Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp - Pdf 35

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Xu thế mở cửa hội nhập với kinh tế khu vực và quốc tế tạo ra
những thuận lợi cũng như khó khăn, thách thức đối với phát triển
kinh tế. Chính phủ chủ trương phát triển các loại hình doanh nghiệp
kinh doanh bảo hiểm theo hướng đa dạng hình thức sở hữu nhằm thu
hút nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Chủ trương
này đã tạo ra những cơ hội mới cho các doanh nghiệp kinh doanh
bảo hiểm hiện nay. Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông
nghiệp (ABIC) ra đời và phát triển trong hoàn cảnh đó có nhiều
thuận lợi nhưng đồng thời sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn.
Vấn đề cấp bách đặt ra cho Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng
Nông nghiệp là làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh trong
điều kiện thị trường có sự tham gia của các công ty bảo hiểm nước
ngoài và các công ty bảo hiểm đa quốc gia. Một trong các giải pháp
đó chính là nâng cao quả kinh doanh, thúc đẩy phát triển thị trường.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, là một chỉ tiêu
chất lượng tổng hợp. Đánh giá hiệu quả kinh doanh chính là quá
trình so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu về với mục đích đó
được đặt ra và dựa trên cơ sở giải quyết các vấn đề cơ bản của nền


kinh tế như kinh doanh sản phẩm gì, kinh doanh như thế nào… Do
đó việc nghiên cứu và xem xét vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh
là một đòi hỏi tất yếu đối với mỗi doanh nghiệp trong quá trỡnh kinh
doanh hiện nay. Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đang là một bài
toán khó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp đều phải quan tâm đến, đây là
một vấn đề có ý nghĩa quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có độ nhạy
bén, linh hoạt cao trong qúa trình kinh doanh của mình. Là cán bộ

hàng nông nghiệp nhằm phát hiện những điểm yếu và nguyên nhân
tồn tại.


- Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm tăng hiệu quả kinh
doanh bảo hiểm của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng nông
nghiệp.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
Luận văn được trình bày trong ba chương:
- Chương 1: Tổng quan về bảo hiểm phi nhân thọ và hiệu quả
kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ.
- Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh bảo hiểm tại
Công ty Cổ phần bảo hiểm ngân hàng Nông nghiệp.
- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công
ty cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp.


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH BẢO HIỂM
1.1. TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
1.1.1. Khái niệm, vai trò và các loại hình Bảo hiểm phi nhân thọ
1.1.1.1. Khái niệm về bảo hiểm
Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xưa trong lịch sử văn minh
nhân loại. Tuy nhiên, bảo hiểm thực sự xuất hiện từ khi nào thì
người ta vẫn chưa có được câu trả lời chính xác. Ý tưởng về bảo
hiểm được coi là đã xuất hiện từ khá lâu, khi mà người xưa đã nhận
ra lợi ích của việc xây dựng một kho thóc lúa dự trữ chung phòng
khi mất mùa, chiến tranh... Vì vậy, ngay từ xa xưa, con người đã có
ý thức về những bất trắc có thể xảy đến với mình, và tìm cách phòng

Ngoài ra, bản chất của bảo hiểm còn được thể hiện ở các khía
cạnh cụ thể như sau:
- Rủi ro và sự tồn tại của rủi ro là nguồn gốc của bảo hiểm
- Cơ chế chuyển giao rủi ro trong bảo hiểm được thực hiện


giữa các bên tham gia bảo hiểm và bên bảo hiểm thông qua các cam
kết bảo hiểm. Theo cơ chế này, bên tham gia phải nộp phí bảo hiểm
và bên bảo hiểm cam kết bồi thường hay chi trả tiền bảo hiểm khi
đối tượng bảo hiểm hay người được bảo hiểm gặp phải rủi ro hay sự
kiện bảo hiểm.
- Phí bảo hiểm mà bên tham gia nộp cho bên bảo hiểm phải
được thực hiện trước khi rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra. Ngược
lại, khỏa tiền bên bảo hiểm trả cho bên tham gia hay người thứ ba
chỉ được thực hiện sau khi sự kiện bảo hiểm hay rủi ro xảy ra gây ra
tổn thất.
- Việc san sẻ rủi ro, bù trừ tổn thất trong bảo hiểm được bên
bảo hiểm tính toán và quản lý dựa vào số liệu thống kê rủi ro và tình
hình tổn thất, cũng như quỹ bảo hiểm mà họ thiết lập được dựa trên
nguyên tắc số đông bù số ít.
- Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính chứ không phải
là hoạt động sản xuất. Chính vì vậy, lợi ích của các bên được luật
hóa rất cụ thể và vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực này rất
quan trọng.
1.1.1.3. Vai trò của bảo hiểm
Vì vậy, bảo hiểm có vai trò quan trọng trong cuộc sống
của con người. Tham gia bảo hiểm sẽ mang lại những lợi ích cho
người tham gia như sau:



dụng để đối phó với rủi ro của mình.
Bảo hiểm gồm hai lĩnh vực hoạt động lớn là bảo hiểm nhân thọ
và bảo hiểm phi nhân thọ.
Bảo hiểm nhân thọ là loại bảo hiểm dài hạn liên quan đến tuổi
thọ của con người. Sự sống và cái chết của con người là sự kiện chủ
yếu được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Nói cách
khác, trong bảo hiểm nhân thọ, thông thường người bảo hiểm phải
trả tiền bảo hiểm khi người được bảo hiểm bị chết hoặc còn sống
đến một thời điểm chỉ rõ trong hợp đồng bảo hiểm. Có ba dạng hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ chủ yếu, đó là: bảo hiểm nhân thọ trong
trường hợp tử vong; Bảo hiểm nhân thọ trong trường hợp sống và
bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp.
Khác với bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ là loại bảo
hiểm ngắn hạn. Đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm phi
nhân thọ bao gồm các loại tài sản, trách nhiệm dân sự. Bảo hiểm phi


nhân thọ là một lĩnh vực bảo hiểm có phạm vi rất rộng. Nó bao gồm
tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự
và một phần bảo hiểm con người. Như vậy, đối tượng của bảo hiểm
phi nhân thọ đa dạng, phong phú hơn rất nhiều.
Sự phân chia hoạt động bảo hiểm thành hai lĩnh vực bảo hiểm
nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ có ý nghĩa quan trọng cả trong lý
luận và thực tiễn. Sở dĩ như vậy là bởi sự khác biệt giữa hai lĩnh vực
này không những chi phối quá trình nghiên cứu, ban hành các luật
lệ, qui tắc, qui định mà còn chi phối cả quá trình tổ chức, quản lý,
kiểm tra, giám sát hoạt động bảo hiểm trong thực tiễn.
* Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ cơ bản
Nghiệp vụ BH được phân loại theo nhiều cách khác nhau tuỳ
theo mục đích của các nhà lập pháp và DNBH. Tuy nhiên, liên quan

kết hợp đồng chứ không dựa vào thiệt hại thực tế. Tuy nhiên, có thể
áp dụng kết hợp với nguyên tắc bồi thường khi thanh toán các chi
phí y tế phát sinh nằm trong phạm vi được BH của các hợp đồng BH
con người.


b. Phân loại theo tính chất bắt buộc
Theo tiêu thức này bao gồm: BH PNT bắt buộc và BH PNT tự
nguyện.
- BH PNT bắt buộc: là những loại BH mà pháp luật có quy
định về nghĩa vụ tham gia BH của các tổ chức, cá nhân có mối quan
hệ nhất định với loại đối tượng bắt buộc phải được BH. Thông
thường, đối với loại hình BH bắt buộc, pháp luật sẽ quy định về điều
kiện BH, mức phí BH, số tiền tối thiểu mà các tổ chức, cá nhân tham
gia BH và DNBH có nghĩa vụ thực hiện.
BH bắt buộc chỉ áp dụng với một số loại BH nhằm mục
đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội. Tuy nhiên, tính bắt
buộc không làm mất đi nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng trong quan
hệ hợp đồng khi các bên tự nguyện lựa chọn đối tác và thoả thuận
những vấn đề không phải tuân theo quy định thống nhất của pháp
luật.
- BH PNT tự nguyện: là loại hình BH mà người tham gia
BH có toàn quyền lựa chọn theo nhu cầu và ý muốn của bản thân,
hợp đồng BH được ký kết trên cơ sở tự nguyện giữa người BH và
người tham gia BH.
1.1.1.5. Đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm
Thứ nhất, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình, không tồn
tại dưới dạng vật thể, là sự đảm bảo về mặt vật chất trước những rủi



theo tổn thất đã phát sinh trong quá khứ nhưng lại dùng để thanh
toán cho những tổn thất có thể xảy ra trong tương lai. Trường hợp
phí ấn định quá cao, người được bảo hiểm không được đảm bảo
quyền lợi đặc biệt đối với những nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc.
Ngược lại nếu phí quá thấp sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán
của nhà bảo hiểm trong việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường và chi trả
tiền bảo hiểm.
Thứ tư, sản phẩm bảo hiểm dễ sao chép, bắt chước. Một hợp
đồng bảo hiểm dù là bản gốc cũng không được cấp bằng phát minh,
sáng chế và không được bảo hộ độc quyền. Do đó đối thủ cạnh tranh
có thể bán một cách hợp pháp những bản hợp đồng sao chép.
Thứ năm, sản phẩm bảo hiểm khó xác định hiệu quả kinh
doanh trong từng chu kỳ (bán-mua-bồi thường) Người bán sản phẩm
bảo hiểm thu được phí bảo hiểm từ người mua nhưng người bán có
thể bồi thường cũng có thể không, có thể bồi thường ngay sau khi
bán cũng có thể sau thời gian dài. Vì vậy có thể nói rất khó xác định
hiệu quả kinh doanh trong thời kỳ nhất định (thường là một năm)
1.1.2. Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
1.1.2.1. Khái niệm và các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ


Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ
chức và hoạt động theo quy định của Luật Kinh doanh Bảo hiểm và
các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo
hiểm.
DNBH là một loại doanh nghiệp dịch vụ; hoạt động của nó
cũng nhằm mục đính sinh lời. Điểm khác nhau cơ bản giữa doanh
nghiệp bảo hiểm với các doanh nghiệp khác là ở chỗ: Doanh nghiệp
bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm; nó có trách
nhiệm trả tiền cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được

phí BH cho doanh nghiêp. Ngoài ra, mục đích lớn hơn của hoạt
động nhận tái BH là việc chia sẻ rủi ro giữa các DNBH. Trong mối
quan hệ đan xen với nhau trên thị trường, một DNBH khi thì đứng ở
vị trí người nhận lại rủi ro nhưng có khi lại ở vị trí là người chia sẻ
rủi ro.
- Kinh doanh nhượng tái bảo hiểm: Là việc doanh nghiệp BH,
doanh nghiệp tái BH chuyển một phần hay toàn bộ rủi ro đã nhận
BH cho doanh nghiệp BH khác. Đối với các công ty BH việc đảm
bảo an toàn trong kinh doanh BH luôn được đặt lên hàng đầu và để
thực hiện được điều đó, một công ty BH cũng phải tìm cách tự BH
cho chính bản thân mình thông qua việc nhượng tái BH. Nhượng tái


BH là việc một công ty BH chuyển một phần trách nhiệm BH đã
cam kết với khách hàng (người được BH) của mình cho một hoặc
nhiều công ty khác.
Do nguồn vốn của một DNBH luôn là một số hữu hạn. Tuy
nhiên, với hoạt động kinh doanh BH gốc, tại cùng một thời điểm,
trách nhiệm của DNBH đã cam kết với khách hàng lại là rất lớn.
Trong trường hợp có tổn thất mang tính thảm hoạ thì nguy cơ mất
khả năng thanh toán của DN hoàn toàn có thể xảy ra. Điều này trước
hết dẫn đến phá sản DNBH và sau đó là đẩy khách hàng, những
người đã tham gia BH tại DN đến nguy cơ không khắc phục được
hậu quả tổn thất. Vì vậy, hoạt động nhượng tái BH giúp công ty BH
có được tình hình tài chính lành mạnh, an toàn; giúp người tham gia
BH yên tâm về khả năng chi trả bồi thường của DNBH; giúp DNBH
chủ động tính toán được giới hạn trách nhiệm tài chính tối đa tại một
thời điểm nhất định bất kỳ; giúp chia sẻ rủi ro trong cộng đồng.., từ
đó tạo cho công ty BH một năng lực cạnh tranh tốt nhất để phát triển
hoạt động kinh doanh BH gốc của mình.

KDBH là không xác định được trước. Chi phí trong kỳ tăng, giảm


tuỳ thuộc vào các rủi ro của hợp đồng BH. Nếu xảy ra rủi ro nhiều,
DN bồi thường nhiều nhưng không quá giới hạn trách nhiệm đã thoả
thuận trong hợp đồng BH và ngược lại. Vì vậy, chi phí trực tiếp
KDBH không ổn định vì rủi ro trong BH mang tính ngẫu nhiên và
trách nhiệm của DNBH kéo dài cho đến khi hợp đồng BH hết hiệu
lực. DNBH không biết chính xác vào thời gian nào rủi ro sẽ xảy ra
và mức độ tổn thất là bao nhiêu. Mặt khác, do các yếu tố chi phí
không ổn định và không biết trước nên giá thành dịch vụ BH có thể
khác nhau tuỳ thuộc vào rủi ro BH. Từ đó DNBH khó chủ động
giảm giá thành một cách chính xác, sự cạnh tranh giữa các DNBH
chủ yếu là ở chất lượng phục vụ, uy tín của DN.
Kết quả hoạt động kinh doanh là số tiền chênh lệch giữa doanh
thu, thu nhập trong kỳ với các khoản chi phí tương ứng với số doanh
thu, thu nhập đó. Hay nói cách khác, kết quả hoạt động kinh doanh
số chênh lệch giữa doanh thu thuần với chi phí bán hàng, chi phí
quản lý doanh nghiệp, và kết quả hoạt động tài chính, kết quả hoạt
động khác. Cụ thể kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
bảo hiểm bao gồm:
- Kết quả của hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc và tái bảo
hiểm.
- Kết quả của hoạt động tài chính.
- Kết quả hoạt động khác.


Kết quả hoạt động kinh doanh được xác định như sau:
Kết quả hoạt
động kinh

phí
trực
tiếp
KD
TBH

-

Chi phí
bán hàng,
chi phí
quản lý
doanh
nghiệp

-

Chi phí
bấn hàng,
chi phí
quản lý
doanh
nghiệp

Kết quả hoạt
động kinh
=
doanh tái bảo
hiểm


tài chính

Kết quả hoạt
động tài chính

=

-

Kết quả hoạt
Thu nhập hoạt
Chi phí hoạt động
=
động khác
động khác
khác
1.2. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH BẢO
HIỂM
1.2.1. Khái niệm, bản chất hiệu quả kinh doanh bảo hiểm
1.2.1.1. Quan điểm, Khái niệm cơ bản về hiệu quả kinh doanh bảo
hiểm


Ngày nay, ở mỗi lĩnh vực khác nhau thì người ta có những khái
niệm khác nhau về hiệu quả, và thông thường khi nói đến hiệu quả
của một lĩnh vực nào đó thì người ta gắn ngay tên của lĩnh vực đó
liền ngay sau hiệu quả. Tương ứng với các lĩnh vực kinh tế, chính trị
và xã hội là 2 phạm trù hiệu quả: Hiệu quả kinh tế và Hiệu quả chính
trị và hiệu quả xã hội.
* Hiệu quả kinh tế

chi phí nhất định hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối
thiểu.
* Hiệu quả xã hội và hiệu quả chính trị
Hiệu quả xã hội là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn
lực sản xuất xã hội nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định.
Nếu đứng trên phạm vi toàn xã hội và nền kinh tế quốc dân thì hiệu
quả xã hội và hiệu quả chính trị là chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng của
hoạt động kinh doanh đối với việc giải quyết những yêu cầu và mục
tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội. Bởi vậy hai loại hiệu quả
này đều có vị trí quan trọng trong việc phát triển đầu nước một cách


toàn diện và bền vững. Đây là chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển
của nền kinh tế xã hội ở các mặt: trình độ tổ chức sản xuất, trình độ
quản lý, mức sống bình quân... thực tế ở các nước tư bản chủ nghĩa
đã cho thấy các doanh nghiệp tư bản chỉ chạy theo hiệu quả kinh tế
mà không đặt vấn đề hiệu quả chính trị xã hội đi kèm và dẫn đến
tình trạng: thất nghiệp, khủng hoảng có tính chu kỳ, ô nhiễm môi
trường, chênh lệch giàu nghèo quá lớn...
1.2.1.2. Bản chất của hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của
các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực
kinh doanh (lao động, máy móc thiết bị, nguyên liệu, tiền vốn) trong
quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất, hoạt động kinh doanh
cuả doanh nghiệp. Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao
năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai
mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh doanh. Chính
việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính chất cạnh
tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hôị, đặt ra yêu
cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực. Để



doanh so với một chỉ tiêu phản ánh chi phí sẽ được một chỉ tiêu
phản ánh hiệu quả.
Việc phản ánh tình hình sử dụng các loại chi phí trong việc tạo
ra những kết quả kinh doanh là nội dung cơ bản của hiệu quả kinh tế
nói chung và hiệu quả kinh doanh bảo hiểm nói riêng. Nội dung này
được phản ánh bởi nhiều chỉ tiêu. Mỗi chỉ tiêu hiệu quả biểu thị một
mặt, một yếu tố hay một loại chi phí nào đó trong quá trình sử dụng.
Các chỉ tiêu này lại mang tính tương đối, tức là nó phản ánh mức độ
đạt được để từ đó so sánh với năm trước hoặc những năm trước nữa
xem nó tăng, giảm và biến đổi thế nào. Xu hướng biến động nhanh
hay chậm cho thấy sự tốt lên hay xấu đi trong quá trình sử dụng chi
phí hoặc các nguồn lực.
Hiệu quả kinh doanh bảo hiểm gắn liền với những mục tiêu mà
doanh nghiệp bảo hiểm đặt ra, gồm cả những mục tiêu kinh tế và
mục tiêu xã hội. Nguyên tắc ‘ lấy số đông bù số ít’ trong kinh doanh
bảo hiểm càng làm cho tính chất xã hội hóa của bảo hiểm rõ nét hơn.
Do đó hiệu quả xã hội của DNBH cũng phải được phản ánh ở trình
đọ sử dụng chi phí trong việc tạo ra những kết quả phục vụ xã hội
của doanh nghiêp.
Nội dung hoạt động kinh doanh chủ yếu của mọi doanh nghiệp
bảo hiểm là kinh doanh bảo hiểm (gồm kinh doanh bảo hiểm gốc và
kinh doanh tái bảo hiểm) và đầu tư vốn. Do đó ngoài những chỉ tiêu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status