HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG KH&CN PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH LÀO CAI GIAI ĐOẠN 2010 – 2013 - Pdf 35

HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG KH&CN PHỤC VỤ
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH LÀO CAI GIAI ĐOẠN 2010 – 2013
Ths. Phạm Thị Hồng Loan
Phó Giám đốc Sở KH&CN Lào Cai
Mục đích của Nghị quyết Trung ương 7 là xây dựng nền nông nghiệp phát
triển toàn diện, hiện đại, tạo ra các sản phẩm hàng hóa có giá trị cao. Vì vậy,
KH&CN có vai trò hết sức quan trọng, là một trong những yếu tố mang tính quyết
định sự phát triển nông nghiệp nước Nhà.
Với quan điểm đó, các hoạt động khoa học và công nghệ tỉnh Lào Cai đã tập
trung thúc đẩy ngành sản xuất nông nghiệp, đã thu được kết quả khá toàn diện, góp
phần quan trọng trong việc tăng năng suất, sản lượng, chất lượng sản phẩm nông,
lâm, thuỷ sản, thúc đẩy nhanh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản
xuất hàng hoá chất lượng.
Từ năm 2010 đến nay, đã triển khai thực hiện 64 đề tài, dự án (duyệt mới 39
đề tài/dự án và chuyển tiếp là 25). Trong đó, lĩnh vực nông nghiệp là 45 đề tài chiếm
70,3%, còn lại là các lĩnh vực khác. Một số kết quả nổi bật là:
Đối với lĩnh vực cây trồng:
Cây lương thực: Chọn tạo được 03 giống lúa lai (LC25, LC212, LC270) mang
thương hiệu Lào Cai năng suất trung bình đạt 70-80 tấn/ha đã được Bộ NN&PTNT
công nhận giống mới và được giải Bông lúa vàng năm 2012. Bên cạnh đó hiện nay
đang tiếp tục chọn lọc, duy trì sản xuất hạt giống gốc dòng mẹ của các tổ hợp lúa lai 2
dòng kháng bệnh bạc lá. Khảo nghiệm và lựa chọn được 6 giống mới phù hợp điều kiện
Lào Cai gồm: 02 giống lúa JAPONICA (ĐS1 và J01) có năng xuất, chất lượng cao, phù
hợp điều kiện tự nhiên của Lào Cai, hiện các giống này đã được nhân rộng trên 500 ha
trong năm 2012 ở các huyện vùng thấp như Bảo Thắng, Bảo Yên, Văn Bàn, Bát Xát …,
năng suất đạt từ 60-65 tạ/ha); 02 giống ngô (LVN61 và LCH9) là các giống có năng suất
cao đạt 65-70 tấn/ha cao gấp 1,5 lần so với năng suất bình quân cây ngô toàn tỉnh và khả
năng chống chịu sâu bệnh hại tốt, cơ cấu giống ngô lai chiếm 94,2%; 2 giống khoai
lang (KLC3, VC68-2) có năng suất đạt 20-25 tấn/ha cao gấp trên 2 lần giống địa phương
đang trồng. Ngoài ra, bảo tồn, khai thác và phát triển được 03 giống lúa bản địa có giá
trị kinh tế cao đó là: Lúa Séng Cù, Khẩu Nậm Xít và Chăm Pét, 3 giống này hiện nay

sản xuất hàng hóa mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Cây chè: KH&CN đã góp phần quan trọng trong phát triển cả về diện tích và
chất lượng chè của tỉnh. Tiến hành các nghiên cứu nhằm bảo tồn nguồn gen các giống
cây trồng bản địa như giống chè tím tại huyện Mường Khương; triển khai Dự án Xây
dựng vùng sản xuất chè an toàn theo hướng VietGAP tại huyện Mường Khương và
nay 1000 ha chè tại Mường Khương đã được công nhận sản xuất chè an toàn theo
hướng VietGAP.
Cây Lâm nghiệp: Đã tiến hành nghiên cứu bảo tồn và phát triển một số loài
cây bản địa quý hiếm có giá trị kinh tế và ý nghĩa khoa học đó là: Bách tán Đài Loan,
Táo mèo và cây keo lai ... và một số nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật mới trong công tác
xác định nguy cơ và phòng cháy rừng như kỹ thuật GIS và xây dựng băng cản lửa.
Lĩnh vực chăn nuôi, thủy sản:
Chăn nuôi: Tăng cường nghiên cứu chọn lọc, phục tráng và phát triển các
giống gia súc, gia cầm bản địa như lợn đen Mường Khương, Bắc Hà; gà ác Hmong...
hàng năm sản xuất hàng nghìn con giống chất lượng tốt cung ứng tại chỗ cho sản xuất,
hạn chế việc nhập con giống từ nơi khác đến, an toàn dịch bệnh tăng hiệu quả kinh tế
cho hộ chăn nuôi. Ngoài ra tích cực khảo nghiệm, thử nghiệm nuôi các giống mới như: lợn
rừng, gà Hmông, gà Ai Cập, kỳ đà, dúi, nhím, rắn hổ mang. gà Đông Tảo, Gà Zô la,
chim Bồ Câu Pháp.... và đặc biệt là đưa ong ngoại vào nuôi khảo nghiệm theo hướng quy
mô trang trại phù hợp từ khâu sản xuất đến khâu chế biến tạo sản phẩm an toàn VSTP cho hiệu
quả kinh tế rất cao. Nhiều hộ gia đình đã mạnh dạn áp dụng các giống gia súc, gia cầm

có năng suất cao, chất lượng tốt, sản xuất theo hướng công nghiệp, bước đầu đã cho
hiệu quả kinh tế cao như phát triển đàn lợn lai tại các huyện vùng thấp, đàn ngựa lai
Cabadin, trâu Bảo Yên...
Thủy sản: Đã có nhiều dự án khuyến khích hỗ trợ các tổ chức cá nhân trong tỉnh


ứng dụng công nghệ tiên tiến để sản xuất, phát triển các loài thủy sản có giá trị kinh tế
cao như: cá Hồi, cá tầm, cá chiên, Ba Ba gai, ...Tiến hành khảo nghiệm sinh sản nhân

mùa, tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp bình quân đạt 6,57%, đã bổ sung 11cây
con, giống mới có năng suất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện của Lào Cai vào
cơ cấu giống của tỉnh Bảo tồn, khai thác và phát triển được 05 giống cây con, bản địa
có giá trị kinh tế cao góp phần bảo tồn nguồn gen và phát triển kinh tế bền vững từ đó
đã góp phần quan trọng để sản lượng lương thực tỉnh năm 2012 đạt 260 nghìn tấn về
trước 3 năm so với mục tiêu của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đề ra. Chăn nuôi
phát triển khá ổn định, tốc độ tăng trưởng bình quân 6,19%/năm; giá trị sản xuất
ngành thủy sản đạt 124,2 tỷ đồng, tăng 39,47 tỷ đồng so với năm 2010, tốc độ tăng
trưởng bình quân 21,1%. Giá trị sản phẩm thu hoạch trên 1 ha đất trồng trọt và nuôi
trồng thủy sản đạt 39 triệu đồng, tăng 21 triệu đồng so với năm 2008.
Tuy nhiên, việc ứng dụng tiến bộ KH&CN trong sản xuất, đời sống cũng còn
những khó khăn, hạn chế nhất định như: nguồn nhân lực hoạt động KH&CN còn ít,


thiếu các chuyên gia đầu ngành; việc ứng dụng khoa học và công nghệ còn nhỏ lẻ, kết
quả một số đề tài, dự án nghiên cứu khoa học chưa được áp dụng rộng rãi vào sản
xuất; các huyện, thành phố chưa có cán bộ chuyên trách quản lý nhà nước về khoa
học và công nghệ, hầu hết hoạt động kiêm nhiệm nên chất lượng chưa cao.
Để phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp, từ nay
đến năm 2015 tập trung thực hiện một số định hướng:
- Nghiên cứu, ứng dụng để tạo ra các sản phẩm chủ lực trong sản xuất nông lâm
nghiệp của tỉnh thông qua các hoạt động: Tập trung nghiên cứu chọn tạo một số
giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất chất lượng cao mang thương hiệu của
tỉnh; Bảo tồn, khai thác, phát triển các nguồn gen cây trồng, vật nuôi đặc hữu, quý
hiếm có giá trị kinh tế cao của tỉnh để tạo ra các sản phẩm đặc sản, hướng tới sản xuất
hàng hóa tăng thu nhập cho người dân địa phương; Khảo nghiệm đưa vào sản xuất
một số giống mới có năng suất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện của Lào Cai,
qua đó sẽ bổ sung vào cơ cấy cây trồng tăng vụ nâng cao hiệu quả trên một đơn vị
diện tích đất canh tác; Thử nghiệm phương thức canh tác bền vững theo tiêu chuẩn
Quốc gia, Quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất hàng hóa phù hợp từng vùng sinh


phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Một số kết quả ứng dụng tiến bộ khoa
học và công nghệ nổi bật trong năm
2013 là:
Trong lĩnh vực nông nghiệp và
nông thôn: KH&CN đã góp phần tích
cực trong việc nâng cao năng suất cây
trồng góp phần ổn định cuộc sống cho
nhân dân các dân tộc vùng cao và công
cuộc xóa đói giảm nghèo của tỉnh.

Mô hình trồng địa lan tại Sa Pa
(ảnh: Ngọc Thắng)
Về cây lúa, diện tích gieo cấy vụ
xuân đạt 9.885 ha, trong đó giống lúa lai
chiếm 49,3%, giống lúa chất lượng cao
chiếm 23,2% bao gồm các giống Séng
cù, ĐS1, Bắc thơm và Hương thơm,
năng suất bình quân đạt 56,2 tạ/ha sản
lượng đạt 55.553 tấn; Tăng cường sản
xuất hạt giống lúa lai và lúa thuần chất
lượng cao tại tỉnh, diện tích lúa lai vụ
xuân là 73 ha, năng suất đạt 2,5 tấn/ha hạt
lai F1, sản lượng dự kiến đạt 182 tấn, sản
xuất 05 ha giống lúa séng cù cấp nguyên
chủng, sản lượng đạt 20 tấn và 7 ha hạt
giống cấp xác nhận năng suất đạt 5
tấn/ha, sản lượng 35 tấn; Cây ngô diện
tích trồng 23.772 ha, trong đó ngô đông

doanh thu khoảng 24 tỷ đồng ...
Để khai thác lợi thế vùng ôn đới,
Lào Cai tiếp tục phát triển một số giống
hoa như hoa hồng, hoa lý, hoa lan tại Sa
Pa, Bắc Hà đồng thời nghiên cứu, chọn
tạo và phát triển một số dòng cây ăn quả
ôn đới có chất lượng và giá trị kinh tế
cao như: mận tam hoa Bắc Hà; cây Lê
VH6 và giống đào Pháp chín sớm xây
dựng tạo lập, quản lý và phát triển nhãn
hiệu chứng nhận “Mận Bắc Hà” nhằm
nâng cao giá trị sản phẩm mận địa
phương và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Ngoài ra, cây ăn quả nhiệt đới như
chuối, dứa cũng được nhân dân quan
tâm phát triển, đã tạo ra những vùng sản
xuất hàng hóa mang lại hiệu quả kinh tế
cao.


Đối với cây chè: KH&CN đã góp
phần quan trọng trong phát triển cả về
diện tích và chất lượng chè của tỉnh.
Đến nay tổng diện tích chè tập trung
toàn tỉnh đạt trên bốn ngàn ha, trong đó
chè kinh doanh đạt gần ba ngàn ha, năng
suất bình quân đạt 45,9 tạ/ha, sản lượng
chè búp tươi cả năm ước đạt 13.639 tấn.
Đồng thời để nâng cao chất lượng sản
phẩm, Lào Cai đã triển khai Dự án Xây

sản xuất con giống tại chỗ được đặc biệt
quan tâm, bước đầu đã đảm bảo đủ số
lượng, chất lượng đáp ứng nhu cầu con
giống nuôi thương phẩm của nhân dân,
6 tháng đầu năm 2013 đã sản xuất được
3,6 triệu con giống cá rô phi đơn tính,
chép lai ba máu, mè…, đã cung ứng cho
nhân dân khoảng 2 triệu con. Tiến hành
khảo nghiệm sinh sản nhân tạo một số
giống mới như cá rô đầu vuông, cá trắm
đen, cá nheo; khảo nghiệm nuôi thương
phẩm cá lăng nha, cá chẽm, cá lăng
chấm, cá nheo vàng... bước đầu đánh giá
được tính thích nghi và tiềm năng phát
triển của chúng tại Lào Cai.
Ngoài ra, nhiều lĩnh vực khác
cũng đã tăng cường ứng dụng tiến bộ
KH&CN, nổi bật lên là ngành thông tin
truyền thông, thời gian qua đã đầu tư
phát triển mạnh mẽ mạng thông tin di
động phủ sóng đến tận các vùng sâu,
vùng xa của tỉnh; Mạng Internet tốc độ
cao phát triển ngày càng thông dụng
trong các cơ quan Nhà nước cấp tỉnh,
cấp huyện, các xã, phường thị trấn,
doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất và cả
trong các hộ gia đình. Hiện nay nhiều xã
đã xây dựng được các thư viện điện tử
tại trung tâm xã với nhiều tiện ích phục
vụ khai thác thông tin, góp phần nâng

nông nghiệp và phát triển nông thôn;
nguồn nhân lực hoạt động KH&CN còn
ít, thiếu các chuyên gia đầu ngành; việc
ứng dụng khoa học và công nghệ còn
nhỏ lẻ, kết quả một số đề tài, dự án
nghiên cứu khoa học chưa được áp dụng
rộng rãi vào sản xuất; các huyện, thành
phố chưa có cán bộ chuyên trách quản
lý nhà nước về khoa học và công nghệ,
hầu hết hoạt động kiêm nhiệm nên chất
lượng chưa cao.

Những kết quả đạt được trong
hoạt động ứng dụng tiến bộ KH&CN
vào sản xuất, đời sống đã góp phần nâng
cao hiệu quả sử dụng đất, tăng thu nhập
cho người dân lên 1,5- 2 lần, cải thiện
đời sống của nhân dân; nhiều sản phẩm
mũi nhọn của Lào Cai và là thế mạnh
của tỉnh đã được đăng ký nhãn hiệu và
bảo hộ.

Có thể nói, những kết quả đạt
được, cũng như tồn tại hạn chế trong
ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất,
đời sống trong thời gian qua là cơ sở để
các ngành có cái nhìn tổng quan, đề ra
những định hướng, biện pháp phù hợp,
cụ thể nhằm đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ
KH&CN trong giai đoạn mới, góp phần

năm qua đạt 13%, cơ cấu kinh tế đang


ngày càng chuyển dịch tích cực. Bộ máy
các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh hiện có
22 sở, ban, ngành; các cơ quan chuyên
môn thuộc UBND cấp huyện dao động
từ 12-14 phòng ban. Những năm qua,
nhằm xây dựng một nền hành chính dân
chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên
nghiệp hóa và hoạt động thật sự có hiệu
quả theo mục tiêu chương trình cải cách
hành chính đặt ra, Lào Cai đã xây dựng
đề án “Đẩy mạnh cải cách hành chính”.
Đề án xác định một trong năm mục tiêu
cụ thể là: “Từng bước hiện đại hóa nền
hành chính nhà nước; áp dụng có hiệu
quả công nghệ thông tin trong quản lý
hành chính nhà nước; triển khai áp
dụng hệ thống quản lý chất lượng theo
tiêu chuẩn ISO 9001:2008 vào các hoạt
động của các cơ quan hành chính nhà
nước của tỉnh…”
Cùng với công cuộc cải cách
hành chính thời gian qua, Lào Cai cùng
với các tỉnh trong cả nước đang tích cực
đẩy mạnh việc thực hiện Quyết định số
144/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ về áp dụng Hệ thống quản lý chất
lượng (HTQLCL) theo tiêu chuẩn

TCVN ISO 9001:2008

Quá trình triển khai áp dụng HTQLCL
theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008
bước đầu đã đem lại hiệu quả thiết thực
trong việc thực hiện Chương trình cải
cách hành chính của tỉnh. Thông qua áp
dụng ISO, lãnh đạo đơn vị kiểm soát
được quá trình giải quyết công việc trong
cơ quan; cán bộ, công chức được phân
công trách nhiệm rõ ràng trong quá trình
xử lý công việc; phục vụ tốt cho thực


hiện cơ chế “một cửa liên thông” trong
tiếp nhận và giải quyết yêu cầu của các
tổ chức và công dân; từng bước nâng cao
chất lượng và hiệu quả của công tác quản
lý và cung cấp dịch vụ hành chính công,
góp phần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành
chính.
Tuy nhiên, Lào Cai là một tỉnh
miền núi, trình độ dân trí không đồng
đều, việc thấu hiểu các yêu cầu của tiêu
chuẩn ISO đối với từng lĩnh vực hoạt
động tại các đơn vị hiện nay còn nhiều
hạn chế, phần nào ảnh hưởng đến hiệu
quả của việc áp dụng. Để phát huy tốt
tính ưu việt của HTQLCL, rất cần có sự
quan tâm đúng mức của lãnh đạo các

cán bộ các cơ quan, đơn vị trên địa bàn
tỉnh.
Bốn là: Thường xuyên theo dõi,
đôn đốc, kiểm tra tiến độ triển khai xây
dựng và áp dụng HTQLCL theo tiêu
chuẩn ISO trong các cơ quan QLHCNN
trên địa bàn tỉnh.
Năm là: Cần đẩy mạnh công tác
thông tin tuyên truyền để mọi người
hiểu rõ những ưu điểm của việc áp dụng
HTQLCL theo Tiêu chuẩn ISO, nhằm
nâng cao nhận thức cho cộng đồng, để
họ tham gia một cách tốt nhất vào các
giai đoạn của các quy trình trong
HTQLCL của cơ quan QLHCNN.
Có thể nói, việc áp dụng
HTQLCL theo tiêu chuẩn TCVN ISO
9001:2008 trong hoạt động của các cơ
quan hành chính là một chủ trương đúng
đắn. Với những kết quả ban đầu đạt
được tại Lào Cai cho thấy việc áp dụng
và triển khai HTQLCL theo tiêu chuẩn
TCVN ISO 9001:2008 đã góp phần
quan trọng trong công tác cải cách hành
chính. Đặc biệt, năm 2012, Lào Cai đã
hoàn thành việc xây dựng HTQLCL
sớm hơn 1 năm so với lộ trình của
Chính phủ tại Quyết định 118/2009/QĐTTg. Nhằm đảm bảo hiệu lực của Giấy



địa bàn tỉnh. Việc ứng dụng và chuyển
giao các thành tựu khoa học và công
nghệ vào các lĩnh vực sản xuất kinh

doanh, đã góp phần nâng cao năng
suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh
của sản phẩm, tăng thu nhập cho người
sản xuất. Nhờ đẩy mạnh ứng dụng
KH&CN sản xuất nông lâm nghiệp
Lào Cai đã có những bước khởi sắc,
hoạt động Khoa học và Công nghệ đã
có tác động mạnh mẽ đến phát triển


nông nghiệp và nông thôn; nông dân
tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp theo huớng giảm dần tỷ
trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn
nuôi.

Đ/c Doãn Văn Hưởng phát biểu tại phiên
họp Hội đồng tư vấn KHCN cấp tỉnh.

Hoạt động nghiên cứu khoa học
trên địa bàn tỉnh được đẩy mạnh. Trong
9 tháng đầu năm 2013 đã triển khai thực
hiện 20 đề tài, dự án cấp tỉnh (duyệt mới
05 đề tài/dự án). Trong đó, lĩnh vực
nông nghiệp là 13 đề tài chiếm 65%,
lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn

còn tiến hành nghiên cứu, ứng dụng
công nghệ lai chuyển gen nhằm phát
triển tổ hợp lai 2 dòng mới có khả năng
kháng bệnh bạc lá lúa góp phần nâng
cao năng suất, chất lượng hạt giống lúa
lai của tỉnh; ứng dụng phương pháp nuôi
cấy mô tế bào để sản xuất thử nghiệm
giống chuối bằng nuôi cấy mô tế bào
đây sẽ là cơ sở để phát triển và tiến tới
sản xuất hàng hoá tạo ngành nghề mới
cho người dân của địa phương.
Thông qua việc triển khai các dự
án, các mô hình ứng dụng, chuyển giao
khoa học và công nghệ, kết hợp với các
hình thức đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn
cho cán bộ kỹ thuật cơ sở và nông dân
đã tập huấn được cho hàng trăm lượt
người dân về kỹ thuật tiến bộ mới và
đào tạo được hàng chụ kỹ thuật viên cơ
sở, chuyển giao được nhiều quy trình kỹ
thuật trồng, chăm sóc các giống cây
trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện của
Lào Cai. Giúp cho người dân được tiếp
cận với tiến bộ kỹ thuật mới và chủ
động tìm kiếm, lựa chọn và ứng dụng
công nghệ tiên tiến phù hợp với yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương.
Về lĩnh vực khoa học xã hội,
nhân văn và khác: Tập trung nghiên

hoạch định và xây dựng đội ngũ cán bộ
trên địa bàn tỉnh, tạo các luận cứ đề xuất
các giải pháp đổi mới, nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác giáo dục - đào
tạo và luận cứ khoa học cho việc hoạch
định và xây dựng các giải pháp đổi mới,
nâng cao chất lượng của cả hệ thống
chính trị của tỉnh.
Về lĩnh vực khác: Ứng dụng
công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa
lý (GIS) xây dựng bản đồ phân vùng có
nguy cơ cháy rừng và chỉ huy chữa cháy
rừng trên địa bàn tỉnh Lào Cai nhằm góp
phần giảm thiểu nguy cơ cháy rừng và
thiệt hại do cháy rừng trên địa bàn tỉnh.
Nhìn chung, 9 tháng đầu năm
2013 hoạt động nghiên cứu khoa học
được xác định đúng trọng tâm, trọng

điểm; tập trung chủ yếu vào lĩnh vực
nông, lâm nghiệp. Khoa học nông
nghiệp đã tập trung nghiên cứu, ứng
dụng các tiến bộ khoa học công nghệ
trong sản xuất nông lâm nghiệp. Đưa
các tiến bộ khoa học kỹ thuât vào trong
sản xuất và đời sống, thông qua việc
triển khai các mô hình khảo nghiệm các
giống cây, con mới; áp dung các công
nghệ mới trong bảo quản và chế biến
các sản phẩm nông, lâm sản; Kết quả

đảm đương công tác tiếp nhận và
chuyển giao ứng dụng khoa học công
nghệ đồng thời tạo mọi điều kiện để


phát huy năng lực cán bộ hình thành nên
hệ thống chuyển giao ứng dụng khoa
học công nghệ từ tỉnh đến cơ sở. Triển
khai nhiều hình thức đào tạo bồi dưỡng,
nâng cao trình độ ứng dụng tiến bộ khoa

học kỹ thuật, kỹ năng canh tác, kiến
thức sản xuất mới cho nông dân;
Năm là: Đa dạng hóa nguồn vốn
cho phát triển và ứng dụng khoa học
công nghệ./.

Hoạt động Khoa học và Công nghệ Lào Cai
ứng phó với biến đổi khí hậu
Ths. Đinh Văn Tuyến
Phó trưởng phòng QLKHCN CS

Biến đổi khí hậu, cạn kiện tài nguyên, ô nhiễm môi trường và suy giảm đa
dạng sinh học là những vấn đề lớn, mang tính toàn cầu, đã và đang làm thay đổi
các hệ sinh thái tự nhiên, đời sống kinh tế - xã hội trên toàn thế giới trở thành một
trong những thách thức lớn nhất đối với toàn nhân loại. Ứng phó với biến đổi khí
hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường có ý nghĩa sống còn, là những nhân


tố quyết định đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc (Nghị quyết số


xã hội, sức khỏe cộng đồng, nâng cao
đời sống, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
trong bối cảnh biến đổi khí hậu; Phát
triển tiềm lực khoa học và công nghệ,
chất lượng nguồn nhân lực; …
Nhận thức rõ được tầm quan
trọng của ứng phó với BĐKH, trong
thời gian qua Sở Khoa học và Công
nghệ Lào Cai đã tham mưu và tổ chức
xét duyệt nhiều đề tài, dự án nghiên cứu
khoa học góp phần tăng cường năng lực
thích ứng và hạn chế các ảnh hưởng tiêu
cực của BĐKH đến đời sống và sản xuất
ở địa phương. Từ năm 2008 đến năm
2013, đã có 64 đề tài, dự án nghiên cứu
khoa học cấp tỉnh được phê duyệt, trong
đó lĩnh vực khoa học nông lâm nghiệp
có 40 đề tài được phê duyệt chiếm
62.5%. Đặc biệt trong số các đề tài dự
án này có nhiều đề tài, dự án đã và đang
được thực hiện nhằm tìm ra giải pháp
tăng khả năng thích ứng cho sản xuất
nông lâm nghiệp với những biến đổi
thời tiết bất thường ở Lào Cai thông qua
thử nghiệm các giải pháp kỹ thuật mới,
và sử dụng giống mới.


- Cây ngô là cây

trên cả đất bằng, đất dốc ở Lào Cai. Hơn
thế nữa đề tài cũng đã xây dựng quy
trình kỹ thuật phù hợp để trồng các
giống ngô chịu hạn ở điều kiện khô hạn
đạt năng xuất cao (7 tấn/ha) (Báo cáo
Tổng hợp kết quả Đề tài NCKH năm
2013).
- Cây lúa là cây lương thực quan
trọng nhất ở huyện Sa Pa. Tuy nhiên
không phải tất cả các xã đều có điều
kiện thuận lợi để trồng cây lúa do thời
tiết lạnh và BĐKH cũng có thể dẫn đến
mùa đông lạnh và kéo dài hơn thậm chí

Ngô chịu hạn ở Mường Khương - Lào Cai
(Ảnh: Phòng QLKHCNCS)

ở cả các xã vùng thấp của huyện Sa Pa.
Năm 2010, đề tài: Khảo nghiệm một số
giống lúa Japonica chất lượng cao có
khả năng chịu rét tốt tại huyện Sa Pa Lào Cai, do Trung tâm Giống Nông lâm
nghiệp Lào Cai đề xuất đã được phê
duyệt thực hiện từ năm 2009 đến 2010.
Sau khi khảo nghiệm 6 giống lúa (ĐS1,
J01, J09, Koshihikari, Séng cù, Hương
thơm), đề tài đã xác định giống lúa ĐS 1
nhập nội từ Đài Loan có năng xuất cao
nhất đạt 60.09 – 64.55 tạ/ha (Báo cáo
kết quả đề tài nghiên cứu khoa học năm
2013). So với các giống lúa truyền


- Biến đổi khí hậu đe dọa nghiêm trọng
đến tài nguyên đa dạng sinh học ở tất cả
mọi nơi trên thế giới. Trong những năm
qua, thời tiết nắng nóng kéo dài luôn
dẫn đến nguy cơ cháy rừng với quy mô
lớn và nghiêm trọng ở nhiều khu vực
của Lào Cai đặc biệt là rừng đặc dụng
trên dãy Hoàng Liên. Từ năm 2008 đến
nay mật độ các vụ cháy rừng có xu
hướng thường xuyên và diễn biến phức
tạp hơn, điển hình là những vụ cháy
rừng năm 2010 và 2012 ảnh hưởng
nghiêm trọng đến tài nguyên đa dạng
sinh học tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên.
Năm 2012 Hội đồng Tư vấn Khoa học

và Công nghệ tỉnh để xét duyệt đề
cương đề tài nghiên cứu khoa học: Ứng
dụng công nghệ viễn thám và hệ thông
tin địa lý (GIS) xây dựng bản đồ phân
vùng có nguy cơ cháy rừng và chỉ huy
chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh Lào
Cai. Hơn nữa ở Lào Cai, lũ quét và sạt
lở đất là những biểu hiện tiêu biểu nhất
của BĐKH. Trồng và bảo vệ rừng
phòng hộ đầu nguồn là những giải pháp
quan trọng và mang tính bền vững để
hạn chế sạt lở đất và lũ quét. Để phát
triển rừng phòng hộ đầu nguồn trong


CÔNG TÁC CẤP GIẤY PHÉP VẬN CHUYỂN HÀNG NGUY HIỂM
CỦA SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÀO CAI
Ths. Mai Văn Sơn
Phó trưởng phòng Quản lý Công nghệ
Hàng hóa nguy hiểm là hàng hóa có nguy cơ gây hại đối với sức khỏe con người,
tài sản, sinh vật sống khác, cũng như môi trường. Vận chuyển hàng nguy hiểm là việc
các doanh nghiệp vận chuyển hàng nguy hiểm bằng phương tiện giao thông cơ giới
đường bộ. Để các doanh nghiệp vận chuyển hàng nguy hiểm được thuận lợi và đảm
bảo an toàn cho cả người và phương tiện, tránh những rủi ro xấu có thể sảy ra.
Lào Cai là tỉnh biên giới có điều kiện
thuận lợi cho việc sản xuất, kinh doanh,
xuất nhập khẩu hóa chất như: Nằm trên
tuyến Hành lang kinh tế Côn Minh
(Trung Quốc) - Lào Cai - Hà Nội - Hải
Phòng (Việt Nam); có khu công nghiệp
Tằng Loỏng dành cho những dự án luyện
kim, hóa chất quan trọng của tỉnh và của cả
nước như: dự án luyện đồng, dự án sản xuất
phốt pho vàng, dự án sản xuất phân bón,
gang thép…, có cửa khẩu Quốc tế. Những
năm qua, công tác quản lý và cấp giấy phép
vận chuyển hàng nguy hiểm cho các doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh luôn được chú
trọng và tăng cường, nhằm đảm bảo an ninh
trật tự, giúp cho các doanh nghiệp vận
chuyển hàng nguy hiểm được an toàn, tránh
những rủi ro sấu có thể xảy ra khi vận
chuyển hóa chất.
Để thực hiện tốt Thông tư số

nghệ gửi các tổ chức, cá nhân đề nghị báo
cáo tình hình vận chuyển nhóm hàng nguy
hiểm của các đơn vị kinh doanh trên địa bàn
tỉnh;
+ Công văn số 52/SKHCN-QLCN
ngày 25/02/2013 của Sở Khoa học và Công
nghệ về việc đề nghị phối hợp với Bộ Chỉ
huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Công an tỉnh
trong trong công tác quản lý Nhà nước đối
với các đơn vị vận chuyển hàng nguy hiểm
thuộc nhóm 5,8 trên địa bàn tỉnh, ngoài ra
còn nhiều văn bản quan trọng khác...
+ Công văn số 152/SKHCN-QLCN
ngày 17/4/2012 của Sở Khoa học và Công
nghệ gửi các tổ chức, cá nhân về việc hướng
dẫn, cấp giấy phép vận chuyển hàng nguy
hiểm thuộc nhóm 5,8 cho các doanh nghiệp,


đơn vị vận chuyển hàng nguy hiểm trên địa
bàn tỉnh;
+ Công văn số 176/SKHCN-QLCN
ngày 02/5/2012 của Sở Khoa học và Công
nghệ về việc đề nghị phối hợp với Công an
tỉnh, Sở Giao thông vận tải, Sở Công
thương, Ban quản lý các khu công nghiệp
tỉnh, Cục Hải quan tỉnh trong công tác quản
lý Nhà nước đối với các đơn vị vận chuyển
hàng nguy hiểm thuộc nhóm 5,8;


I

2012

Đơn vị vận chuyển

Công ty TNHH MTV Kinh doanh nước
sạch Lào Cai

2

Công ty TNHH MTV Supe Lân
Apromaco Lào Cai

II

Nhóm hàng
nguy hiểm 8

Số
lượng

8

1

3

Nhóm hàng
nguy hiểm 5


Công ty TNHH Công Mậu Long Trần
Hà Khẩu (Trung Quốc)

3

Công ty TNHH MTV Apatit Việt Nam

4

Công ty TNHH MTV Supe Lân
Apromaco Lào Cai

III

Tổng:

Calcium
hypochlorite

Chlorine (Cl2);

4

Axit Sunfuric

4

(H2SO4)
Oxy (O2);

quan có liên quan đã được chủ động tăng
cường trong công tác rà soát, thống kê,
đôn đốc, hướng dẫn các đơn vị đăng ký
xin cấp giấy phép. Trong đó có nhiều
đơn vị đã thực hiện và chấp hành tốt
như: Công ty TNHH MTV Kinh doanh
nước sạch Lào Cai, Công ty TNHH
MTV Supe Lân Apromaco Lào Cai,
Công ty TNHH MTV Apatit Việt Nam,
công ty TNHH Công Mậu Long Trần Hà
Khẩu (Trung Quốc).

- Một số doanh nghiệp vận
chuyển hàng nguy hiểm thuộc 2 cơ quan
quản lý thì phải được cả 2 cơ quan có
thẩm quyền cấp giấy phép. Tuy nhiên có
đơn vị mới chỉ được 01 cơ quan cấp giấy
phép, mặc dù còn thiếu 01 giấy phép nữa,
đơn vị vẫn tổ chức vận chuyển hàng nguy
hiểm.
- Chưa thông kế được số lượng
các đơn vị chưa thực hiện việc cấp phép
vận chuyển nhưng vẫn vận chuyển;
- Chưa có sự phối hợp của các đơn
vị cấp phép đối với loại hóa chất thuộc 2
cơ quan quản lý khác nhau.
Theo Thông tư 25 thành phần hồ sơ xin
cấp Giấy phép gồm có:

Một số khó khăn và tồn tại trong quá

7. Giấy phép lái xe, Giấy chứng nhận
kiểm định xe (bản sao công chứng).
8. Phiếu kiểm định bình chứa (bản sao
công chứng).

NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

1


Rau mầm: Một hướng đi mới trong sản xuất rau sạch tại Lào Cai
Trần Công Mạnh
Phòng Quản lý Khoa học
Rau mầm là loại rau ăn lá, rau sạch, thường
được canh tác bằng các loại hạt giống thông
thường như: củ cải, cải bẹ xanh,cải ngọt, rau
muống, hành tây, đậu xanh…được sử dụng khi rau
còn non. Đây là loại rau sạch, bổ dưỡng và an toàn
cho người tiêu dùng. Rau mầm có chứa nhiều chất
xơ, vitamin (vitamin B, C, E…) amino axit cần
thiết cho cơ thể và là một trong các loài rau sạch
được ưa chuộng hiện nay.
Rau mầm dễ trồng, thu hoạch
tiến bộ khoa học kỹ thuật sản xuất rau
nhanh, an toàn và có hàm lượng dinh
mầm an toàn phù hợp với Lào Cai để
dưỡng cao. Hiện nay, Sở Nông nghiệp
tạo ra sản phẩm rau đảm bảo dinh dưỡng
và Phát triển nông thôn đã và đang
cao, an toàn sức khỏe cho người tiêu

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
nhóm nghiên cứu đã lựa chọn, thử
nghiệm trên 05 công thức để lựa chọn
03 công thức (VnA1.2; GT1; GT2) phù
hợp là nguyên liệu phụ phẩm có sẵn tại
địa phương). Qua đó trồng để so sánh
năng xuất, chất lượng và hiệu quả sản
xuất rau mầm trên các giá thể khác nhau
, đảm bảo sản xuất rau mầm sạch. Các
loại rau mầm được gieo trên các khay
gieo. Về kích thước, hình dạng tuỳ theo
từng điều kiện mà lựa chọn khay hình
tròn, hình vuông, hình chữ nhật. Chiều
cao của khay tốt nhất 7 - 8 cm. Rau
mầm được gieo trên giá thể được thanh
trùng bằng cách đưa vào nồi hấp nóng
nhằm diệt nấm, vi khuẩn nên không sợ
bị nhiễm kim loại nặng như trồng trên
đất. Chỉ trồng trong thời gian ngắn nên
không bị sâu bệnh (rau mầm không chịu
nhiều ánh sáng), không cần sử dụng
phân bón, thuốc trừ sâu. Sau khi gieo
hạt khoảng 7 - 15 ngày (tuỳ từng loại
rau) là có thể thu hoạch. Thông thường
rau mầm có từ 2 - 3 lá, thân dài trung
bình 10 cm, về cảm quan rau xanh non,
có thể chế biến như các loại rau thông

Trong giai đoạn mầm, cây mầm
không sinh trưởng, phát triển nhờ đất

cá, thời gian sinh trưởng ngắn, dễ làm,
có tiềm năng về thị trường tiêu thụ, đặc
biệt là các nhà hàng gỏi cá... Tùy nhu
cầu của thị trường mà sản xuất rau
muống, đậu xanh cũng cho hiệu quả
cao./.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status