ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ LÊ MINH
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN TÀI LIỆU
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRỰC THUỘC VĂN PHÕNG
TRUNG ƢƠNG ĐẢNG THUỘC DIỆN NỘP LƢU VÀO
KHO LƢU TRỮ TRUNG ƢƠNG ĐẢNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Lƣu trữ học
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ LÊ MINH
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN TÀI LIỆU
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRỰC THUỘC VĂN PHÕNG
TRUNG ƢƠNG ĐẢNG THUỘC DIỆN NỘP LƢU VÀO
KHO LƢU TRỮ TRUNG ƢƠNG ĐẢNG
CHUYÊN NGÀNH : LƢU TRỮ
Mã số : 60 32 24
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH LƢU TRỮ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC : TS. NGUYỄN LỆ NHUNG
Ban Bí thư
3.
BCHTW
Ban Chấp hành Trung ương
4.
BCT
Bộ Chính trị
5.
KLTTW
Kho Lưu trữ Trung ương
6.
MTV
Một thành viên
7.
TNHH
liệu của các doanh nghiệp thuộc diện nộp lưu và Kho Lưu trữ Trung
ương Đảng
1.1. Tổng quan về doanh nghiệp và các đặc điểm hoạt động của công ty
trách nhiệm hữu hạn hiện nay
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Nguyên tắc trong xác định giá trị tài liệu
1.2.2. Phương pháp xác định giá trị tài liệu
1.2.3. Tiêu chuẩn xác định giá trị tài liệu
1.3. Cơ sở pháp lý
1.3.1. Khái quát chung về chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng Trung
ương Đảng
1.3.2. Khái quát về chức năng, nhiệm vụ của các doanh nghiệp trực thuộc
Văn phòng Trung ương Đảng thuộc diện nộp lưu tài liệu và Kho Lưu trữ
Trung ương Đảng
1.3.3. Hệ thống văn bản quy định nhiệm vụ thu thập tài liệu, bổ sung tài liệu
vào lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng
1.3.4. Vai trò của Văn phòng Trung ương Đảng đối với công tác thu thập tài
liệu của các doanh nghiệp trực thuộc
Chương 2. Cơ sở thực tiễn và việc vận dụng lý luận vào công tác xác định
thành phần tài liệu của các doanh nghiệp thuộc diện nộp lưu vào Kho
Lưu trữ Trung ương Đảng
5
7
7
8
9
9
10
11
ương Đảng
47
2.2.2. Công tác thu thập, bổ sung tài liệu của các doanh nghiệp thuộc nguồn
nộp lưu vào Kho Lưu trữ Trung ương Đảng
2.3. Nhu cầu khai thác tài liệu của các đơn vị, cá nhân thuộc các doanh
nghiệp và các đơn vị, tổ chức thuộc Văn phòng Trung ương Đảng
2.4. Đánh giá, nhận xét
Chương 3. Danh mục thành phần tài liệu của các doanh nghiệp trực
thuộc Văn phòng Trung ương Đảng thuộc diện nộp lưu vào Kho Lưu trữ
Trung ương Đảng
3.1. Các căn cứ để xây dựng danh mục thành phần tài liệu của các doanh
nghiệp thuộc diện nộp lưu vào kho lưu trữ TW Đảng
3.2. Mục tiêu xây dựng bảng danh mục thành phần tài liệu của các doanh
nghiệp thuộc diện nộp lưu vào kho lưu trữ TW Đảng
3.3. Yêu cầu của việc xây dựng danh mục tài liệu của các doanh nghiệp
thuộc nguồn nộp lưu vào kho lưu trữ TW Đảng
3.4. Phương pháp xây dựng danh mục tài liệu của các doanh nghiệp thuộc
nguồn nộp lưu vào kho lưu trữ TW Đảng
3.4.1. Lựa chọn phương án phân loại cho bản danh mục thành phần tài liệu
3.4.2. Cấu trúc của bản danh mục tài liệu của các doanh nghiệp thuộc nguồn
nộp lưu và kho lưu trữ TW Đảng
3.5. Ban hành bản danh mục thành phần tài liệu của các doanh nghiệp thuộc
nguồn nộp lưu vào kho lưu trữ TW Đảng
3.6. Danh mục thành phần tài liệu của các doanh nghiệp thuộc nguồn nộp
lưu vào kho lưu trữ VPTW
3.7. Cách sử dụng danh mục tài liệu của các doanh nghiệp thuộc nguồn nộp
lưu vào kho lưu trữ VPTW Đảng
Kết luận
nộp lưu vào kho lưu trữ; gây nhiều khó khăn cho công tác thu thập, bổ sung tài liệu.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu thành phần tài liệu của các doanh nghiệp trực
thuộc hệ thống Đảng thuộc diện nộp lưu vào kho lưu trữ trở thành vấn đề cấp bách và
thiết thực. Do đó, tôi chọn đề tài : “Nguyên cứu xác định thành phần tài liệu của các
doanh nghiệp trực thuộc Văn phòng Trung ương Đảng thuộc diện nộp lưu vào kho
lưu trữ Trung ương Đảng” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp cao học, vừa để phục
vụ trực tiếp cho công tác của bản thân, đồng thời góp phần vào việc tối ưu hoá thành
phần tài liệu kho lưu trữ Trung ương Đảng, thành phần phông lưu trữ Đảng cộng sản
Việt Nam nói chung.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu:
- Phân tích được các cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý đối với việc
xây dựng bảng danh mục thành phần tài liệu của các doanh nghiệp thuộc diện nộp lưu
vào kho lưu trữ Trung ương Đảng.
- Đề tài nhằm mục tiêu đưa ra bản danh mục thành phần tài liệu của các doanh
nghiệp trực thuộc Văn phòng Trung ương Đảng thuộc diện nộp lưu vào kho lưu trữ
Trung ương Đảng.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
7
- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác thu thập bổ sung tài liệu.
- Thực trạng công tác thu thập, bổ sung tài liệu và công tác quản lý tài liệu
lưu trữ trong Kho Lưu trữ Trung ương Đảng.
+ Xác định thành phần tài liệu của các doanh nghiệp trực thuộc Văn phòng
Trung ương Đảng thuộc diện nộp lưu vào kho lưu trữ Trung ương Đảng.
+ Xây dựng danh mục thành phần tài liệu của các doanh nghiệp trực thuộc Văn
phòng Trung ương Đảng thuộc diện nộp lưu vào kho lưu trữ Trung ương Đảng.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
chủ nhiệm: TS.Nguyễn Minh Phương, 1997; “Cơ sở khoa học để xác định nguồn
bổ sung tài liệu ảnh có giá trị lưu trữ vĩnh viễn” chủ nhiệm: Lã Thị Hồng, 1989;
“Xác định nguồn và thành phần tài liệu nghiên cứu khoa học phải nộp vào Lưu trữ
Quốc gia”, chủ nhiệm: TS. Nguyễn Minh Phương, 1995... Tuy nhiên, các bài viết,
đề tài trên chỉ đề cập đến vấn đề nguồn và thành phần tài liệu cần nộp lưu vào lưu
trữ của các cơ quan nhà nước.
Đối với công tác xác định thành phần tài liệu nộp lưu của các cơ quan Đảng,
cũng đã có một số tác giả nghiên cứu như : Đề tài “Xác định nguồn và thành phần tài
liệu của các cơ quan, tổ chức Đảng thuộc diện nộp lưu vào kho lưu trữ Trung ương
Đảng”, TS. Nguyễn Lệ Nhung, 2000; “Xác định nguồn và thành phần tài liệu của các
cơ quan, tổ chức thuộc diện nộp lưu vào kho lưu trữ huyện uỷ”, Nguyễn Ngọc Quý,
2009. Tuy nhiên, các đề tài này cũng chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu và đưa ra danh
mục nguồn và thành phần tài liệu của các các cơ quan, tổ chức Đảng thuộc diện nộp
lưu vào kho lưu trữ Trung ương Đảng chứ không đề cập đến thành phần tài liệu nộp
lưu của các doanh nghiệp trực thuộc hệ thống Đảng vốn có rất nhiều điểm khác biệt
so với các cơ quan, tổ chức Đảng khác.
5. Các nguồn tài liệu tham khảo
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tham khảo các nguồn tài liệu sau :
- Các giáo trình nghiệp vụ lưu trữ của các học giả nghiên cứu trong nước;
9
- Các văn bản quy định của Đảng và Nhà nước, của doanh nghiệp về tổ chức,
quản lý hoạt động lưu trữ;
- Các công trình nghiên cứu của các học giả, các đề tài luận án, luận văn, khoá
luận tốt nghiệp hay báo cáo khoa học của các sinh viên, học viên hiện đang được lưu
trữ tại Tư liệu khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng;
- Các sách chuyên khảo, quy định của các nước trên thế giới về tổ chức, quản
lý hoạt động lưu trữ doanh nghiệp;
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp. Đây là một phương pháp rất cần thiết và
quan trọng trong quá trình thực hiện đề tài. Nhờ phương pháp này mà tác giả có được
những nhận định, đánh giá khách quan cho nghiên cứu của mình.
7. Đóng góp của đề tài
- Góp phần giải quyết các yêu cầu thực tế về việc xác định thành phần tài liệu
của các doanh nghiệp trực thuộc Văn phòng Trung ương Đảng nộp lưu vào kho lưu
trữ Trung ương Đảng.
8. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội dung
đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý để xác định thành phần tài liệu của
các doanh nghiệp thuộc diện nộp lưu vào Kho Lưu trữ Trung ương Đảng.
Chương này trình bày khái quát về cơ sở lý luận, đưa ra nguyên tắc và phương
pháp; cơ sở pháp lý về xác định thành phần tài liệu của các doanh nghiệp trực thuộc
Văn phòng Trung ương Đảng thuộc diện nộp lưu vào Kho Lưu trữ Trung ương Đảng.
- Chương 2: Cơ sở thực tiễn và việc vận dụng lý luận vào công tác xác định
thành phần tài liệu của các doanh nghiệp thuộc diện nộp lưu vào kho lưu trữ Trung
ương Đảng.
11
Chương này nêu thực trạng nộp lưu tài liệu của các doanh nghiệp trực thuộc
Văn phòng Trung ương Đảng, đánh giá những việc đã làm được và tồn tại, sự cần
thiết phải xây dựng danh mục thành phần tài liệu nộp lưu.
- Chương 3: Danh mục thành phần tài liệu của các doanh nghiệp trực thuộc
Văn phòng Trung ương Đảng thuộc diện nộp lưu vào kho lưu trữ Trung ương Đảng.
Chương này đưa ra bản danh mục cụ thể.
12
Phân loại theo tư cách pháp lý của doanh nghiệp; Phân loại theo quy mô vốn điều lệ;
13
Phân loại theo hình thức tổ chức doanh nghiệp... Nếu phân loại theo hình thức tổ chức
doanh nghiệp thì có các doanh nghiệp với các tên gọi: Công ty trách nhiệm hữu hạn
(TNHH), Công ty cổ phần (CTCP), công ty hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân và các
tập đoàn kinh tế.
Đối với loại hình công ty TNHH, hiện nay được chia thành 2 loại là công ty
TNHH một thành viên và công ty TNHH hai thành viên trở lên. Tại điều 63 Luật
Doanh nghiệp quy định về Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên như sau:
1. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức
hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu
công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong
phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
2. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ
ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
3. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ
phần”.
Theo quy định của nhà nước, thành viên công ty có thể là cá nhân hoặc một tổ
chức. Thành viên duy nhất này là chủ sở hữu công ty. Nếu như trước đây công ty
TNHH một thành viên là một tổ chức thì bây giờ pháp luật nước ta lại thừa nhận chủ
sở hữu công ty là một cá nhân. Chính sự thừa nhận này tạo ra ưu thế riêng cho công ty
TNHH một thành viên so với loại hình doanh nghiệp tư nhân. Như thế là phù hợp với
quan điểm của một số nước phát triển trên thế giới như Bộ luật dân sự Pháp quy định
“Công ty có thể được thành lập trong những trường hợp do luật định bằng hành vi và
ý chí của chỉ một người”. Luật Đức quy định “Công ty TNHH do một hoặc nhiều
người sáng lập trên cơ sở những quy định của luật và theo đó có mục đích hoạt động
được pháp luật cho phép”.
Công ty TNHH một thành viên là một pháp nhân. Cá nhân hay tổ chức thành
Xác định thành phần tài liệu thuộc diện nộp lưu vào Kho lưu trữ TW Đảng là xác
định những nhóm tài liệu của Đảng có ý nghĩa chính trị, lịch sử, khoa học thuộc diện
phải chuyển giao vào kho lưu trữ TW Đảng để bảo quản vĩnh viễn và lâu dài, nhằm lưu
giữ tốt nhất những di sản văn hoá của Đảng, phục vụ lợi ích chung của toàn Đảng, toàn
dân [19,tr.9].
Danh mục thành phần tài liệu là bản mục lục kê các nhóm tài liệu của cơ quan tổ
chức Đảng (ở đây bao gồm của 3 cơ quan doanh nghiệp của VPTW Đảng) hình thành
15
trong quá trình hoạt động. Nó giúp cho công tác xác định giá trị tài liệu, bổ sung và quản
lý những tài liệu có giá trị được dự kiến bảo quản vĩnh viễn và lâu dài trong kho Lưu trữ
Đảng được dễ dàng, thuận tiện và có hiệu quả.
Danh mục thành phần tài liệu thuộc diện nộp lưu là một công cụ trong hệ thống
công cụ xác định giá trị tài liệu. Danh mục này được xây dựng trong quá trình và trên cơ
sở kinh nghiệm làm việc với tài liệu trong lĩnh vực xác định giá trị trên cơ sở vận dụng
những nguyên tắc và tiêu chuẩn xác định giá trị tài liệu vào thực tế, có nghĩa nó liên quan
chặt chẽ với sự phát triển của lý luận và thực tiễn công tác xác định giá trị.
1.2.1. Nguyên tắc xác định giá trị tài liệu
Xác định nguồn và thành phần tài liệu trong lưu trữ nói chung phải tuân thủ những
nguyên tắc của lưu trữ học Mác xít, bao gồm nguyên tắc chính trị, nguyên tắc tắc lịch sử,
nguyên tắc toàn diện tổng hợp, những nguyên tắc này là phương hướng nhận thức khoa
học trong quá trình nghiên cứu giải quyết vấn đề xác định các cơ quan thuộc nguồn nộp
lưu vào một lưu trữ nhất định và thành phần tài liệu của các cơ quan thuộc nguồn nộp lưu
phải đưa vào lưu trữ. Tuy nhiên, những nguyên tắc này mới chỉ đưa ra những phương
hướng nhận thức khoa học còn việc xác định cụ thể như thế nào phải căn cứ vào những
phương pháp, tiêu chuẩn cụ thể và không giống nhau giữa hai đối tượng “lựa chọn
nguồn” và “lựa chọn thành phần tài liệu”. Bên cạnh đó, nguyên tắc này còn phụ thuộc
một phần vào đặc điểm nội dung, thành phần tài liệu của các cơ quan, đơn vị lập danh
mục, ở đây chúng ta xét đến khối tài liệu của các doanh nghiệp trực thuộc văn phòng
- Nguyên tắc toàn diện và tổng hợp: tài liệu lưu trữ Đảng nói chung và tài liệu lưu
trữ của các doanh nghiệp trực thuộc văn phòng trung ương Đảng nói riêng là tài sản văn
hoá vô giá phải được thu thập đầy đủ, toàn vẹn trên nguyên tắc không phân tán phông
lưu trữ, đồng thời phản ánh toàn diện về các sự kiện, hiện tượng diễn ra. Nguyên tắc này
cùng với nguyên tắc lịch sử cắt nghĩa một cách khoa học vì sao tài liệu của một phông
lưu trữ chỉ được bảo quản trong một kho lưu trữ tương ứng. Vì sao một cơ quan là nguồn
thu thập tài liệu của cơ quan này mà không phải là nguồn thu thập tài liệu của cơ quan
khác. Ngược lại, khi tài liệu không tập trung được đầy đủ, chỉ còn những tài liệu rời rạc
không phản ánh đủ thông tin về hoạt động của cơ quan, đơn vị thì những tài liệu đó cũng
không có giá trị cao. Ví dụ, Công ty TNHH một thành viên in Tiến Bộ là đối tượng nộp
lưu tài liệu vào kho lưu trữ Trung ương Đảng vì phản ánh sự phát triển của doanh nghiệp
Đảng, phản ánh sự phát triển kinh tế qua từng giai đoạn.
Các nguyên tắc này liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình xác định nguồn và
thành phần tài liệu nộp lưu vào kho lưu trữ văn phòng Trung ương Đảng. Tuy nhiên, như
trên đã nói, nếu chỉ căn cứ vào những nguyên tắc này chưa thể xác định được thành phần
tài liệu cần phải nộp lưu, việc xác định chính xác thành phần tài liệu của những cơ quan
17
là nguồn nộp lưu phải được xác định cụ thể dựa trên những phương pháp và tiêu chuẩn
khác nữa mà chúng tôi sẽ lần lượt trình bày sau đây.
1.2.2. Phương pháp xác định giá trị tài liệu
Phương pháp là “hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó”.
Theo chúng tôi, những phương pháp cơ bản xác định nguồn và thành phần tài liệu cần
phải nộp lưu vào kho lưu trữ văn phòng Trung ương Đảng là phương pháp hệ thống,
phương pháp phân tích chức năng, phương pháp nghiên cứu từng tài liệu, phương pháp
thông tin.
- Phương pháp hệ thống : tư tưởng xem xét mọi đối tượng bằng con đường phân
tích hệ thống đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đề ra và vận dụng từ lâu.
Cách tiếp cận hệ thống là sự phát triển có tính lôgíc các nguyên tắc chung của lưu trữ học
phương pháp phân tích chức năng, chúng ta có thể lý giải một cách khoa học tiêu chuẩn
ý nghĩa của cơ quan đơn vị hình thành phông theo chức năng trong việc xác định ngồn
nộp lưu và lựa chọn thành phần tài liệu nộp lưu.
Tuy nhiên, cũng không nên tuyệt đối hoá ý nghĩa của phương pháp này, vì không
ít trường hợp tài liệu do cơ quan cấp dưới sản sinh ra lại có giá trị cao vì phản ánh những
vấn đề quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá… và ngược lại. Ví dụ : Trong thành phần
tài liệu cần bảo quản ở kho lưu trữ văn phòng trung ương Đảng, ban chấp hành đảng bộ
doanh nghiệp là những cơ quan trực thuộc nhưng những loại văn bản như báo cáo năm,
nghị quyết, chỉ thị, báo cáo cuối năm, báo cáo tài chính hàng năm …về các vấn đề khác
do danh nghiệp đó ban hành là những tài liệu quan trọng phản ánh sâu sắc sự phát triển
của lịch sử doanh nghiệp và tình hình tài chính hàng năm nên cần lưu giữ vĩnh viễn.
- Phương pháp nghiên cứu từng tài liệu : thực chất là xem xét các giá trị về mặt nội
dung và hình thức trên từng trang tài liệu. Tuy nhiên, không phải bất kỳ loại tài liệu nào
cũng phải nghiên cứu trực tiếp trên từng trang. Những tài liệu mà chỉ xem xét thông qua
thống kê không đủ cơ sở để khẳng định giá trị mới phải xem xét trực tiếp tài liệu. Ví dụ
các tài liệu bút tích, bản thảo của cá nhân, các thư kiến nghị, những tài liệu được sản sinh
trong các biến cố lịch sử quan trọng thường là những tài liệu mà chỉ xem xét thông qua
thống kê không đủ cơ sở để khẳng định giá trị nên phải tiến hành xem xét cụ thể. Phương
pháp này có giá trị kết hợp với các phương pháp khác trong việc xác định nguồn và thành
phần tài liệu cần nộp lưu vào kho lưu trữ Trung ương Đảng.
- Phương pháp thông tin : giá trị của tài liệu lưu trữ xét đến cùng là giá trị thông tin
mà chúng có thể mang lại cho người nghiên cứu. Đến lượt mình, giá trị thông tin lại phụ
thuộc vào tính chính xác và cái mới mà nó mang lại. Xét trên ý nghĩa đó, tài liệu lưu trữ
19
sẽ không có giá trị cao nếu chúng không cung cấp được thông tin thiết thực cho một công
việc nhất định. Ứng dụng quan trọng nhất của phương pháp thông tin trong việc xác định
nguồn và thành phần tài liệu nộp lưu là cùng những phương pháp đã trình bày ở trên, nó
cho phép xây dựng một trong những tiêu chuẩn chủ yếu của việc lựa chọn tài liệu trong
thấp, chức năng, nhiệm vụ không quan trọng.
- Nhóm tiêu chuẩn nội dung của tài liệu (gồm tiêu chuẩn ý nghĩa nội dung tài liệu,
sự lặp lại thông tin trong tài liệu, mức độ hoàn chỉnh và khối lượng của tài liệu trong
phông lưu trữ, tiêu chuẩn hiệu lực pháp lý của tài liệu) : được áp dụng để đánh giá ý
nghĩa, nội dung các sự kiện, sự vật, hiện tượng… được phản ánh trong tài liệu. Trong hệ
thống các cơ quan Đảng, những tài liệu có nội dung quan trọng phản ánh chức năng,
nhiệm vụ của cơ quan đơn vị hình thành phông, những tài liệu có thông tin tổng hợp,
những tài liệu quy định về tổ chức bộ máy của cơ quan, tài liệu về hội nghị tổng kết công
tác, hội nghị chuyên đề, tài liệu về các vụ việc điển hình là những tài liệu có giá trị cao.
Căn cứ vào nhóm tiêu chuẩn này có thể xây dựng danh mục thành phần tài liệu thuộc
diện nộp lưu vào kho lưu trữ văn phòng trung ương Đảng.
- Nhóm tiêu chuẩn đặc điểm bên ngoài của tài liệu (gồm tiêu chuẩn tình trạng vật
lý của tài liệu, tiêu chuẩn ngôn ngữ, kỹ thuật chế tác và các đặc điểm bên ngoài của tài
liệu) được áp dụng khi xem xét đặc điểm bên ngoài của tài liệu để xác định giá trị cho tài
liệu. Những tài liệu khi đánh giá theo tiêu chuẩn về xuất xứ, nội dung sẽ có giá trị cao
hơn khi đáp ứng các tiêu chuẩn về những đặc điểm bên ngoài của tài liệu.Ví dụ cùng một
nội dung như nhau nhưng tài liệu là bản chính, tài liệu có đầy đủ thể thức, có giá trị pháp
lý, có tình trạng vật lý tốt được ưu tiên để lựa chọn đưa vào bảo quản trong lưu trữ.
1.3 Cơ sở pháp lý để xây dựng bảng danh mục thành phần tài liệu của các
doanh nghiệp thuộc diện nộp lƣu tài liệu vào kho Lƣu trữ TW Đảng
1.3.1. Khái quát chung về chức năng nhiệm vụ của VPTW Đảng
Lịch sử ra đời và phát triển của VPTW gắn liền với lịch sử vẻ vang của Đảng
Cộng sản Việt Nam, với hoạt động của BCHTW, BCT, BBT và các đồng chí lãnh đạo
cấp cao của Đảng. Ngay sau Hội nghị thành lập Đảng (tháng 02-1930) và Hội nghị
Trung ương lần thứ nhất (tháng 10-1930), các bộ phận tham mưu, giúp việc của Trung
ương, trong đó có bộ phận văn phòng đã được hình thành. Đến tháng 5-1947, tại căn cứ
địa Việt Bắc, Ban Thường vụ Trung ương đã quyết định thành lập Văn phòng Thường
vụ Trung ương do đồng chí Lê Văn Lương làm Bí thư Văn phòng. Quyết định này là một
21
22
Tham gia tổ chức phục vụ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các hội nghị Ban
Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, hội nghị do Bộ Chính trị, Ban Bí thư
triệu tập; các cuộc làm việc của đồng chí Tổng Bí thư, đồng chí Thường trực Ban Bí thư.
- Giúp Thường trực Ban Bí thư xử lý công việc hằng ngày của Đảng : Tham gia
xây dựng một số nghị quyết, chỉ thị, đề án; theo dõi đôn đốc thẩm định việc chuẩn bị các
đề án; theo dõi đánh giá tình hình tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của TW ở các
tỉnh – thành uỷ và đảng uỷ thuộc TW; tổ chức công tác thông tin phục vụ sự lãnh đạo của
Trung ương Đảng, - Tiếp nhận và xử lý đơn, thư gửi đến Trung ương; tiếp nhận, phát
hành và quản lý các tài liệu, văn kiện của Trung ương...
- Bảo đảm điều kiện vật chất, trang bị kỹ thuật phục vụ hoạt động của Ban Chấp
hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; bảo đảm tài chính, trụ sở làm việc và một số
điều kiện vật chất khác phục vụ hoạt động của các cơ quan đảng ở Trung ương.
Tổ chức thực hiện một số chế độ, chính sách đối với cán bộ lão thành cách mạng
và cán bộ diện chính sách theo quy định
- Thực hiện nhiệm vụ quan hệ quốc tế về tài chính với các đảng và các tổ chức
chính trị có quan hệ với Đảng ta theo sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
- Tham mưu, giúp Ban Bí thư tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt
động của các cơ quan đảng; trực tiếp tổ chức quản lý, khai thác, bảo vệ mạng thông tin
diện rộng của Đảng;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao.
Đặc biệt trong rất nhiều nhiệm vụ của VPTW Đảng, ở đây chúng tôi muốn nhấn
mạnh và chú ý đặc biệt đến hai nhiệm vụ : quản lý thống nhất Phông lưu trữ ĐCSVN và
quản lý tài sản của các cơ quan, đơn vị thuộc sự quản lý. Đây là 2 nhiệm vụ quan trọng,
làm căn cứ, cơ sở cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu và xây dựng danh mục thành
phần tài liệu của các doanh nghiệp thuộc diện nộp lưu vào lưu trữ TW Đảng, đồng thời
cũng là cơ sở pháp lý để VPTW Đảng tổ chức thực hiện thu thập tài liệu lưu trữ.
- Cơ cấu tổ chức của VPTW gồm :
a) Các đơn vị cấp vụ, cục và tƣơng đƣơng:
+ Vụ Tổng hợp
+ Vụ Thư ký
+ Vụ Địa phương I (tại Hà Nội)
24
+ Vụ Địa phương II (tại Thành phố Hồ Chí Minh)
+ Vụ Địa phương III (tại Đà Nẵng)
+ Vụ Hành chính - Cơ yếu
+ Vụ Thư từ - Tiếp dân
+ Vụ Tổ chức - Cán bộ
+ Cục Tài chính và Quản lý đầu tư
+ Cục Quản trị A (tại Hà Nội)
+ Cục Quản trị T.78 (tại Thành phố Hồ Chí Minh)
+ Cục Quản trị T.26 (tại Đà Nẵng)
+ Cục Quản trị - Tài vụ
+ Cục Lưu trữ
+ Trung tâm Công nghệ thông tin
+ Ban Quản lý dự án các công trình xây dựng của Đảng ở Trung ương
(sẽ giải thể khi hoàn thành nhiệm vụ).
+ Văn phòng Đảng uỷ và đoàn thể.
b) Các doanh nghiệp :
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên An Phú
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn Hồ Tây một thành viên
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên In Tiến Bộ
Có thể nói, VPTW được giao chức năng, nhiệm vụ rất quan trọng, góp phần bảo
đảm và nâng cao chất lượng phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của BCHTW, BCT, BBT.
Tới nay, sau thời gian VPTW triển khai thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ mới,