ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN TRỌNG DŨNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐẤU
GIÁ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa được sử dụng vào công trình khoa học nào.
Tác giả luận văn
Trần Trọng Dũng
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bản luận văn này, trước hết tôi xin chân thành
cảm ơn thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Khắc Thái Sơn đã trực tiếp hướng dẫn
tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự
góp ý chân thành của các thầy, cô giáo khoa Quản lý Tài nguyên, Khoa sau
Đại học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi thực hiện đề tài. Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Hà Tỉnh, sự quan tâm tạo điều kiện của Phòng Tài
1.4.1. Trung Quốc. ...................................................................................... 11
1.4.2. Đài Loan............................................................................................. 12
1.4.3 Nhật Bản. ........................................................................................... 13
1.5. THỰC TRẠNG ĐẤU GIÁ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM . 13
1.5.1. Thị trường đất đai ở Việt Nam trong những năm qua ........................ 13
1.5.2. Những quy định của pháp luật về đấu giá quyền sử dụng đất............. 18
1.5.3. Quá trình hình thành chủ trương đấu giá ở Việt Nam ........................ 21
1.6. CÔNG TÁC ĐẤU GIÁ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở MỘT SỐ ĐỊA
PHƯƠNG..................................................................................................... 30
1.6.1. Đấu giá quyền sử dụng đất ở thành phố Hà Nội................................. 30
1.6.2. Đấu giá quyền sử dụng đất ở thành phố Đà Nẵng .............................. 32
1.6.3. Công tác đấu giá quyền sử dụng đất tại Thành phố Hồ Chí Minh ...... 32
1.6.4. Công tác đấu giá quyền sử dụng đất tại tỉnh Hà Tĩnh......................... 33
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU............................................................................................ 35
2.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ....................................... 35
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ......................................................................... 35
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 35
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU................................................................... 36
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................................................... 38
2.3.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu ................................................... 38
2.3.2. Phương pháp thu thập số liệu.............................................................. 38
2.3.3. Phương pháp xử lý, tổng hợp, phân tích số liệu .................................. 38
2.3.4. Phương pháp chuyên gia..................................................................... 39
2.3.5. Phương pháp biểu đạt kết quả nghiên cứu........................................... 39
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ....................... 40
3.1. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA THÀNH PHỐ HÀ TĨNH,
TỈNH HÀ TĨNH........................................................................................... 40
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UBND
Ủy ban nhân dân
BĐS
Bất động sản
T.W
Trung ương
NN
Nông nghiệp
SDĐ
Sử dụng đất
QSDĐ
Quyền sử dụng đất
GCN
Giấy chứng nhận
MCL
Mức chênh lệch
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 thành phố Hà Tĩnh................... 50
Bảng 3.2: Kết quả đấu giá quyền sử dụng đất năm 2012 tại dự án khu dân cư
vùng Đội Thao - Vườn Cộ thuộc xã Thạch Trung........................................... 65
Bảng 3.3: Kết quả đấu giá quyền sử dụng đất năm 2013 tại dự án khu dân cư
vùng Đội Thao - Vườn Cộ thuộc xã Thạch Trung........................................... 66
Bảng 3.4: Tổng hợp kết quả đấu giá quyền sử dụng đất năm 2012 và 2013
tại dự án khu dân cư vùng Đội Thao - Vườn Cộ thuộc xã Thạch Trung ........... 66
Bảng 3.5: Kết quả đấu giá QSD đất năm 2012 tại khu dân cư Đồng Trọt ..... 70
Bảng 3.6: Kết quả đấu giá QSD đất năm 2013 tại khu dân cư Đồng Trọt ..... 71
Bảng 3.7: Tổng hợp kết quả đấu giá quyền sử dụng đất năm 2012 và 2013
tại dự án khu dân cư Đồng trọt - Thạch Quý................................................... 71
Bảng 3.8: Kết quả đấu giá quyền sử dụng đất ngày 06/7/2008 tại Khu
đô thị Bắc Thành phố thuộc phường Nguyễn Du Thành phố Hà Tĩnh .......... 75
Bảng 3.9: Kết quả đấu giá quyền sử dụng đất ngày 15/8/2008 tại Khu
đô thị Bắc Thành phố thuộc phường Nguyễn Du Thành phố Hà Tĩnh .......... 76
Bảng 3.10: Tổng hợp kết quả đấu giá quyền sử dụng đất phiên ngày 06/7 và
ngày 15/8/2008 Khu đô thị Bắc Thành phố thuộc phường Nguyễn Du
Thành phố Hà Tĩnh ...................................................................................... 77
Bảng 3.11: Kết quả đấu giá quyền sử dụng đất tại dự án Khu đô thị hai bên
đường bao phía Tây thuộc phường Trần Phú Thành phố Hà Tĩnh ................ 80
Bảng 3.12: Tổng hợp kết quả chênh lệch giữa giá quy định và giá trúng
đấu giá của 4 dự án....................................................................................... 81
Bảng 3.13: Sự hiểu biết của cán bộ tổ chức đấu giá về đấu giá QSD đất ...... 82
vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội (gọi chung là
tổ chức), hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài dưới hình thức giao
đất không thu tiền sử dụng đất và giao đất có thu tiền sử dụng đất. Nhà nước
còn cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất[12].
Điều 12, Luật Đất đai 1993 cũng đã quy định “Nhà nước xác định giá
các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc
cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi
thu hồi đất. Chính phủ quy định khung giá các loại đất đối với từng vùng và
theo từng thời gian[12].
Để phát huy được nguồn nội lực từ đất đai phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, từ năm 1993 Thủ tướng Chính phủ đã cho
phép thực hiện chủ trương sử dụng quỹ đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng.
Hình thức này trong thực tế đã đạt được một số thành quả làm thay đổi bộ mặt
của một số địa phương, nhưng trong quá trình thực hiện đã bộc lộ một số khó
khăn tồn tại như việc định giá cho các khu đất dùng để thanh toán chưa có cơ
sở, việc giao đất thanh toán tiến hành không chặt chẽ… Để khắc phục những
tồn tại đó trong những năm gần đây Nhà nước đã thay đổi cơ chế đối với việc
dùng qũy đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng theo hướng đấu thầu dự án hoặc
đấu giá quyền sử dụng đất. Qua thực tế cho thấy công tác đấu giá quyền sử
2
dụng đất đã thực sự là một hướng đi mới cho thị trường bất động sản ở nước
ta. Giá đất quy định và giá đất theo thị trường đã xích lại gần nhau hơn thông
qua việc đấu giá quyền sử dụng đất. Từ đó, Nhà nước có cơ sở để điều chỉnh
những quy định hiện hành.
Thành phố Hà Tĩnh thuộc vùng Bắc Trung bộ, có 16 Phường, xã với
tổng diện tích tự nhiên là 5662.92 ha. Trong đó có 2909,48 ha đất nông
nghiệp; 2413,95 ha đất phi nông nghiệp; 339,49 ha đất chưa sử dụng [25].
- Đánh giá được hiệu quả của việc đấu giá quyền sử dụng đất ở tại một
số dự án điển hình trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đề xuất được một số giải pháp khắc phục những khó khăn, tồn tại sao
cho công tác đấu giá quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh
Hà Tĩnh trong giai đoạn tới đạt hiệu quả cao hơn.
3. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Ý nghĩa khoa học
Từ kết quả nghiên cứu để có thể đề xuất, rút ra những quy định chung
nhất xây dựng quy trình đấu giá quyền sử dụng đất hoàn thiện, đem lại hiệu
quả cao cho công tác đấu giá quyền sử dụng đất.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua việc nghiên cứu chính sách pháp luật của Nhà nước quy
định về quyền sử dụng đất để đưa ra giá đất của Nhà nước sát với giá thị
trường, các giao dịch thành công sẽ là kinh nghiệm, những bài học cho sự
thành công trong công tác đấu giá quyền sử dụng đất.
Đấu giá quyền sử dụng đất sẽ góp phần làm cho thị trường bất động sản
ở từng địa phương nói riêng và cả nước nói chung đảm bảo được tính minh
bạch, dân chủ và tăng nguồn thu nhập cho ngân sách Nhà nước.
4
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. KHÁI NIỆM BẤT ĐỘNG SẢN VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG
SẢN
1.1.1. Bất động sản
Trong lĩnh vực kinh tế và pháp lý, tài sản được chia thành 2 loại BĐS
và động sản. Mặc dù tiêu chí phân loại BĐS của các nước có khác nhau,
hàng hoá với 3 yếu tố xác định là sản phẩm, số lượng và giá cả [30]
Chức năng của thị trường BĐS là đưa người mua và người bán BĐS
đến với nhau; xác định giá cả cho các BĐS giao dịch; phân phối BĐS theo
quy luật cung cầu; phát triển BĐS trên cơ sở tính cạnh tranh của thị trường. [29]
1.1.3. Một số khái niệm khác
- Đấu giá: Là bán bằng hình thức để cho người mua lần lượt trả giá và
người trả giá cao nhất thì được mua.
- Đấu thầu: Là đấu giá trước công chúng, ai nhận làm hoặc nhận bán
với giá rẻ nhất thì được giao cho làm hoặc được bán hàng.
- Định giá: Là sự ước tính về giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể
bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định, tại một thời điểm
xác định.
- Định giá đất: Được hiểu là sự ước tính về giá trị của quyền sử dụng
đất bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích sử dụng đã được xác định, tại một
thời điểm xác định.
Giá cả: Là biểu thị bằng tiền về giá trị của một tài sản, là số tiền thoả
thuận giữa người mua và người bán tại một thời điểm xác định. Giá cả có thể
lớn hơn hoặc nhỏ hơn giá trị thị trường của tài sản. [4], [8], [9].
1.2. GIÁ ĐẤT VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA GIÁ ĐẤT
1.2.1. Khái niệm về giá đất
Đất đai là sản phẩm phi lao động, bản thân nó không có giá trị. Do đó
đối với đất đai mà nói, giá cả đất đai phản ánh tác dụng của đất đai trong hoạt
động kinh tế, nó là sự thu lợi trong quá trình mua bán, có nghĩa là tư bản hóa
địa tô. Xét về phương diện tổng quát, giá đất là giá bán quyền sở hữu đất chính
6
là mệnh giá của quyền sở hữu mảnh đất đó trong không gian và thời gian xác định.
Ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân, giá cả đất đai là dựa trên
nông nghiệp tạo ra và nộp cho người chủ sở hữu ruộng đất. Ðịa tô gắn liền
với sự ra đời và tồn tại của chế độ tư hữu về ruộng đất đã từng tồn tại trong
các chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cả trong thời kì
đầu của chủ nghĩa xã hội. Về thực chất, địa tô tư bản chủ nghĩa chính là phần
giá trị thặng dư thừa ra ngoài lợi nhuận bình quân và do nhà tư bản kinh doanh
nông nghiệp trả cho địa chủ. Trong chủ nghĩa tư bản, có các loại địa tô: địa tô
chênh lệch, địa tô tuyệt đối và địa tô độc quyền. Trong chủ nghĩa xã hội, khi
ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân, không còn là tư hữu của địa chủ hay nhà tư
bản, thì những cơ sở kinh tế để hình thành địa tô tuyệt đối cũng bị xóa bỏ,
nhưng vẫn tồn tại địa tô chênh lệch, song nó thuộc sở hữu của Nhà nước và
khác về bản chất với địa tô chênh lệch dưới Chủ nghĩa Tư bản[21].
Địa tô chênh lệch loại địa tô mà chủ đất thu được do có sở hữu những
ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn như ruộng đất có độ màu mỡ
cao hơn, có vị trí gần thị trường tiêu thụ hơn, hoặc tư bản đầu tư thêm có
hiệu suất cao hơn. Có hai loại địa tô chênh lệch: địa tô chênh lệch I và địa tô
chênh lệch II. Ðịa tô chênh lệch I là địa tô chênh lệch thu được trên những
ruộng đất có độ màu mỡ tự nhiên trung bình và tốt, có vị trí gần thị trường
tiêu thụ. Ðịa tô chênh lệch II là địa tô chênh lệch thu được do thâm
canh[21].
Ðịa tô tuyệt đối, người sở hữu đất đai nhờ mượn quyền sở hữu đất
mà thu được địa tô là số dư của giá trị hàng nông sản vượt quá giá cả sản
xuất mà người làm nông nghiệp tạo ra. Giá trị thặng dư do công nhân nông
nghiệp làm ra là nguồn gốc của địa tô tuyệt đối. Sự độc quyền tư hữu đất
đai là nguyên nhân căn bản hình thành địa tô tuyệt đối. Cấu thành hữu cơ
của tư bản trong nông nghiệp thấp hơn cấu thành hữu cơ của tư bản bình
quân xã hội là điều kiện hình thành địa tô tuyệt đối[21].
Địa tô độc quyền là hình thức đặc biệt của địa tô tư bản chủ nghĩa. Địa
tô độc quyền có thể tồn tại trong nông nghiệp, công nghiệp khai thác và ở các
khu đất trong thành thị. Trong nông nghiệp, địa tô độc quyền có ở các khu đất
hàng mà cao thì số tiền mua đất phải giảm đi, nếu không thì đem tiền gửi
vào ngân hàng sẽ có lợi hơn là mua đất để có địa tô. Còn nếu lãi suất ngân
hàng mà giảm xuống thì số tiền bỏ ra mua đất phải tăng lên do người bán
9
không muốn bán với giá thấp. Trong phạm vi nền kinh tế quốc dân có thể
nói lãi suất ngân hàng là như nhau, không kể ở nông thôn hay thành thị,
nếu có chênh lệnh thì cũng không đáng kể. Như vậy, lãi suất ngân hàng chỉ
quyết định giá đất đai nói chung, chứ không quyết định giá đất đô thị cao
hơn giá đất nông nghiệp.
Giả sử chúng ta đã có thị trường vốn, các dịch vụ ngân hàng, tài chính
rất thuận lợi thì kinh doanh đất đai cũng sẽ là một hướng kinh doanh mà
không bị pháp luật ngăn cản, người kinh doanh đất đai không có những lo
ngại về sự rủi ro có thể xẩy ra mà những sự rủi ro này chủ yếu liên quan đến
các điều luật không nhất quán thì người kinh doanh đất đai cũng sẽ hành
động như các nhà kinh doanh bình thường khác tức là so sánh thu nhập do sử
dụng đất mang lại và chi phí đã bỏ ra tức là:
Tiền thuê đất + chi phí cho lãi suất + chi phí sử dụng đất < thu nhập do
đất mang lại. Hay tiền thuê đất < thu nhập do đất mang lại - chi phí cho lãi
suất - chi phí sử dụng đất.
Hay có thể viết dưới dạng: Tiền thuê đất = Tiền thu nhập do đất
mang lại - chi phí sử dụng đất - chi phí cho lãi suất - Et.
Trong đó Et là khoảng đệm của chính sách giá thuê đất đai. Công
thức này được giải thích như sau: Nhà kinh doanh đất đai coi tiền thuê đất là
một khoản chi phí. Để có khoản này anh ta phải vay ngân hàng với lãi suất
nào đó, do vậy khoản chi trả lãi suất ngân hàng phải được xem như một
khoản chi phí. Ngoài ra, để cho miếng đất có thể sinh lời, anh ta phải đầu tư
thêm các chi phí nhằm làm tăng giá trị sử dụng của đất đai, các khoản này
có nhà để ở [21].
1.2.3. Những yếu tố cơ bản xác định giá đất trong đấu giá quyền sử dụng đất
Đất đai dùng vào các mục đích khác nhau thì khả năng sinh lợi khác
nhau, khả năng sinh lợi phụ thuộc vào sự thuận lợi của mảnh đất bao gồm các
yếu tố sau:
- Vị trí của khu đất :
- Yếu tố ảnh hưởng về khả năng đầu tư cơ sở hạ tầng:
- Điều kiện kinh tế - xã hội và các công trình dịch vụ:
- Yếu tố về khả năng sử dụng theo các mục đích và yêu cầu khác nhau:
11
1.3. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA ĐỀ TÀI
- Luật tổ chức HĐND, UBND các cấp năm 1994 và năm 2003;
- Luật đất đai năm 2003;
- Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005 của Chính phủ về bán
đấu giá tài sản.
- Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg ngày 31/08/2005 của Thủ tướng
Chính phủ về việc ban hành quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có
thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất;
- Chỉ thị 18/2006/CT-TTg ngày 15/05/2006 của Thủ tướng Chính phủ
về việc tăng cường thực hiện Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005
của Chính phủ về bán đấu giá tài sản.
- Thông tư số 96/2006/TT-BTC ngày 16/10/2006 của Bộ Tài Chính
hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng chi phí đấu giá.
- Nghị định 69/2009/NĐ- CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ bổ sung
về quy hoạch sử dụng đất, giao đất, thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/03/2010 của Chính phủ về
xây dựng khác.
Việc xuất nhượng quyền sử dụng đất bằng phương thức đấu giá, đấu
thầu hoặc thoả thuận song phương hiện nay chủ yếu được giao cho Trung tâm
Tư vấn và Định giá BĐS Trung Quốc (CRECAC) là một Viện Quốc gia đầu
tiên về BĐS chuyên trách cung cấp các dịch vụ cho việc phát triển và chuẩn
hoá thị trường BĐS ở Trung Quốc. CRECAC chủ yếu cung cấp những dịch
vụ như: Định giá BĐS, Định giá tài sản, Tư vấn về đất xây dựng, Văn phòng
thương mại về BĐS, Lập kế hoạch đầu tư cho các dự án BĐS,[6], [17], [29], [19].
1.4.2. Đài Loan
Theo T.S Tôn Dật Tiên, công cuộc cải cách ruộng đất ở Trung Hoa
được tiến hành trên hai phương diện: phân bổ đất đai và sử dụng đất đai.
Áp dụng các giáo huấn đó, Đài Loan đã tiến hành song song hai
chương trình là “người cày có ruộng” và “bình quyền về đất đô thị” với
13
nguyên tắc chủ đạo tối cao của công cuộc cải cách là sử dụng đất một cách tối
ưu. Chương trình “bình quyền về đất đô thị” kêu gọi thực thi bình quyền về
đất đô thị và đóng góp tất cả lợi nhuận thu được từ đất đô thị cho mục đích
công cộng. Mục tiêu cao nhất của chương trình là đưa tất cả giá trị gia tăng
của đất vào công quỹ nhằm cung cấp tài chính cho những đề án phát triển
cộng đồng và tăng phúc lợi cho nhân dân[29].
1.4.3 Nhật Bản.
Tại Nhật Bản, việc đấu giá BĐS chủ yếu được thực hiện đối với các tài
sản bảo lãnh, cầm cố quá hạn hoặc thi hành án theo quyết định của toà án.
Sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế, tình hình đấu giá đất trên thị trường
BĐS cũng bị ảnh hưởng rất lớn bởi sự suy thoái kinh tế, các nhà chuyên kinh
doanh BĐS cũng như các con nợ và toà án đều tập trung giải quyết những
BĐS đang bị các ngân hàng cầm cố và tiến hành đấu giá. Khi toà án địa
như không được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên trên thực tế vẫn có những
giao dịch về nhà, đất nhưng với phạm vi và quy mô nhỏ bé, chủ yếu là chuyển
nhượng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước theo phương thức hoa hồng (Chuyển
quyền cho thuê). Giá đất hình thành mang tính chất tự phát và nằm ngoài sự
kiểm soát của pháp luật.
c. Từ năm 1980 đến trước 1993.
Tại điều 19 của Hiến pháp năm 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu
toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Để cụ thể hoá điều 19 của Hiến
pháp, tại điều 5 và điều 17 Luật đất đai năm 1988 đã quy định: Nghiêm cấm
việc mua, bán đất đai; khi chuyển quyền sở hữu nhà để ở, thì người nhận
chuyển nhượng nhà có quyền được sử dụng đất ở đối với ngôi nhà đó. Như
vậy, bằng các chế định pháp luật, Nhà nước Việt Nam thừa nhận ở Việt Nam
có thị trường đất đai mà chỉ có thị trường bất động sản là nhà để ở [20] (mặc
dù trên thực tế thị trường ngầm về đất đai đang tồn tại và diễn ra sôi động ở
hầu hết các đô thị).
d. Giai đoạn từ 1993 đến nay:
Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nước thống nhất quản lý. Tuy nhiên, để phù hợp với sự vận động và phát
triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, một số quan hệ
đất đai đã được chế định lại. Điều 12 Luật Đất đai năm 1993 quy định: “Nhà nước
xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao
15
đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất
khi thu hồi”. Đây là lần đầu tiên giá đất và việc xác định giá đất được pháp luật
ghi nhận là một chế định pháp luật và được đưa thành một nội dung quản lý Nhà
nước về đất đai (quy định tại Khoản 1 Điều 13 Luật đất đai năm 1993)[12].
1.5.1.2. Đánh giá nhu cầu về bất động sản ở Việt Nam
càng có khả năng bất biến, thì giá của nó sẽ thay đổi càng lớn theo vùng.
giá
p'
p
d’
s
d
số lượng
Q Q'
Hình 1.2: Đồ thị cung và cầu đất đai đối với một thị trường đặc thù
b. Các nhu cầu về đất đai
Từ năm 2000 đến nay, công tác quản lý và sử dụng đất đai ở nước ta đã
có nhiều chuyển biến tích cực, các loại đất được khai thác sử dụng triệt để, tiết
kiệm. Theo Cục Thống kê Báo cáo tổng điều tra đất đai năm 2010, tổng diện
tích các loại đất kiểm kê của cả nước là 33.093.857 ha. Trong đó diện tích các
loại đất: Sản xuất NN, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, và đất ở qua các kỳ
biến động như sau:
Bảng 1.1. Bảng so sánh diện tích các loại đất
Đơn vị tính : ha
LOẠI ĐẤT
1. Diện tích đất sản
xuất nông nghiệp
2. Đất lâm nghiệp
3. Đất chuyên dùng
4. Đất ở (ĐT và NT)
443.178
14.677.409
1.383.766
598.428
15.249.025
1.794.479
680.477
3.102.382
311.564
155.250
571.616
410.713
82.049
Nguồn: Cục Thống kê (tổng điều tra đất đai năm 2000, năm 2005
và năm 2010).
Phục vụ cho các mục tiêu trên, từ 2000 đến nay cả nước đã thực hiện
việc giao đất đối với các loại đất như sau:
- Đất nông nghiệp: Giao gần 9,4 triệu ha cho 12 triệu tổ chức, hộ gia