỡ, đã vô duyên”
(Vì sao)
Nỗi thắc mắc ấy làm cho người đọc xót xa. Có biết bao tình cảm được cho
đi mà người cho không hề được nhận lại! Nhưng không thể trách ai ở đây cả.
Tình yêu cần được tự do. Yêu là làm cho người mình yêu được hạnh phúc. Đó
mới là tình yêu lý tưởng. Nhưng kẻ si tình đâu dễ dàng thoát khỏi nỗi tương tư,
dẫu “Biết rằng gặp gỡ đã vô duyên”, nhưng có mấy ai ngăn được dòng cảm
xúc. Mỗi người đều có một trái tim.
f. Mơ tưởng
Dường như khi tương tư, khi không còn gì để nhớ nữa thì người ta sẽ
mơ, sẽ tưởng tượng ra những điều hạnh phúc khác để thỏa lòng mong nhớ.
Nàng Kiều ngày xưa cũng “nhớ ít tưởng nhiều” chàng Kim Trọng, và đến

14


Xuân Diệu, nhà thơ đã hóa thân vào những nhân vật tình sử:
“Tôi tưởng tôi là Đường Minh Hoàng
Trong cung nhớ nàng Dương Quý Phi”
(Nhị hồ)
g. Buồn, sầu, u uất, khắc khoải

( Được giận hờn nhau! Sung sướng bao nhiêu! )

16


Hay hai câu thơ trong bài thơ “Xuân đầu” mang một sự nuối tiếc tột cùng:
“ Trời ơi, trời ơi, đâu rồi tuổi nhỏ?
Hôm xưa đâu rồi, trời ơi! trời ơi!”
Tương tư vì lỡ duyên là thế. Còn thương nhớ là còn xót xa. Và khi xót xa
người ta thường trách móc, nhưng Xuân Diệu có lúc trách móc rất nhẹ nhàng,
sâu kín:
“ Một tối bầu trời đắm sắc mây
Cây tìm nghiêng xuống nhánh hoa gầy
Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ
Nghiêng xuống làn rêu, một tối đầy”
(Với bàn tay ấy)
Tình cảm càng sâu đậm, người ta càng hay nghi ngờ. Người con gái trong
“Đơn sơ” nghi ngờ và thốt lên một cách não nuột:
“ Mùa xuân khó chịu quá đi thôi!
Cảnh đẹp làm em thấy lẻ loi
Chim hót xui em nghe quạnh quẽ

17


Hay là anh đã bỏ em rồi? ”
i. Chơi vơi
Đây là trạng thái tương tư đặc biệt nhất mà Xuân Diệu diễn tả rất thành
công với hai câu thơ chỉ toàn thanh bằng:
“ Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

những thanh điệu, màu sắc, cung bậc khác nhau mà người đọc không dễ gì
quên được. Trong thơ Nguyễn Bính, ta bắt gặp: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn
Đông”
a. Nhớ nhung
“ Tôi lạnh đầu sông giá ngọn nguồn
Nhớ nhà thì ít nhớ em luôn”

19


( Một trời quan tái)
Nỗi nhớ được kể một cách chân thật, rõ ràng. Nhưng cũng ở bài thơ ấy,
đoạn cuối nỗi nhớ tê tái hơn:
“ Chiều nay, thương nhớ nhất chiều nay
Thoáng bóng em trong cốc rượu đầy
Tôi uống cả em và uống cả
Một trời quan tái mấy cho say!”
(Một trời quan tái)
Nhưng có lẽ nỗi nhớ trong “Tương tư” là kín đáo và ý nhị hơn cả. Từ cái
chuyện thôn Đoài nhớ thôn Đông mà bắc sang nỗi nhớ của con người:
“ Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người”
Nhưng tương tư không chỉ là nhớ người yêu. Vì nhớ người yêu thì sẽ nhớ
tới những gì liên quan đến người yêu đó. Nguyễn Bính nhớ về quá khứ:
“Cái ngày cô chưa có chồng
Đường gần tôi cứ đi vòng cho xa”

20



Khi tương tư, đợi chờ mà không gặp được người mình yêu, chàng trai bối rối,
bồn chồn:
“Mấy hôm nay chả thấy nàng,
Giá tôi cũng có tơ vàng mà hong.”
(Người hàng xóm)
c. Bệnh tương tư
Nhớ mong, sầu muộn, đợi chờ, thấp thỏm,..làm cho con người ta nhuốm
bệnh, bệnh tương tư:
“Gió mưa là bệnh của giời

22


Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.
Nỗi sầu bệnh ấy làm cho chàng trai thao thức:
“Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho”
(Tương tư)
Mà cái bệnh tương tư nhuốm vào thì phải chịu sầu ngao ngán. Trong “Qua
nhà”, chàng trai ngao ngán đến nỗi:
“Từ ngày cô đi lấy chồng
Gớm sao có một quãng đồng mà xa
Bờ rào cây bưởi không hoa
Qua bên nhà thấy bên nhà vắng teo
Cảnh vật cũng bị cái bệnh tương tư làm cho thê lương, quạnh quẽ. Trong
“Người hàng xóm”, nỗi sầu ấy dâng cao đến tột cùng khi biết người mình yêu
đã chết:
“Bên hiên vẫn vắng bóng nàng,
Rưng rưng tôi gục xuống bàn rưng rưng.”
…“Đêm qua nàng đã chết rồi,

yêu mà không được đáp trả:
“Tình tôi mở giữa mùa thu,
Tình em lẳng lặng kín như buồng tằm.”
f. Mơ tưởng, mơ mộng
Mơ mộng là bản chất của kẻ đa tình, và nó cũng nảy sinh khi người ta
yêu và nhung nhớ. Nguyễn Bính tạo một sự mơ mộng rất dễ thương:
“Giá đừng có giậu mồng tơi,
Thế nào tôi cũng sang chơi nhà nàng
Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng
Có con bướm trắng thường sang bên này.
(Người hàng xóm)
Có đôi khi những mơ tưởng cũng được thể hiện một cách bình dị và dân dã:

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status