BỘ GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ- HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MÍNH
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
Somnith SYLIBOUNLIENG
XÂY DỰNG VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN
QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH
NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
Chuyên ngành : Quản lý Hành chính công
Mã số
: 62 34 82 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
HÀ NỘI – 2014
Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
Người hướng dẫn khoa học :
PGS.TS. Lưu Kiếm Thanh
PGS.TS. Vũ Trọng Hách
Phản biện 1 : .........................................................................................................
........................................................................................................
Trong những năm qua tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, hoạt động xây
dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong các cơ quan hành chính nhà
nước đã rất được quan tâm, nhiều công trình khoa học liên quan đến việc ban
hành văn bản hành chính, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính
nhà nước đã được công bố; pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật
cũng không ngừng được hoàn thiện. Văn bản quy phạm pháp luật được xem là
công cụ quan trọng để đảm bảo hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động điều hành
nền hành chính nhà nước, góp phần ổn định, phát triển các hoạt động kinh tế xã hội. Trong văn kiện Đại hội Đảng Nhân dân cách mạng Lào lần IX, năm
2011 đã xác định: “Điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và
hoàn chỉnh hệ thống pháp luật đồng thời tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
trong mọi hoạt động”.
Trong điều kiện đẩy mạnh quá trình đổi mới hiện nay, Nghị quyết Hội
nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào lần thứ IX
(năm 2011) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào, mà trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính nhà nước,
được đề ra là một trong những quan điểm cơ bản để xây dựng và kiện toàn bộ
máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, tăng cường hiệu lực, hiệu quả. Đó là:
“Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và
bằng pháp luật”.
Hiến pháp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào năm 2003 cũng quy định
tại Điều 10: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Mặc dù vậy, cho đến nay thực tế quản lý xã hội
bằng pháp luật và việc điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ xã hội tại Cộng
hòa dân chủ nhân dân Lào vẫn còn nhiều hạn chế. Điều này đòi hỏi Nhà nước
Lào phải xây dựng và hoàn thiện được hệ thống pháp luật đồng bộ, khoa học,
hoàn chỉnh. Mặt khác, phải đảm bảo hệ thống pháp luật được thực hiện một cách
nghiêm chỉnh từ trung ương xuống cơ sở, đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội
Mà đây chỉ là những cơ sở ban đầu để dần hoàn thiện hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật và những vấn đề xung quanh loại văn bản này.
`
Điều này có thể lý giải tại sao trên thực tế hoạt động xây dựng và ban
hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước vẫn còn
nhiều tồn tại và bất cập như khái niệm, phân loại, thẩm quyền ban hành, trình tự
ban hành các văn bản còn chưa thống nhất. Và đó là một trong những nguyên
nhân cơ bản gây ra tình trạng các cơ quan hành chính nhà nước vẫn ban hành
văn bản sai thể thức, sai thẩm quyền, thậm chí còn sai nội dung, thiếu tính khả
thi gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới hiệu lực và hiệu quả hoạt động quản lý nhà
nước. Do đó, việc nghiên cứu một cách cơ bản có hệ thống về hoạt động xây
dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà
nước là một yêu cầu cấp bách và lâu dài đặt ra hiện nay cho nước Cộng hòa dân
chủ nhân dân Lào.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên, thì vấn đề “Xây dựng
và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước
tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” là rất quan trọng và cần thiết phải tiến hành
nghiên cứu.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án:
- Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng và ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Cộng hòa dân chủ nhân dân
Lào, qua đó làm rõ những kết quả, những hạn chế và nguyên nhân trong xây
dựng văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Lào để đề
xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng và ban
hành văn bản quy phạm pháp luật của chính các cơ quan này.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án có những nhiệm vụ cơ bản sau:
+ Thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động xây dựng và ban
hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Cộng hòa
dân chủ nhân dân Lào giai đoạn 2006 đến 2012.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin, quan điểm của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, của Nhà nước Cộng hòa
dân chủ nhân dân Lào về nhà nước và pháp luật, về cải cách hoàn thiện bộ máy
nhà nước, về cải cách hành chính nhà nước, về hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Luận án sử dụng phương pháp luận của triết học Mác – Lênin, nghiên cứu
đề tài theo quan điểm hệ thống, khách quan, toàn diện, quan điểm lịch sử cụ thể,
quan hệ giữa cái chung – cái riêng, cái phổ biến – cái đặc thù, nguyên nhân – kết
quả, v.v…
-Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử, tác giả luận án lựa chọn các phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp
với từng nội dung trong luận án.
+Tác giả sử dụng phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích, tổng
hợp các tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học đã công bố để đánh giá tình
hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
+Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp diễn
dịch và quy nạp để nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, nội dung, vai trò, yêu cầu
và các yếu tố bảo đảm cho hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước. Phương pháp phân tích, so sánh,
tổng hợp được áp dụng khi tìm hiểu hoạt động xây dựng và ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở một số quốc gia và bài
học kinh nghiệm vận dụng cho Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
+Tác giả sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích khái quát các
tư liệu, số liệu để đánh giá thực trạng hoạt động xây dựng và ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Cộng hòa dân chủ nhân
quan hành chính nhà nước, chỉ rõ thực trạng, nguyên nhân làm hạn chế chất
lượng xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành
chính nhà nước ở Lào giai đoạn 2006 – 2012, trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động này ở Lào trong giai đoạn hiện
nay.
- Về thực tiễn, luận án là tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng
dạy học tập trong môn học soạn thảo văn bản các trường đại học luật, đại học
hành chính, làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nghiên cứu hoặc hoạt động
thực tiễn tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu, kết luận, tài liệu
tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương, cụ thể:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài và
những vấn đề đặt ra cần phải tiếp tục nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở khoa học về xây dựng và ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Chương 3: Thực trạng xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
của các cơ quan hành chính nhà nước tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Chương 4: Định hướng và giải pháp về xây dựng và ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước tại Cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay
Chương I
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN
CỨU
1.1. Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.1.1. Những công trình nghiên cứu ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
ở Việt Nam về văn bản hành chính, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan
hành chính nhà nước như: sách “ Văn bản và công tác văn bản trong cơ quan
hành chính nhà nước” ( 2013), của PGS.TS.Văn Tất Thu do Nhà xuất bản chính
trị quốc gia xuất bản; luận án tiến sĩ “ Pháp điển hóa pháp luật về ban hành văn
bản quy phạm pháp luật”, của Nguyễn Thị Minh Hà thực hiện ở Viện nghiên cứu
Nhà nước và Pháp luật năm 2006; đề tài “ Quy trình ban hành văn bản quy phạm
pháp luật” ( 1998), thuộc dự ánVIE 94/003; sách “ Soạn thảo và xử lý văn bản
quản lý nhà nước”, của tác giả Nguyễn Văn Thâm, do Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia xuất bản năm 2001; sách “ Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm
pháp luật”, của tác giả Lưu Kiếm Thanh do Nhà xuất bản Thống kê xuất bản
năm 2003, có sửa chữa, bổ sung và tái bản năm 2005; sách “ Hướng dẫn soạn
thảo văn bản lập quy”, của tác giả Lưu Kiếm Thanh, do Nhà xuất bản Thống kê
xuất bản năm 1998 ( tái bản năm 2003); sách “ Quy trình xây dựng, ban hành và
kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật”, của tác giả Dương Bạch Long, Nhà xuất
Chính trị quốc gia năm 2007; sách “ Phương pháp soạn thảo văn bản hành
chính”, của tác giả Nguyễn Minh Phương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự
thật năm 2011; giáo trình “ Kỹ thuật xây dựng và ban hành văn bản”, của Học
viện Hành chính, do TS. Lưu Kiếm Thanh chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học và
Kỹ thuật năm 2009; giáo trình “ Soạn thảo văn bản”, do GS.TS. Nguyễn Đăng
Dung chủ biên, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2007; đề tài luận án
tiến sĩ chuyên ngành Quản lý hành chính công “ Hoàn thiện quy trình ban hành
và thực hiện văn bản của chính quyền địa phương cấp tỉnh” của tác giả Hà
Quang Thanh thực hiện năm 2008 tại Học viện Hành chính; sách “ Thuật ngữ
luật học thông dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật”, của tác giả Nguyễn
Trung Nam sưu tầm, tuyển chọn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 2005;
sách “ Quy trình, thủ tục trong hoạt động của Quốc hội” của Ban công tác lập
pháp, Quốc hội Việt Nam xuất bản năm 2005; đề tài “ Việc lập, thẩm tra, quyết
định điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh – lý luận và thực tiễn”
của tác giả Vũ Trọng Hách thực hiện năm 2010; Kỷ yếu hội thảo “ Tăng cường
năng lực thể chế cho Văn phòng Chính phủ”, Nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội,
khác do cơ quan hành chính nhà nước ban hành. Từ đó xác định chủ thể có thẩm
quyền hành, phạm vi điều chỉnh, nội dung, hình thức, quy trình ban hành văn
bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước. Làm rõ sự cần thiết
phải ban hành và những yêu cầu đối với hoạt động xây dựng và ban hành văn
bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước.
- Nghiên cứu những kinh nghiệm trong thực tiễn hoạt động xây dựng và
ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan
hành chính nhà nước nói riêng ở Việt Nam và một số quốc gia khác để rút ra bài
học kinh nghiệm có thể vận dụng cho Lào.
1.2.2. Về mặt thực tiễn
Ở Cộng hòa dân chủ nhân Lào vấn đề xây dựng và ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước một thời gian dài ít được quan
tâm nghiên cứu, tổng kết và đúc rút kinh nghiệm một cách đầy đủ; pháp luật về
ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng chậm được hoàn thiện. Vì thế, cần
nghiên cứu, khảo sát thực tiễn hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Lào để tìm ra những hạn chế
và xác định nguyên nhân của những hạn chế, rút ra bài học kinh nghiệm.
Từ đó luận án đề xuất những phương hướng và giải pháp có tính khoa học
và khả thi để nâng cao chất lượng, đáp ứng các yêu cầu đối với hoạt động xây
dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước
ở Lào, trong bối cảnh Lào đang tiến hành hoàn thiện bộ máy nhà nước, cải cách
hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền. Điều này khẳng định sự cần thiết, ý
nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài luận án.
Chương 2
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ XÂY DỰNG VÀ BAN HÀNH
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
2.1.Khái niệm, đặc điểm, thẩm quyền, phạm vi, nội dung văn bản quy
hành chính nhà nước
-Khái niệm: Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà
nước là văn bản do các chủ thể có thẩm quyền trong hệ thống cơ quan hành
chính nhà nước (tập thể cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm
quyền trong cơ quan hành chính nhà nước) ban hành (hoặc phối hợp ban hành)
theo một hình thức, trình tự, thủ tục luật định, có quy tắc xử sự chung, có hiệu
lực bắt buộc chung (trong phạm vi lãnh thổ quản lý) được nhà nước bảo đảm
thực hiện để cụ thể hóa, hướng dẫn thực hiện pháp luật, điều chỉnh các quan hệ
phát sinh trong tổ chức nội bộ cơ quan hành chính nhà nước hoặc điều chỉnh
các quan hệ xã hội mới phát sinh trong quá trình quản lý hành chính nhà nước
(được lập pháp ủy quyền).
-Đặc điểm: văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước
có những đặc điểm chung của văn bản quy phạm pháp luật, có những đặc điểm
riêng như: chứa đựng quy phạm pháp luật và mang tính dưới luật do các chủ thể
có thẩm quyền trong các cơ quan hành chính nhà nước ban hành.
-Vai trò:điều tiết những vấn đề thực tiễn phát sinh trong quá trình điều
hành, quản lý xã hội;
2.1.2. Thẩm quyền xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan hành chính nhà nước
Ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào chỉ có các chủ thể sau trong hệ thống
cơ quan hành chính nhà nước được ban hành văn bản quy phạm pháp luật:Chính
phủ ban hành nghị quyết và nghị định;Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị và
quyết định;Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc
Chính phủ ban hành chỉ thị, quyết định;Tỉnh trưởng, thị trưởng ban hành chỉ thị,
quyết định;Huyện trưởng, trưởng thị xã ban hành chỉ thị, quyết định;Thôn ban
hành điều lệ.
2.1.3. Phạm vi, nội dung văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành
chính nhà nước
để thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện.
-Nghị quyết của Chính phủ Lào là văn bản quy phạm pháp luật, là quyết
định của Chính phủ đối với một vấn đề nào đó được đưa ra để xem xét thảo luận
tại phiên họp của Chính phủ.
- Chỉ thị do Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ban
hành nhằm để cá nhân hoặc tổ chức thực hiện kế hoạch, luật, pháp lệnh theo
quyền và trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ được pháp luật quy định.
- Quyết định do Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
ban hành nhằm để thực hiện quyền và nhiệm vụ của mình hoặc để cụ thể hóa và
tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
-Chỉ thị do bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan
trực thuộc Chính phủ, tỉnh trưởng, thị trưởng, huyện trưởng, trưởng thị xã ban
hành để cá nhân hoặc tổ chức thực hiện kế hoạch, luật, pháp lệnh và nhiệm vụ
của mình.
-Quyết định của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, tỉnh trưởng, thị
trưởng, huyện trưởng, trưởng thị xã ban hành để thực hiện quyền và nhiệm vụ
của mình hoặc để cụ thể hóa và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật
của cơ quan nhà nước cấp trên.
-Điều lệ thôn là văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền thôn ban
hành để tổ chức thực hiện những văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan, tổ
chức cấp trên hoặc để quản lý an ninh, trật tự có nề nếp thuộc phạm vi quyền
hạn và nhiệm vụ của mình
2.2. Sự cần thiết phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan
hành chính nhà nước (quyền lập quy)
2.2.1. Thực hiện thẩm quyền hành chính nhà nước
Để thực hiện thẩm quyền hành chính, các nhà nước đều tổ chức hệ thống
cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở để thực hiện quyền lập
quy (quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật – mang tính dưới luật) và
quyền hành chính (quản lý – điều hành).
Thẩm quyền lập quy là một trong các quyền quan trọng của cơ quan hành
trong xã hội.
2.3. Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, quy trình xây dựng và ban hành văn
bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước
2.3.1.Khái niệm:Là hoạt động của các CQHCNN có thẩm quyền được tiến hành
theo thủ tục luật định nhằm đưa các quyết định quản lý nhà nước ( một dạng
quyết định pháp luật) dưới dạng văn bản trong đó chứa đựng các quy phạm
pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu phát sinh trong quá trình
chấp hành và điều hành.
2.3.2.Đặc điểm: Mang tính sáng tạo; giới hạn trong phạm vi thẩm quyền hành
pháp; có tác động nhanh đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
2.3.3.Các nguyên tắc: Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp; tuân thủ thẩm quyền,
hình thức, trình tự, thủ tục luật định; bảo đảm tính công khai, minh bạch; bảo
đảm tính khả thi; bảo đảm quy định cụ thể, chi tiết.
2.3.4. Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan hành chính nhà nước
- Yêu cầu đối với quy trình xây dựng và ban hành VBQPPL của
CQHCNN: Bảo đảm thực hiện nhất quán nguyên tắc nhà nước pháp quyền;
phân định chức xây dựng và ban hành VBQPPL của CQHCNN và các chức
năng khác; xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền xây dựng và
ban hành VBQPPL của CQHCNN; quy trình xây dựng gọn nhẹ, phù hợp với đặc
thù của từng CQHCNN; bảo đảm chuẩn hóa, thống nhất các VBQPPL hiện
hành.
-Quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính
nhà nước được thực hiện thông qua các giai đoạn:Giai đoạn 1: Sáng kiến và
soạn thảo; Giai đoạn2: Lấy ý kiến tham gia xây dựng dự thảo;Giai đoạn 3:
Thẩm định dự thảo; Giai đoạn 4: Xem xét, thông qua; Giai đoạn 5: Công bố;
Giai đoạn 6: Gửi và lưu trữ văn bản.
2.4. Kinh nghiệm xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của
nhà nước. Trước hết là ban hành Hiến pháp, các luật về tổ chức nhà nước và đặc
biệt là Luật xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2012.
3.2. Thực trạng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành
chính nhà nước
3.2.1. Thực trạng các tổ chức làm công tác xây dựng và ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước
3.2.1.1. Bộ Tư pháp
Bộ Tư pháp có nhiệm giúp Chính phủ lập dự kiến chương trình xây dựng
luật, pháp lệnh về những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ, trình Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ các dự án luật, pháp lệnh và dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật khác về các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ và các dự án, dự
thảo văn bản quy phạm pháp luật theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ. Bên cạnh đó Bộ thực hiện chức năng trực tiếp tham gia vào các khâu
của quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
3.2.2.2. Văn phòng Thủ tướng
Việc tham gia soạn thảo, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật tại Văn
phòng Thủ tướng được giao cho 3 đơn vị (vụ, cục) thuộc Văn phòng Thủ tướng
theo nội dung, tính chất từng loại văn bản quy phạm pháp luật. Theo quy định
chung đối với các dự án luật, pháp lệnh, thì Vụ Pháp chế của Văn phòng Chính
phủ là đơn vị chủ trì tham gia việc soạn thảo, thẩm tra thông qua việc tham gia
ban soạn thảo.
Các vụ khác thuộc Văn phòng Thủ tướng có thể cử người tham gia tổ biên tập
khi có đề nghị của cơ quan chủ trì soạn thảo và phối hợp với Vụ Pháp chế thẩm tra các
dự án luật, pháp lệnh có liên quan đến lĩnh vực mà vụ mình phụ trách.
3.2.2.3. Các tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ
Để thực hiện các nhiệm vụ trong công tác xây dựng và ban hành văn bản
quy phạm pháp luật thì các Bộ, cơ quan ngang bộ đã tiến hành củng cố, kiện
toàn tổ chức cán bộ và nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các tổ chức
pháp chế. Tính đến nay, ở 21 Bộ, cơ quan ngang bộ đã có 18 Bộ, cơ quan ngang
bộ thành lập Vụ Pháp chế.
chuyên môn thì chỉ bố trí cán bộ chuyên trách làm công tác pháp chế thuộc biên
chế của văn phòng hay một số cơ quan khác thì chỉ bố trí được cán bộ kiêm
nhiệm.
3.2.3. Thực trạng về năng lực đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây
dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
3.2.3.1. Năng lực đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng và ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp
Trình độ chuyên môn cán bộ, công chức của Bộ Tư pháp chủ yếu là chuyên
ngành luật học và chính trị học, còn không có người nào được đào tạo ở các
chuyên ngành khác, không có cán bộ là nữ, đa số ở độ tuổi từ 30 đến 50.
3.2.3.4. Thực trạng năng lực đội ngũ công chức làm công tác xây dựng văn bản
quy phạm pháp luật tại các bộ, cơ quan ngang bộ
Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác văn bản trong các bộ, cơ quan
ngang bộ chủ yếu được đào tạo chuyên ngành luật học và một số chuyên ngành
khác. So với Bộ Tư pháp, Văn phòng Thủ tướng, số lượng cán bộ cần, công
chức của các bộ, cơ quan ngang bộ cần được đào tạo nâng cao trình độ (sau đại
học), bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, ngoại ngữ, tin học.
3.2.3.5. Năng lực đội ngũ cán bộ công chức làm công tác xây dựng văn bản quy
phạm pháp luật tại địa phương
Về số lượng, tất cả các cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh trưởng, thành
trưởng, đô trưởng đến nay đều đã bố trí được cán bộ làm công tác xây dựng và
ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ít nhất là 01 cán bộ và nhiều nhất là 07
cán bộ, trung bình mỗi cơ quan có từ 01 - 03 cán bộ làm công tác xây dựng và
ban hành văn bản quy phạm pháp luật.Về chất lượng, hầu hết cán bộ pháp chế
của các cơ quan chuyên môn đều có trình độ đại học luật hoặc trình độ đại học
chuyên ngành khác.Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong công tác pháp chế,
cán bộ pháp chế tại các cơ quan chuyên môn trực thuộc tỉnh trưởng, thành
trưởng, đô trưởng đã bước đầu đào tạo, tập huấn, từng bước đã được nâng cao.
Còn thiếu những quy định cụ thể về quy trình xây dựng, ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, nên làm hạn
chế chất lượng xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong các cơ
quan này.
3.2.4.3. Thực trạng quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
của chính quyền địa phương
Do thiếu những quy định chung nên việc ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của các địa phương không theo một quy trình thống nhất, dẫn đến trình tự, thủ
tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định khác nhau giữa các địa
phương làm hạn chế chất lượng xây dựng và ban hành văn bản.
3.2.5. Thực trạng về cơ chế phối hợp, chế độ tài chính và cơ sở vật chất, điều
kiện hỗ trợ phục vụ công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp
luật
3.2.5.1. Về thực hiện nhiệm vụ và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hành chính
nhà nước trong công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Ưu điểm: đã ban hành các quy định về quy trình xây dựng và ban hành
văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành để đưa công tác này vào nề
nếp.Cơ chế, phương thức hoạt động, lề lối làm việc của các cơ quan trực tiếp
tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật bước đầu đã được đổi mới, cải
tiến theo hướng tăng cường trách nhiệm, nâng cao chất lượng và theo chương
trình, kế hoạch
Hạn chế: quy định về quy trình, thủ tục xây dựng, thẩm định, ban hành
văn bản quy phạm pháp luật chậm được ban hành và qua một thời gian ngắn
thực hiện đã bộc lộ những bất cập, hạn chế cần được sửa đổi, bổ sung cho phù
hợp với tình hình thực tiễn. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, cá nhân
có liên quan trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp ý và tổ
chức tiếp thu ý kiến hoàn thiện dự thảo còn nhiều hạn chế, bất cập và hình thức
làm ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng của văn bản quy phạm pháp luậtđược ban
hành
3.2.5.2. Về chế độ quản lý và sử dụng kinh phí phục vụ công tác xây dựng và
đảm các điều kiện triển khai công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm
pháp luật.
3.3.2. Nguyên nhân
Một là, nhận thức của lãnh đạo một số bộ, ngành và địa phương về vị trí,
vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm
pháp luật còn hạn chế, dẫn đến việc triển khai công tác xây dựng và ban hành
văn bản quy phạm pháp luật chưa thật sự đúng yêu cầu.
Hai là, trước yêu cầu, đòi hỏi của công cuộc đổi mới, xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp, cải cách hành chính, cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước, chuyển đổi mô hình tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp
nhà nước hiện nay.
Ba là, các văn bản điều chỉnh về công tác xây dựng và ban hành văn bản
quy phạm pháp luật chưa theo kịp với yêu cầu của thực tiễn, chưa gắn với xây
dựng pháp luật phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước. Việc nghiên cứu xây dựng
chính sách, pháp luật về công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp
luật chưa thật sự được quan tâm.
Bốn là, công tác theo dõi, quản lý, kiểm tra, giám sát về tổ chức và hoạt
động của các tổ chức xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật chưa
được chú trọng, không có hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả triển khai công tác
xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Năm là, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng và ban hành
văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều hạn chế.
Sáu là, nguồn lực tài chính dành cho các mặt công tác pháp chế nói chung và
công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật chưa được bảo đảm
một cách đầy đủ.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính ở Cộng hòa dân chủ
Lào, là một bộ phận cấu thành của thể chế hành chính. Vì vậy, muốn hoàn thiện
thể chế hành chính, tất yếu phải quan tâm đến hoạt động xây dựng và ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước.
4.2. Giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành văn bản quy
phạm pháp luật tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
4.2.1. Giải pháp về hoàn thiện thể chế về xây dựng và ban hành văn bản quy
phạm pháp luật
Pháp luật cần phải bổ sung những quy định vềkiểm tra, xử lý các văn bản
quy phạm pháp luật, như: cần xác định rõ những dấu hiệu đặc trưng của văn bản
quy phạm pháp luật làm cơ sở nhận diện chính xác đối tượng kiểm tra và xử lý.
Cần phải thống nhất về khái niệm văn bản quy phạm pháp luật để làm cơ sở xác
định chính xác văn bản nào là văn bản quy phạm pháp luật để tạo điều kiện cho
cơ quan ban hành cũng như kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật nhận
diện được chính xác; cần quy định thống nhất nội dung của hoạt động kiểm tra
theo hướng kiểm tra cả tính hợp pháp và tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp
luật nhằm bảo đảm sự thống nhất và toàn diện theo hướng kiểm tra cả tính hợp
pháp và tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật; hoàn thiện các quy định về
thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; hoàn thiện các quy
định về về thủ tục, trình tự kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật; hoàn
thiện quy định về các biện pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật và truy cứu
trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm trong việc xử lý, ban hành và tham
mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật bất hợp pháp.
Xây dựng các quy định vềthẩm định đánh giá chất lượng dự thảo văn bản
quy phạm pháp luật theo các nội dung: xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá
chất lượng một dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chí đánh giá chất
lượng văn bản thẩm định; thẩm định sự cần thiết ban hành văn bản; thẩm định
đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; thẩm định sự phù hợp của nội dung
được các yêu cầu, đòi hỏi của việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật trong bối
cảnh cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
4.2.4. Giải pháp về hoàn thiện kỹ thuật xây dựng và ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước
Cần phải sớm hoàn thiện quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của các cơ quan văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương và
của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
4.2.5. Giải pháp nhằm huy động sự tham gia của chuyên gia, các nhà khoa
học, các nhà hoạt động thực tiễn, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn
bản và nhân dân vào quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm
pháp luật
Việc huy động, thu hút sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học,
các nhà hoạt động thực tiễn, đối tượng chịu sự tác của văn bản, của quần chúng
nhân dân vào quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải
tuân thủ các nguyên tắc: công khai; quyền tự do phát biểu ý kiến, quyền bảo vệ
quan điểm khoa học; thu hút sự tham gia của nhân dân vào ngay từ quá trình xây
dựng văn bản; đa dạng hóa các hình thức tham gia; bảo đảm của Nhà nước để
mọi người được tham gia; quyền giám sát của nhân dân trong quá trình xây
dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật; sử dụng các phương tiện thông
tin đại chúng, nhất là Internet để tăng cường sự tham gia của nhân dân.
Tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia thì có thể áp dụng một số biện
pháp thu hút sự tham gia cụ thể như sau: Một là, đối với sự tham gia chủ động
của người dân nên áp dụng mô hình mở, mô hình này dựa trên nguyên tắc về
quyền được thông tin của người dân đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật; Hai là, đối với việc thu hút sự tham gia của các nhà khoa học và các nhà
hoạt động thực tiễn thì ngoài những hình thức truyền thống thì căn cứ vào những
kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn có thể áp dụng một số mô hình, như: một
số đề xuất đưa ra có thể được triển khai trong khuôn khổ các quy định của pháp
luật hiện hành về quy trình và thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm
pháp luật mà không cần có sự thay đổi ngay; một số đề xuất mang tính chuyển