Website: Email : Tel : 0918.775.368
LI M U
Xõy dng phỏp lut l mt trong nhng mt hot ng c bn, c thự ca
nh nc. Vic ban hnh cỏc vn bn quy phm phỏp lut, phn ỏnh ỳng nhng
nhu cu khỏch quan ca xó hi cn c iu chnh bng phỏp lut l vn cú
ý ngha quyt nh i vi cht lng v hiu qu ca qun lý nh nc. Trong
chin lc phỏt trin kinh t - xó hi 2001- 2010 ng Cng sn Vit Nam
cng ó ch rừ: i mi v hon thin khung phỏp lý, thỏo g mi tr ngi v
c ch, chớnh sỏch v th tc hnh chớnh phỏt huy ti a mi ngun lc, to
sc bt mi cho sn xut, kinh doanh ca mi thnh phn kinh t vi cỏc hỡnh
thc s hu khỏc nhau. Thc hin ch trng ca ng, nhng nm qua, vi v
trớ, vai trũ l c quan quyn lc nh nc v i din cho ý chớ, nguyn vng
ca nhõn dõn hot ng xõy dng vn bn quy phm phỏp lut ca Quc hi v
Hi ng nhõn dõn cỏc cp ngy cng c quan tõm, t tc phỏt trin
nhanh chúng, ỏp ng nhu cu xõy dng Nh nc phỏp quyn XHCN Vit
Nam ca dõn, do dõn, vỡ dõn. c bit, vi s ra i ca Lut Ban hnh vn bn
quy phm phỏp lut nm 1996( sa i, b sung nm 2002) v Lut Ban hnh
vn bn quy phm phỏp lut ca Hi ng nhõn dõn v U Ban nhõn dõn nm
2004, hot ng xõy dng vn bn quy phm phỏp lut ca c quan quyn lc
nh nc nhỡn chung ó t c nhiu thnh tu quan trng, khụng ngng
nõng cao c v s lng v cht lng h thng vn bn ban hnh.
Tuy nhiờn, so vi ũi hi ca tỡnh hỡnh hin nay nht l trong bi cnh
ca nc ta ang thc hin quỏ trỡnh cụng nghip hoỏ, hin i hoỏ, hi nhp
kinh t quc t, hot ng xõy dng vn bn quy phm phỏp lut ca c quan
quyn lc nh nc vn cũn bc l nhiu hn ch v bt cp. Mt s quan h xó
hi quan trng cha c iu chnh, trỡnh t, th tc trong quy trỡnh xõy dng
vn bn quy phm phỏp lut cha c thc hin nghiờm tỳc, nhiều văn bản quy
phạm pháp luận ban hành không có tính khả thi, hoặc mâu thuẫn, chng chộo v
ni dung phi sa i, b sung liờn tc.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Khái niệm
1.1. Khái niệm văn bản pháp luật
Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội rất đa dạng và phức tạp, ra
đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Hai
hiện tượng này có mối liên hệ mật thiết với nhau, Nhà nước không thể tồn tại
thiếu pháp luật; ngược lại pháp luật chỉ hình thành, phát triển và phát huy hiệu
lực bằng con đường Nhà nước. Với chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nước
phải tác động tới các quan hệ xã hội nhằm đạt mục tiêu quản lý được đặt ra
trong từng thời kỳ. Sự tác động đó là nhu cầu tất yếu của Nhà nước và được tiến
hành bởi nhiều chủ thể, nhiều cách thức, nhiều hoạt động khác nhau, trong đó có
hoạt động ban hành văn bản pháp luật, phương tiện chủ yếu và quan trọng nhất
để quản lý Nhà nước. Chất lượng của văn bản ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả
hoạt động của bộ máy nhà nước, đến sự vận động phát triển của xã hội bởi vì
các quyết định pháp luật, các văn bản pháp luật chính là bản thân pháp luật. Do
có vai trò quan trọng như vậy nên cần làm sáng tỏ về mặt lý luận khái niệm văn
bản pháp luật làm cơ sở cho việc xác định nôi dung, hình thức, thủ tục ban hành,
xử lý và những vấn đề khác của hoạt động xây dựng văn bản pháp luật trong
thực tiễn. Lý luận chung về Nhà nước, pháp luật và khoa học pháp lý chuyên
ngành cũng như thực tiễn lập pháp ở Việt Nam đã nghiên cứu vấn đề này từ lâu
nhưng đến bây giờ vẫn còn nhiều điều chưa thống nhất và thoả đáng.
Hiện nay đang tồn tại một số cách hiểu khác nhau về thuật ngữ văn bản
pháp luật, điển hình là hai quan điểm: thứ nhất coi đó là tên gọi khác của văn
bản quy phạm pháp luật, thứ hai xác định là tên gọi chung của văn bản quy
phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật.
Trong quan điểm thứ nhất, có thể thấy ở các sách báo pháp lý thường
đồng nghĩa hai khái niệm này với nhau. Tuy nhiên, một số điểm bất hợp lý đã
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bộc lộ rõ, trước hết là do thiếu từ “quy phạm” nên thuật ngữ “văn bản pháp luật”
không thể hiện được bản chất của những văn bản có nội dung là các quy tắc xử
phức tạp thì văn bản quy phạm pháp luật trở thành một công cụ quản lý hữu
hiệu, một phương tiện điều chỉnh được sử dụng thường xuyên nhằm duy trì trật
tự xã hội tạo điều kiện cho xã hội ổn định và phát triển. Cho nên, cần phải xem
xét khái niệm văn bản quy phạm pháp luật dưới góc độ khoa học.
1.2. Định nghĩa văn bản quy phạm pháp luật
Trong lịch sử đã có ba hình thức được các giai cấp thống trị sử dụng để
nâng ý chí của giai cấp mình thành pháp luật là tập quán pháp, tiền lệ pháp và
văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó văn bản quy phạm pháp luật được coi là
hình thức pháp luật tiến bộ nhất, cơ bản nhất của pháp luật xã hội chủ nghĩa vì
nó có những ưu thế mà tập quán pháp và tiền lệ pháp không có nhờ tính chất đặc
biệt của quy phạm pháp luật, phù hợp với bản chất của kiểu pháp luật xã hội chủ
nghĩa. Tuy nhiên, trước khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ra đời
năm 1996. pháp luật điều chỉnh hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật
của nước ta mặc dù được chú trọng nhưng vẫn còn ở mức độ khiêm tốn; trong
hệ thống pháp luật khái niệm văn bản quy phạm pháp luật chưa hề được định
nghĩa mà chỉ quy định về tên gọi và vai trò của văn bản quy phạm pháp luật do
mỗi cơ quan nhà nước ban hành. Mặt khác, chưa có sự phân biệt rõ ràng văn bản
quy phạm pháp luật với các loại văn bản mang tính chất pháp lý khác. Trong
Hiến pháp, các luật về Tổ chức bộ máy nhà nước và các văn bản dưới luật mới
đề cập một cách chung chung mà không xác định cụ thể văn bản nào là văn bản
quy phạm pháp luật. Có chăng, khái niệm văn bản quy phạm pháp luật chỉ được
định nghĩa trong sách báo pháp lý nhưng rất tiếc lại không thống nhất với nhau
1
.
Ngày 12/11/1996, với việc Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá IX, kỳ họp thứ 10 thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
lần đầu tiên khái niệm văn bản quy phạm pháp luật được ghi nhận và định nghĩa
chính thức trong hình thức văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao. Điều này
có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu bước tiến bộ đáng kể trong thực tiễn lập pháp ở
Việt Nam. Ngày 16/12/2002, Quốc hội khóa XI thông qua Luật sửa đổi, bổ sung
nông dân và đội ngũ trí thức. Điều 6 Hiến pháp 1992 quy định “nhân dân sử
dụng quyền lực nhà nước thông qua QH và HĐND là những cơ quan đại diện
cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm
trước nhân dân”. Xuất phát từ việc các cơ quan đại diện hình thành do kết quả
bầu cử trực tiếp, thể hiện ý chí của nhân dân, vì vậy chúng nhân danh quyền lực
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhân dân và mang tính chất là hệ thống cơ quan quyền lực. Một trong những
hoạt động cơ bản của cơ quan quyền lực là xây dựng pháp luật tức là hoạt động
ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hoạt động này có ý nghĩa quyết định đối
với chất lượng cũng như hiệu quả của quản lý Nhà nước.
Đóng vai trò quan trọng tạo nên “xương sống” của hệ thống pháp luật,
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước mang những đặc
điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật do chủ thể có thẩm quyền ban
hành.Không phải mọi cơ quan nhà nước hoặc mọi cá nhân đều có thẩm quyền
ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tại điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002 đã quy định
rõ,những cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp
luật bao gồm: QH, UBTVQH, Chủ tịch nước, Hội đồng thẩm phán toà án nhân
dân tối cao, Chính phủ, HĐND các cấp, UBND các cấp; có sự phối hợp giữa
những cơ quan nhà nước, giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan
trung ương của tổ chức chính trị- xã hội để ban hành văn bản quy phạm pháp
luật liên tịch. Những cá nhân có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp
luật là Thủ tướng chính phủ, chánh án Toà án nhân dân tối cao, viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
Vì vậy, dấu hiệu đầu tiên để khẳng định một văn bản quy phạm pháp luật
của cơ quan quyền lực nhà nước là văn bản đó phải được ban hành bởi QH và
HĐND các cấp.
Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước
cơ quan quyền lực luôn luôn có giá trị bắt buộc chung và được đảm bảo thực
hiện bằng Nhà nước với nhiều biện pháp như tuyên truyền, giáo dục, tổ chức,
hành chính, kinh tế và đặc biệt là biện pháp cưỡng chế.
Thứ tư, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực Nhà nước có
đối tượng áp dụng chung, được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn.
Với nội dung là các quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan quyền lực tác động lên nhiều đối tượng, đó là một nhóm chủ thể lớn có
chung một hoặc một số yếu tố nào đó như: quốc tịch, địa bàn cư trú… hoặc là
mọi chủ thể nằm trong điều kiện, hoàn cảnh mà quy phạm pháp luật quy định.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mặt khác, văn bản quy phạm pháp luật được dùng để điều chỉnh các quan hệ xã
hội có tính phổ biến, nên quy tắc xử sự chung mà các đối tượng tác động của
pháp luật phải tuân theo khi rơi vào tình huống dự liệu, tình huống đó có tính lặp
đi lặp lại trên thực tế nên các quy phạm được sử dụng nhiều lần. Nói cách khác,
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước được sử dụng
nhiều lần, nó khác với văn bản áp dụng pháp luật chỉ được thực hiện duy nhất
một lần trên thực tế đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.
3. Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền
lực nhà nước
Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước
nói chung và cơ quan quyền lực nhà nước nói riêng luôn luôn được các nhà làm
luật quan tâm.Lâu nay, vấn đề này đã được quy định tại Hiến pháp, một số đạo
Luật về tổ chức bộ máy nhà nước và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Thẩm quyền ban hành văn bản thông thường được hiểu bao gồm thẩm quyền về
hình thức(gắn với chủ thể ban hành văn bản) và thẩm quyền về nội dung: nội
dung các quy định trong văn bản( gắn với thẩm quyền quản lý của chủ thể ban
hành văn bản). Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của QH và
HĐND được xem xét dưới hai góc độ đó trên cơ sở có sự phân định cụ thể về
thẩm quyền giữa cơ quan quyền lực nhà nước trung ương (TW) và cơ quan
sẽ dẫn đến tình trạng các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành chồng
chéo, mâu thuẫn nhau, không phù hợp với thực tế hoặc không đúng nội dung,
tinh thần pháp luật hay bỏ sót các lĩnh vực cần sự quản lý của nhà nước. Để
tránh tình trạng đó, các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động
ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã phân định rõ hơn thẩm quyền ban hành
văn bản giữa cơ quan quyền lực nhà nước TW với cơ quan quyền lực nhà nước
địa phương cũng như các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước. Đồng thời tránh
được sự trùng lặp với các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong
Luật tổ chức QH và Luật tổ chức HDND và UBND.
Là tổ chức cao nhất của thiết chế đại diện, là “tập thể hành động” QH thay
mặt nhân dân quyết định và thực hiên quyền lực nhà nước thống nhất trong cả
nước. QH là cơ quan duy nhất có quyền ban hành Hiến pháp và luật. Hiến pháp
là cơ sở của hệ thống pháp luật, là đạo luật cơ bản của nhà nước, quy định
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
những vấn đề quan trọng nhất của nhà nước như chế độ chính trị, chế độ kinh tế,
hình thức và bản chất của nhà nước. Bên cạnh quyền thông qua Hiến pháp và
sửa đổi Hiến pháp QH còn có quyền thông qua luật và sửa đổi luật. Luật quy
định các vấn đề cơ bản thuộc các lĩnh vực về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh
tế- xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của
công dân. Nghị quyết của QH được ban hành để quyết định các vấn đề thẩm
quyền của QH như quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, chính sách
dân tộc, tôn giáo, đối ngoại, dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách
TW..
2
Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước khác phải cụ thể
hoá và không được trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của QH.
Những văn bản mà QH có thẩm quyền ban hành nhìn chung đã điều chỉnh
được các lĩnh vực quan trọng của đời sống kinh tế xã hội, đáp ứng yêu cầu quản
của văn bản quy phạm pháp luật vào các quan hệ xã hội được hình thành trên cơ
sở pháp luật hiện hành và thể hiện ở 3 phương diện: thời gian, không gian và đối
tượng. Về nguyên tắc, phụ thuộc vào vị trí, tính chất, thẩm quyền của cơ quan
ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tính chất và mục đích điều chỉnh của một
loại văn bản cụ thể, hiệu lực của chúng có những giới hạn và mức độ khác nhau.
Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước cũng bị chi phối
bởi các yếu tố đó và thể hiện trong việc quy định hiệu lực về không gian, hiệu
lực về thời gian, hiệu lực về đối tượng áp dụng.
4.1. Hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước
theo không gian
Hiệu lực về không gian của văn bản quy phạm pháp luật là phạm vi lãnh
thổ mà văn bản tác động. Theo vị trí của cơ quan ban hành văn bản có thể phân
loại văn bản quy phạm pháp luật thành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan
quyền lực nhà nước TW và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực
nhà nước địa phương. Nghiên cứu điều 79 Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật 2002 và điều 49 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của
HĐND và UBND 2004 ta thấy: văn bản quy phạm pháp luật của QH, UBTVQH
có hiệu lực trong phạm vi cả nước, văn bản quy phạm pháp luật của HĐND
thuộc đơn vị hành chính cấp nào thì có hiệu lực trong phạm vi đơn vị hành chính
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đó. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của HĐND có hiệu lực trong
phạm vi nhất định của địa phương thì phải xác định ngay trong văn bản . Điều
này xuất phát từ thẩm quyền và phạm vi quản lý của QH và HĐND. Cơ quan
quyền lực TW được thiết lập ở tầm quốc gia còn cơ quan quyền lực địa phương
được tổ chức theo đơn vịhành chính lãnh thổ, thẩm quyền quản lý chỉ giới hạn
trong khuôn khổ một địa bàn nhất định. Trên thực tế, hiệu lực về không gian
được nêu trong hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực
nhà nước, đối với những trường hợp đặc biệt không có điều khoản đó thì phải
dựa vào thẩm quyền và nội dung các quy phạm trong văn bản để xác định hiệu
của địa phương khác. Vì thế, văn bản quy phạm pháp luật của HĐND có thể có
hiệu lực đối với cả đối tượng thuộc quyền quản lý của mình đang ở một địa
phương khác. Tất nhiên, là những văn bản cụ thể hoá Hiến pháp, Luật , Nghị
quyết và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nên hiệu lực văn bản quy phạm
pháp luật của HĐND về đối tượng cũng phải đảm bảo có nội dung tương ứng và
phù hợp.
4.3. Hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước
theo thời gian
Hiệu lực theo thời gian của văn bản quy phạm pháp luật là sự tác động
của văn bản lên các quan hệ xã hội trong khoảng thời gian xác định, thể hiện ở
thời điểm có hiệu lực và thời điểm chấm dứt hiệu lực của văn bản quy phạm
pháp luật. Sự giới hạn hiệu lực của văn bản pháp luật theo thời gian là cần thiết
vì mỗi văn bản pháp luật được hình thành trong một giai đoạn lịch sử, với những
điều kiện nhất định của đời sống xã hội nên chỉ có thể phát huy tác dụng khi còn
tồn tại những điều kiện đó. Hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan
quyền lực nhà nước ở TW và địa phương theo thời gian được quy định cụ thể
trong hai đạo luật: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2002 từ điều 75
đến điều 78; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND
từ điều 51 đến điều 53.
Về thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật, luật quy định:
Luật, Nghị quyết của QH, Pháp lệnh, Nghị quyết của UBTVQH có hiệu lực kể
từ ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày
có hiệu lực khác. Văn bản quy phạm pháp luật của HĐND tỉnh có hiệu lực sau
10 ngày và phải được đăng công báo chậm nhất là 5 ngày kể từ ngày HĐND
thông qua, trừ trường hợp văn bản quy định ngày có hiệu lực muộn hơn. Văn
bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp huyện có hiệu lực sau 7 ngày và phải
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
được niêm yết chậm nhất là 3 ngày kể từ ngày HĐND thông qua, trừ trường hợp
văn bản quy định ngày có hiệu lực muộn hơn. Văn bản quy phạm pháp luật của
1. Hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Quốc Hội, Uỷ Ban
Thường Vụ Quốc Hội
1.1. Khái quát tình hình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của QH,
UBTVQH
Ngay từ khi chính quyền cách mạng non trẻ ra đời năm 1945, hoạt động
xây dựng pháp luật đã được Đảng, Chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt
quan tâm. Gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của Nhà nước cộng
hoà XHCN Việt Nam, hoạt động xây dựng pháp luật đã đạt được nhiều thành
tựu to lớn đáp ứng nhu cầu của xã hội. Là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến,
lập pháp QH đóng vai trò quan trọng và quyết định trong việc xây dựng và hoàn
thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Tính đến thời điểm tháng 12/2005,
ngoài bốn bản Hiến pháp QH đã ban hành 183 Luật, Bộ LuËt và nhiều nghị
quyết có chứa quy phạm pháp luật. Nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật
do QH, UBTVQH ban hành đã kịp thời thể chế hoá đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước, phản ánh trung thực ý chí, nguyện vọng của nhân dân, phù
hợp thực tiễn đất nước trong từng thời kỳ, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã
hội.
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, nhân dân cả nước đã tổ chức thành công cuộc
tổng tuyển cử tự do bầu ra QH Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, QH đầu tiên
của nước ta. Ngày 09 tháng 11 năm 1946 QH khoá I đã ban hành bản Hiến pháp
đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - Hiến pháp 1946, sự kiện có ý
nghĩa trọng đại trong lịch sử lập pháp của QH.
Giai đoạn từ tháng 12 năm 1946 đến tháng 7 năm 1954 đất nước có chiến
tranh, đó là cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp kéo dài 9 năm
khiến cho QH hầu như không thể ban hành các đạo luật như dự kiến. Thời gian
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
này, vấn đề quản lý đất nước, điều hành xã hội và chỉ đạo kháng chiến phần lớn
dựa vào các sắc lệnh của Chủ tịch nước và các văn bản của Chính phủ.
Giai đoạn từ 1954 - 1975, đất nước tạm bị chia làm hai miền với những
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đời sống Cách mạng. Ngoài ba bản Hiến pháp, Hiến pháp 1946, 1959, 1980 QH
đã thông qua 29 Bộ luật, Luật, 36 Pháp lệnh và nhiều Nghị quyết chứa đựng quy
phạm pháp luật.
Tuy nhiên, hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của QH thời
gian này vẫn có những hạn chế nhất định. QH chỉ chủ yếu tập trung vào hoạt
động xây dựng Hiến pháp, còn việc xây dựng luật để điều chỉnh nhiều lĩnh vực
quan trọng của đời sống xã hội như: dân sự, thượng mại, tài chính…chưa được
chú trọng, chủ yếu do các văn bản dưới luật điều chỉnh.
Sau cuộc bầu cử ngày 19/4/1987,QH khoá VIII (1987-1992) thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong điều kiện đất nước bước vào giai đoạn đầu
của công cuộc đổi mới theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Đây
là thời kỳ đánh dấu bước chuyển có ý nghĩa cơ bản trong hoạt động ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của QH.Trong nhiệm kỳ, QH đã thông qua Hiến
pháp năm 1992,31 Luật, bộ luật và nhiều nghị quyết chứa quy phạm pháp luật;
Hội đồng Nhà nước đã thông qua 43 pháp lệnh và nhiều nghị quyêt chứa quy
phạm pháp luật.Nhiều đạo luật quan trọng ra đời góp phần quyết định việc thúc
đẩy tiến trình đổi mới như Luật Đất đai 1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt
nam 1987, Bộ Luật hàng hải 1990 và một số văn bản quy phạm khác như pháp
lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính 1990, Nghị quyết kỳ
họp thứ 7 QH khoá VIII về việc thực hiện miễn thuế nông nghiệp theo di chúc
của Chủ tịch Hồ Chí Minh …Đặc biệt, sau ba lần sửa đổi, bổ sung ngày
15/4/1992 tại kỳ họp thứ 11 khoá 8 QH đã thông qua Hiến pháp 1992, đánh dấu
một mốc lớn trên con đường đổi mới và tạo cơ sở pháp lý để chuyển hẳn hoạt
động xây dựng pháp luât từ cơ chế tập trung,quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế
thị trường nhiều thành phần có sự định hướng, điều tiết của nhà nước. Nhưng
bên cạnh đó, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của QH cũng bộc
lộ nhiều điểm chưa đáp ứng được đòi hỏi của xã hội như vẫn tạo ra nhiều
“khoảng trống”, ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật không phù hợp với
Ngày 19 tháng 5 năm 2002 cử tri cả nước đã bỏ phiếu bầu ra QH khoá XI
(2002-2007).Là khoá QH đầu tiên của thế kỷ XXI, QH khoá XI có vai trò rất
quan trọng trong giai đoạn tiếp tục công cuộc đổi mới và công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
minh.QH đã đạt được nhiều thành tựu, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng văn bản
quy phạm pháp luật; tất nhiên cũng không thể tránh khỏi những khiếm khuyết và
hạn chế nhất định.
1.2. Thực trạng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của QH, UBTVQH
1.2.1. Những thành tựu trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp
luật của QH
Đánh giá một cách toàn diện, hơn 60 năm trong hoạt động xây dựng văn
bản quy phạm pháp luật, QH Việt nam đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp, đáng
khích lệ .Bước chuyển biến cơ bản nhất, rõ nét nhất thể hiện trong việc trước
đây chúng ta quản lý kinh tế - xã hội chủ yếu bằng chính sách, nghị quyết và
mệnh lệnh hành chính thì nay hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã trở thành
công cụ quản lý xã hội, khẳng định và phát huy hiệu quả trong cuộc sống.Hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất
được ban hành khá đầy đủ theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh trên khắp
các lĩnh vực của đời sống xã hội, có hiệu lực, có tính khả thi cao, làm cơ sở cho
mọi cơ quan nhà nước, mọi tổ chức và công dân sống và làm việc theo tinh thần
của nhà nước pháp quyền.
Một trong những thành tựu quan trọng của QH đó là việc coi trọng vai trò
của nhân dân trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luât. Quyền làm
chủ và trí tuệ của nhân dân ngày càng được phát huy, hoạt động xây dựng văn
bản quy phạm pháp luật hướng tới nhân dân đã thay cho việc coi trọng, ưu tiên
giải quyết những vấn đề về quản lý nhà nước mà ít quan tâm tới đối tượng thi
hành là người dân như trước kia. Vấn đề bảo đảm quyền, lợi ích của người dân
được xác định là vấn đề trọng tâm trong quá trình soạn thảo, thẩm tra và thông
phức tạp, QH xét thấy có thể thông qua ngay tại một kỳ họp, hầu hết các dự án
luật đã được áp dụng quy trình thông qua tại hai kỳ họp QH; đem lại những
chuyển biến có tính bước ngoặt, chấm dứt tình trạng một dự án luật có thể trình
ra QH nhiều lần, trong nhiều năm, các chủ thể có căn cứ vững chắc để lập kế
hoạch triển khai hoạt động theo đúng tiến độ mà chương trình đã đề ra.
Bên cạnh đó, công tác soạn thảo dự án luật, pháp lệnh đã được thực hiện
tốt hơn. Việc tổ chức soạn thảo được tiến hành quy củ từ thành lập ban soạn
thảo đến lấy ý kiến của các cơ quan đối với dự án, dự thảo. Dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật được gửi cho các cơ quan có thẩm quyền, các vị đại biểu theo
5
Báo nhà nước và pháp luật số 11/2006
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đúng quy định tạo điều kiện và thời gian nghiên cứu kỹ trước khi thảo luận,
chỉnh lý giúp cho việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng và
khả thi. Lần đầu tiên có một Uỷ ban của QH soạn thảo và trình dự án luật ra QH
thành công, đặc biệt đó lại là một dự án luật mang tính chuyên môn cao. Uỷ ban
khoa học công nghệ và môi trường của QH khoá XI đã chủ động đề xuất việc
xây dựng dự án luật giao dịch điện tử và chủ động thực hiện việc soạn thảo dự
án luật này. Dự án Luật giao dịch điện tử đã được QH cho ý kiến tại kỳ họp thứ
7 và thông qua tại kỳ họp thứ 8 ( cuối năm 2005) khẳng định trên thực tế khả
năng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các Uỷ ban QH.
Về việc xem xét, thông qua các dự án luật, dự án pháp lệnh, nhờ một phần
làm tốt khâu lập chương trình xây dựng pháp luật, ấn định rõ thời gian xem xét,
thảo luận, thời gian phát biểu của mỗi đại biểu QH, việc điều hành rõ ràng, dứt
khoát của chủ toạ các phiên họp đã góp phần khắc phục những hạn chế về thời
gian làm việc của QH, UBTVQH, giúp cho việc chuẩn bị, thông qua văn bản
quy phạm pháp luật tại kỳ họp QH, tại phiên họp UBTVQH được chủ động,
nhanh chóng, bảo đảm chất lượng. Nội dung các văn bản quy phạm pháp luật
ban hành mang tính toàn diện, bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, kỹ
vực và thế giới như Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia
tăng, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật tổ chức tín dụng, Luật Cạnh
tranh, Luật Chứng khoán, Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Ký kết, gia nhập
và thực hiện điều ước quốc tế, pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH ngày
20/802004 về chống trợ cấp hàng hoá nhập khẩu vào Việt nam.. .Đến tháng 12
năm 2006 QH và UBTVQH thông qua 10 Luật và 01 pháp lệnh liên quan trực
tiếp đến WTO
7
, gia nhập nhiều điều ước quốc tế đa phương quan trọng về sở
hữu trí tuệ và ký kết nhiều điều ước quốc tế song phương về tín dụng, hàng hải.
hàng không…Các văn bản này đã tạo hành lang pháp lý thông thoáng hơn, thúc
đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế, phát huy tối đa nội lực, thu hút
ngoại lực tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động.
Trên lĩnh vực xã hội, QH cũng đã ban hành nhiều văn bản cần thiết để
điều chỉnh các vấn đề xã hội quan trọng như: Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục
trẻ em, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Phòng chống tham nhũng, Nghị quyết số
16/2003/NQ-QH về việc thực hiện thí điểm tổ chức quản lý, dạy nghề và việc
7
Ts. Hoàng Phước Hiệp- “ Việt nam gia nhập WTO và vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt nam”, báo Dân
chủ và pháp luật số 1 năm 2007.
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
làm cho người cai nghiện ma tuý ở Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh,
thành phố trực thuộc TW, Pháp lệnh số 27/2005/PL-UBTVQH 11 về cựu chiến
binh, pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH ngày 29/6/2005 về ưu đãi người có
công với cách mạng…
Giữ vững quan điểm coi trọng nhân tố con người, coi giáo dục và đào tạo
khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu, QH đã ban hành nhiều văn bản
pháp luật làm cơ sở cho hoạt động này: Luật Giáo dục, Luật Dược, Luật Tiêu
chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Luật Xuất bản, …
mong đợi của người dân, của xã hội. Mặc dù điều 7 Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật 2002 đã đưa ra nguyên tắc: “Văn bản quy định chi tiết thi hành
phải được soạn thảo với dự án luật, pháp lệnh để trình cơ quan nhà nước có
thẩm quyền kịp thời ban hành khi luật, pháp lệnh có hiệu lực”. Nhưng trên thực
tế các ban soạn thảo thường không chuẩn bị kịp các dự thảo văn bản hướng dẫn
để trình đồng thời, hoặc nếu có thì việc chuẩn bị và trình dự thảo cũng mang
tính chất đối phó. Tình trạng luật, pháp lệnh chờ nghị định và thông tư hướng
dẫn vẫn đang là vấn đề nan giải trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật của QH, UBTVQH. Theo thống kê của văn phòng Chính phủ, tính đến
giữa tháng 3 năm 2006 còn 143 dự thảo văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành luật, pháp lệnh chưa được ban hành
8
. Điển hình của sự chậm trễ này là
nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Quốc tịch ra đời sau gần 2 năm, nghị
định quy định chi tiết thi hành Luật Dầu khí ra sau 3 năm rưỡi, Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật 2002 sau khi đã có hiệu lực 3 năm mới có nghị định
161/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành. Sự chờ đợi càng kéo dài, tính khả
thi của luật, pháp lệnh càng giảm nhất là khi trách nhiệm của các cơ quan thi
hành không được quy định rõ trong văn bản.
Tình trạng luật, pháp lệnh còn nhiều điều khoản chung chung cũng dẫn tới
số lượng các văn bản hướng dẫn rất nhiều, vô tình hoặc hữu ý lấn át cả văn bản
chính. Ví dụ, Pháp lệnh phí, lệ phí năm 2001: tổng số văn bản mà Chính phủ
phải ban hành là 18 văn bản, tổng số văn bản mà Bộ Tài chính phải ban hành là
175 văn bản
9
. Điều đó đã phần nào làm giảm chất lượng văn bản luật, pháp
8
Báo nghiên cứu, trao đổi số 5/2006 trang 6
9
Công văn số 6752/TC/BC ngày 03/6/2005 của Bộ Tài chính, trang 6