MỞ ĐẦU
Vùng ven bờ biển (coastal zone) là các mảng không gian nằm chuyển tiếp giữa lục
địa và biển (đại dương), luôn chịu tương tác giữa quá trình lục địa (chủ yếu là sông) và
biển (chủ yếu là sóng, dòng biển và thuỷ triều), giữa các hệ thống tự nhiên (coastal
system) và hệ nhân văn (tâm điểm là hoạt động của con người), giữa các ngành và những
người sử dụng tài nguyên vùng ven bờ biển (hoặc tài nguyên bờ - coastal resources) theo
cả cấu trúc dọc (trung ương xuống địa phương) và cấu trúc ngang (các ngành trên cùng
địa bàn), giữa cộng đồng dân địa phương với các thành phần kinh tế khác. Vì thế, miền
bờ/vùng ven bờ biển còn được gọi là miền tương tác, nhưng trong thực tế khi quản lý
vùng ven bờ biển người ta thường rất ít quan tâm đến mối quan hệ bản chất này.
Đặc tính trên cũng tạo ra tính đa dạng về kiểu loại và sự giàu có về tài nguyên
thiên nhiên - tiền đề phát triển đa ngành (multi-use), đa mục tiêu ở vùng ven bờ biển.
Trong khi đó vùng ven bờ biển lại chỉ được quản lý theo ngành (sectoral management),
dẫn đến gia tăng mâu thuẫn lợi ích (benefit conflict) và xung đột giữa những người
hưởng dụng (hưởng thụ và sử dụng) tài nguyên bờ.
Vùng ven bờ biển là nơi tập trung sôi động các hoạt động phát triển, đặc biệt của
các ngành kinh tế biển và kinh tế liên quan nên các ngành chủ động quản lý theo thẩm
quyền trong quá trình khai thác không gian sử dụng tài nguyên bờ hoặc quản lý từng vấn
đề chuyên biệt (quản lý ô nhiễm, chất thải,...)
Vùng ven bờ biển có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc phát triển kinh tế- xã
hội và đảm bảo an ninh quốc phòng vì ở đây có nguồn tài nguyên giàu có và là nơi tập
trung dân cư với mức độ cao. Các vùng đất ven bờ biển màu mỡ, nguồn tài nguyên biển
dồi dào, dễ dàng giao lưu buôn bán với Quốc tế. Chính vì vậy vùng ven bờ biển ngày
càng được sự quan tâm sâu sắc của con người.
Bờ biển Việt Nam dài 3.260km, xếp thứ 27/156 Quốc gia có biển trên thế giới, là
vùng kinh tế - sinh thái – nhân văn rất đa dạng, phân dị rõ nét, trải dài trên 13 vĩ độ thuộc
28 tỉnh, thành, có trên 2.700 hòn đảo lớn nhỏ, là cửa mở liên thông ra Thái Bình Dương,
có 10 đường hàng hải giao lưu với nhiều nước, vùng lãnh thổ và các thị trường rộng lớn
trên khắp thế giới. Tính chất đặc thù của vùng ven bờ biển Việt Nam cũng tạo ra những
cơ hội và thách thức đối với quá trình phát triển đất nước nói chung.
Các vùng ven bờ biển Việt Nam có điều kiện tự nhiên phong phú và đa dạng, phân
là phân chia vùng ven bờ biển của một khu vực, một quốc gia hay một địa phương theo
các mục đích, tiêu chí để quản lý các đối tượng, các hoạt động phát triển kinh tế xã hội,
bảo vệ môi trường, giảm thiểu tai biến thiên nhiên, mâu thuẫn lợi ích trong xã hội để đạt
kết quả sử dụng tài nguyên, môi trường tối ưu, tạo một xã hội phát triển hài hòa và bền
vững. Kết quả phân vùng quản lý tổng hợp phải gồm hệ thống hành động và đối tượng
quản lý, các đối tượng quản lý là hệ thống phân loại không gian vùng ven bờ biển theo
chức năng sinh thái, mục tiêu phát triển và tính tương thích của các loại hình sử dụng, hệ
thống quy định về sử dụng vùng ven bờ biển và kế hoạch phân vùng sử dụng kèm theo
khung thể chế để thực thi kế hoạch.
2
Để thực hiện đường lối chỉ đạo của Trung ương cũng như chính quyền 28 tỉnh ven
bờ biển, Chương trình Khoa học và Công nghệ biển phục vụ phát triển bền vững kinh tế
xã hội (KC.09) giai đoạn 2006-2010 đã được phê duyệt và triển khai Đề tài KC09.27/0610: “Nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ
biển Việt Nam”, đây là một trong 28 Đề tài được phê duyệt vào năm 2009 nhằm xây
dựng cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp toàn bộ các vùng ven bờ
biển Việt Nam từ Móng Cái đến Hà Tiên (ngày 22 tháng 12 năm 2008). Đề tài này được
Bộ Khoa học và Công nghệ giao cho TS. Nguyễn Thế Tưởng làm chủ nhiệm và Viện Tài
nguyên, Môi trường và Phát triển bền vững chủ trì (theo hợp đồng số 27/2009/HĐ –
ĐTCT-KC.09.27/06-10) .Đây là cơ sở pháp lý để chúng tôi triển khai thực hiện đề tài.
1. Mục tiêu đạt được của đề tài
- Có được cơ sở khoa học và pháp lý phục vụ phân vùng quản lý tổng hợp vùng
ven bờ biển Việt Nam.
- Phân vùng quản lý ven bờ biển Việt Nam.
2. Nhiệm vụ của đề tài
2.1. Thu thập, tổng hợp tài liệu, điều tra bổ sung một số vùng trọng điểm về điều
kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường, kinh tế - xã hội và chính sách pháp luật về quản lý
đới bờ trên thế giới và ở Việt Nam và đánh giá hiện trạng tư liệu của chúng.
* Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường, kinh tế - xã hội và
4.1.2 .Nghiên cứu, điều tra bổ sung điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và
nguồn lực, môi trường và tai biến thiên nhiên, hiện trạng kinh tế xã hội, thực thi pháp
luật; bổ sung và kiểm chứng số liệu hiện có
4.1.3. Kết quả phân tích mẫu
4.1.4. Các báo cáo chuyên đề về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường, kinh tế
xã hội và chính sách pháp luật về quản lý vùng ven bờ biển Việt Nam
4.1.5. Báo cáo khoa học về kết quả thu thập tổng hợp, phân tích đánh giá giá trị
sinh thái, tài nguyên, môi trường và sự biến động của chúng do các tác động tự nhiên,
KTXH, thể chế chính sách.
4.2. Cơ sở lý luận về quản lý tổng hợp đới bờ và phân vùng quản lý tổng hợp đới
bờ
4.3. Cơ sở khoa học và pháp lý cho việc quản lý tổng hợp đới bờ và phân vùng
quản lý tổng hợp đới bờ
4.3.1. Cơ sở khoa học tự nhiên:
4.3.1.1. Hệ thống bản đồ về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường tỷ lệ
1:500.000 cho toàn đới bờ Việt Nam; tỷ lệ 1/250.000 cho đới bờ Bắc Trung Bộ và Nam
Trung Bộ phục vụ xây dựng bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp
4.3.1.2. Các báo cáo chuyên đề về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường và tai
biến thiên nhiên
4
4.3.2. Cơ sở khoa học về kinh tế xã hội
4.3.3. Cơ sở pháp lý
4.3.3.1. Các báo cáo chuyên đề: những vấn đề chung về quản lý tổng hợp đới bờ và
phân vùng quản lý tổng hợp vùng biển ven bờ trong khoa học pháp lý hiện đại
4.3.3.2. Các báo cáo chuyên đề: Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng cơ sở pháp lý
phục vụ phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển
4.3.3.3. Các báo cáo chuyên đề: Đánh giá thực trạng và yêu cầu xây dựng, hoàn
thiện cơ sở pháp lý phục vụ phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ ở Việt Nam
Chương V: Kết quả phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển Việt Nam
Để hoàn thành được nhiệm vụ được giao, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ của
Ban chủ nhiệm chương trình KC.09/06-10 Văn phòng các chương trình trọng điểm cấp
Nhà nước (Bộ Khoa học và Công nghệ), lãnh đạo Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát
triển bền vững, lãnh đạo các cơ quan có các cộng tác viên, Chủ nhiệm chương trình
KC.09/06-10, các đồng nghiệp trong và ngoài Viện. Nhân dịp này, chúng tôi xin chân
thành cám ơn các cơ quan và các cá nhân trên.
6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN, NỘI DUNG, CÁCH TIẾP CẬN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I.1. Cơ sở lý luận về quản lý tổng hợp và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ
biển
I.1.1. Quan niệm về đường bờ
Đường bờ: trong vùng biển có thủy triều người ta phân biệt ra 3 mực nước trung
bình do sự dao động thẳng đứng của thủy triều: triều cao, triều trung bình, triều thấp. Mực
nước biển ở vị trí biển trung bình tiếp giáp với bề mặt sườn bờ lục địa gọi là đường bờ
biển hay đường 0m lục địa. Tùy theo độ triều cao ở các vùng khác nhau mà độ chênh lệch
giữa 3 mực triều cao, 0m hải đồ và 0m lục địa khác nhau. Mặt khác do sự tác động của
con người (đắp đê, ngăn cống) mà vị trí đường bờ biển có khác nhau.
I.1.2. Quan niệm về vùng ven bờ biển
Quan niệm về vùng ven bờ biển của một số tác giả
Vùng ven bờ biển (hay còn gọi là vùng ven biển, đới bờ, dải ven bờ, hoặc dải bờ
biển…) là một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh cấp hành tinh, có đặc trưng riêng về nguồn
gốc phát sinh về hình thái, cấu trúc, về cơ cấu tài nguyên và quá trình phát triển, tiến
hóa…Mặc dù đã được nghiên cứu từ lâu nhưng cho đến nay, khái niệm về ven biển và
phạm vi ranh giới của vùng ven bờ biển vẫn còn là những vấn đề chưa thống nhất, thu hút
sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cả trong khoa học tự nhiên và trong khoa học kinh
Tại Hội thảo Khoa học quốc gia “Nghiên cứu và quản lý vùng ven bờ biển Việt
Nam” tháng 12/1992, Giáo sư Joe Baker của Viện Khoa học biển Autralia đã dẫn ra một
số định nghĩa về vùng ven bờ biển như sau:
Đầu tiên ông cho rằng “Vùng ven bờ biển là độ dài đường bờ của đất nước” (The
lineal length of the country’s coastline). Nhưng cũng theo ông, định nghĩa này chưa thật
thỏa đáng vì nó không thể hiện được sự tương tác giữa biển và lục địa cũng như những
biến đổi diễn ra do mối tương tác đó. Vì vậy, ông đưa ra định nghĩa khác: “Vùng ven bờ
biển là dải đất rộng khoảng 3km dọc bờ biển, bao gồm phần kéo dài của biển đến ranh
giới ảnh hưởng của thủy triều vào trong đất liền”. Tuy định nghĩa này đã đề cập đến sự
tương tác biển- lục địa thông qua tác động của thủy triều, song vẫn còn những hạn chế,
nhất là khi nghiên cứu những vấn đề liên quan đến sử dụng đất đai, thổ nhưỡng và các
vấn đề về kinh tế- xã hội của vùng ven bờ biển. Sau cùng ông đưa ra định nghĩa: “Vùng
ven bờ biển là vùng đất- biển kéo dài từ giới hạn phía trên của lưu vực sông, suối chảy
vào biển tới giới hạn ảnh hưởng của lục địa”. Tuy nhiên, nếu theo định nghĩa này thì
vùng ven bờ biển nước ta có phạm vi rất rộng và hầu như bao trùm toàn bộ lãnh thổ của
Việt Nam. Khi đó việc xác định nội dung nghiên cứu, trọng điểm nghiên cứu và quy
hoạch phát triển vùng biển ven biển ở nước ta sẽ gặp nhiều khó khăn, không cụ thể và
không sát với thực tế.
Trong chương trình quản lý nguồn tài nguyên ven biển khu vực Đông Á, khi đề
cập đến việc phân định ranh giới của vùng ven bờ biển, các nhà nghiên cứu của các nước
ASEAN đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa vấn đề sinh thái nhân văn với các vấn đề địa
8
kinh tế- xã hội trong việc phân định vùng ven bờ biển. Với cách tiếp cận này, các nhà
nghiên cứu cho rằng vùng ven bờ biển là vùng kinh tế- xã hội và nhân văn có liên quan
đến quá trình khai thác tài nguyên ven biển theo quan điểm phát triển bền vững phục vụ
cho sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Quan điểm phân định này nghiêng
về khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển kinh tế- xã hội, các yếu tố về địa
sinh thái còn mờ nhạt. Mặt khác phạm vi không gian của vùng ven bờ biển ở đây là tương
Trong báo cáo khoa học của Ủy ban quốc gia về biển của Việt Nam (IOC),
GS.TSKH Đặng Ngọc Thanh, chủ nhiệm các chương trình điều tra nghiên cứu biển của
Việt Nam giai đoạn 1977-2000 đã đưa ra khái niệm vùng ven bờ biển như sau: “Vùng ven
bờ biển Việt Nam chạy dài trên 3200km bờ biển của đất nước, bao gồm 24/50 tỉnh thành
phố, 100/400 huyện với số dân chiếm ¼ dân số cả nước.....
Theo cách hiểu như trên thì vùng ven bờ biển nước ta được xác định bởi ranh giới
hành chính các huyện có bờ biển. Cách xác định này giúp cho việc thu thập và xử lý các
tài liệu, số liệu phục vụ các nghiên cứu về kinh tế xã hội và dân cư rất thuận lợi. Song có
nhữnghạn chế nhất định, vì các hiện tượng, các đối tượng nghiên cứu về điều kiện tự
nhiên và tài nguyên thiên nhiên lại không bị hạn chế bởi ranh giới hành chính. Vì vậy,
một số chuyên gia khác đã sử dụng giới hạn nhiễm mặn của đất và nước làm ranh giới về
phía lục địa của vùng ven bờ biển.
Trong đề tài: “ Đánh giá kinh tế tổng hợp tài nguyên biển Việt Nam phục vụ quy
hoạch phát triển kinh tế 2005”, mã số 48B.06.02, do Viện kế hoạch dài hạn và phân bố
lực lượng sản xuất, nay là viện chiến lược phát triển thực hiện (1986-1990) các tác giả đã
xác định: “ Vùng ven bờ biển bao gồm dải đất liền ven biển (gồm địa giới hành chính của
105 huyện, thị xã và thành phố giáp biển) và phân trên biển gồm toàn bộ vùng biển và
thềm lục địa Việt Nam”, trong đó tập trung chủ yếu vào khu vực ven bờ, từ độ sâu 50m
nước trở vào.
Trong đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển, vùng ven bờ biển và các
hải đảo Việt Nam đến năm 2010” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì thực hiện (1995 –
1996), khi xác định phạm vi không gian quy hoạch các tác giả cho rằng: Kinh tế biển là
sự kết hợp hữu cơ các hoạt động kinh tế trên biển với các hoạt động kinh tế trên dải đất
liền ven biển, trong đó biển chủ yếu đóng vai trò là vùng khai thác nguyên liệu, là môi
trường cho các hoạt động vận tải, du lịch biển…, còn toàn bộ việc tổ chức sản xuất và
phục vụ khai thác biển lại nằm trên đất liền ven biển. Do vậy, khi nói đến kinh tế biển
không thể tách rời vùng biển với vùng ven bờ biển và ngược lại”.
Với quan niệm như vậy, đề án đã xác định phạm vi không gian quy hoạch bao gồm
phía lục địa của đới bờ biển là các đồng bằng ven biển, ở nơi khác là giới hạn của thủy
triều; còn giới hạn về phía biển là rìa thềm lục địa. Còn ở quy mô một Quốc gia thì đới bờ
biển có không gian hẹp hơn. Về phía lục địa là đường nối các điểm còn chịu tác động của
biển như: ranh giới xâm nhập mặn, tác động của sóng bão, giới hạn thủy triều…, ở nơi
khác thì lấy điểm cách đường bờ 10km, là phạm vi mà ở đó các hoạt động của con người
có thể tác động trực tiếp đến môi trường cửa sông ven biển. Còn về phía biển là đường
đẳng sâu bằng một phần hai bước sóng (thường nằm giữa 30 – 50m nước). Tại khu vực
này, sóng biển có thể tác động trực tiếp, làm biến cải địa hình đáy.
Tóm lại, với cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã đưa ra các khái niệm khác
nhau về dải ven biển và các phương pháp khác nhau để xác định ranh giới dải ven biển.
Trong đó, phần lớn việc phân định ranh giới của dải ven biển dựa trên các căn cứ về tự
nhiên. Riêng một số nghiên cứu về kinh tế xã hội lại thiên về việc phân định theo ranh
giới hành chính. Theo chúng tôi, việc phận định ranh giới dải ven biển nhằm mục đích
xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cho một khu vực lãnh thổ đặc thù này cần
11
được xem xét trong mối quan hệ thống nhất giữa các yếu tố về tự nhiên sinh thái với các
yếu tố về xã hội nhân văn và phát triển kinh tế xã hội của khu vực này.
Quan niệm của đề tài về vùng ven bờ biển
Như chúng tôi đã nêu rất rõ trong phần tổng quan của đề tài: Từ việc tổng quan các
khái niệm nêu trên cho thấy, cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề chưa thống nhất về khái
niệm vùng ven bờ biển và cách phân định ranh giới của vùng ven bờ biển. Tùy theo các
mục đích nghiên cứu khác nhau có thể có các quan điểm khác nhau về dải ven biển và áp
đụng phương pháp khác nhau để xác định phạm vi ranh giới của dải ven biển. Với quan
điểm đó, để phục vụ xây dựng cơ sở khoa học cho việc phát triển dải ven biển Việt Nam,
đề tài quan niệm: Vùng ven bờ biển là khu vực chuyển tiếp giữa lục địa và biển, được đặc
trưng bởi các quá trình tương tác trực tiếp và mạnh mẽ giữa phần lục địa và biển, giữa
nước ngọt và nước mặn và có sự tương tác chặt chẽ giữa các hệ sinh thái khác nhau
trong dải.
nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với vùng ven bờ biển.
Về phạm vi ranh giới của vùng ven bờ biển, theo quan điểm của các tác giả đề tài
KC.09.27/06 – 10 phạm vi của vùng ven bờ biển bao gồm cả không gian trên biển và
không gian trên dải đất liền ven biển. Trong đó:
- Phạm vi không gian trên biển được xác định là vùng biển nông kéo dài từ
đường bờ biển ra đến độ sâu 30m nước đối với vùng ven bờ biển Đông Bắc, Đông Nam,
Đồng bằng sông Cửu Long và độ sâu 50m nước nếu vùng ven bờ biển miền Trung.
- Phạm vi không gian trên đất liền, xét theo các yếu tố tự nhiên thì bao gồm các
khu vực chịu ảnh hưởng và tác động trực tiếp của các yếu tố biển như: khí hậu thủy văn,
sóng gió, hải lưu, thủy triều, xâm nhập mặn… Nhưng phạm vi tác động của từng yếu tố
này trong từng khu vực có thể khác nhau nên rất khó xác định một ranh giới cụ thể. Còn
xét theo các yếu tố kinh tế xã hội thì tùy theo từng lĩnh vực mà sự tương tác giữa các hoạt
động kinh tế xã hội trên đất liền với các hoạt động kinh tế trên biển cũng có nội dung và
mức độ khác nhau nên phạm vi của vùng ven bờ biển thường là tương đối và mang tính
ước lệ, có thể trùng hoặc không trùng với ranh giới hành chính.
Để thuận tiện trong việc thu thập, xử lý và tính toán các số liệu cần thiết đáp ứng
yêu cầu phân tích đánh giá các vấn đề kinh tế xã hội của đề tài, đề tài tạm xác định phần
không gian trên đất liền của vùng ven bờ biển gồm địa giới hành chính của toàn bộ các
thành phố và các huyện thị có đường bờ biển (ranh giới cứng).
I.1.3. Quản lý tổng hợp và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển
I.1.3.1. Khái niệm về quản lý tổng hợp vùng ven biển/đới bờ (QLTHVB/QLTHĐB)
Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về quản lý tổng hợp
đới bờ. Tiếp cận trên nhiều khía cạnh, quản lý tổng hợp được biết đến như là quản lý tổng
hợp ven biển (ICM-Integrated Coastal Management); quản lý tổng hợp đới bờ (ICZMIntegrated Coastal Zone Management); quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển (ICAMIntegrated Coastal Area Management); quản lý tổng hợp tài nguyên ven bờ (ICRMIntegrated Coastal Resource Management); quản lý tổng hợp vùng ven bờ và đại dương
(ICOM-Integrated Coastal and Ocean Management); quản lý tổng hợp lưu vực (Integrated
Watershed Management). Tuy các thuật ngữ này có sự khác nhau về mặt câu chữ nhưng
13
về bản chất của nó không có nhiều khác biệt. Đây là khái niệm nhưng đồng thời cũng là
các quốc gia trong việc xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình quản lý tổng
hợp.
14
Có thể nói rằng, từ sau Hội nghị UNCED năm 1992 và Hội nghị thế giới về Bờ
biển năm 1993, phương pháp quản lý tổng hợp được bàn bạc, tranh luận rất nhiều khi
người ta bàn đến quản lý biển. Đặc biệt cho đến nay, nhiều quốc gia đã nghiên cứu và áp
dụng cách thức quản lý tổng hợp đối với vùng ven bờ biển và đại dương thuộc chủ quyền
và quyền tài phán của mình.
Cùng với thời gian, thuật ngữ quản lý tổng hợp đã có sự thay đổi trong cách sử
dụng mặc dù về bản chất của nó không có nhiều khác biệt. Hiện nay chúng ta có thể gặp
một số thuật ngữ nói về quản lý tổng hợp như: quản lý tổng hợp ven bờ; quản lý tổng hợp
vùng ven bờ hay quản lý vùng đới bờ (ICZM-Integrated Coastal Zone Management hay
ICAM-Integrated Coastal Area Management); quản lý tổng hợp tài nguyên ven bờ
(ICRM-Integrated Coastal Resource Management); quản lý tổng hợp vùng ven bờ và đại
dương (ICOM-Integrated Coastal and Ocean Management); quản lý tổng hợp lưu vực
(Integrated Watershed Management). Đây là các khái niệm những cũng đồng thời là các
cách thức quản lý tổng hợp đã và đang được áp dụng trong thực tế quản lý ven bờ và đại
dương.
Tiếp cận từ khái niệm tổng quát, Bower, Ehler, và Basta cho rằng: “Quản lý tổng
hợp được xem là một tiến trình liên tục, tương tác, có sự tham gia và đồng thuận thực
hiện các nhiệm vụ quản lý đặt ra nhằm đạt được các mục đích và mục tiêu quản lý ở các
cấp độ khác nhau” Theo đó, quản lý tổng hợp ven bờ quan tâm lưu ý đến mối quan hệ tác
động qua lại lẫn nhau giữa các lĩnh vực sử dụng ở vùng ven bờ và đại dương với môi
trường. Quản lý tổng hợp cũng là một tiến trình được thiết kế để khắc phục những hạn
chế mang tính chất manh mún, phiến diện trong phương pháp quản lý đơn ngành.
Ngoài ra cũng còn có một số cách định nghĩa khác nhau về quản lý tổng hợp đới
bờ, cụ thể như sau:
Quản lý tổng hợp đới bờ là một quá trình liên tục tiến triển, nhằm đạt được sự phát
ít. Hầu hết các định nghĩa đều thừa nhận rằng QLTHVB là một quy trình có tính liên tục,
tính tiên phong trong thực hiện và có khả năng thích nghi cao nhằm quản lý nguồn tài
nguyên cho sự phát triển bền vững vùng ven bờ. Vì vậy, ta có thể hiểu Quản lý tổng hợp
vùng ven bờ biển là việc đánh giá toàn diện, đặt ra các mục tiêu, quy hoạch và quản lý
các hệ thống tài nguyên ven biển, có xét đến các yếu tố lịch sử văn hóa và truyền
thống, và các lợi ích trong mâu thuẫn sử dụng; là quá trình liên tục tiến triển nhằm
đạt được sự phát triển bền vững
Quản lý tổng hợp đã và đang áp dụng ngày càng rộng rãi trên thế giới trong quản
lý đại dương và vùng ven bờ. Trên thực tế, quản lý tổng hợp phản ánh một xu hướng quản
lý ngày càng phổ biến trên thế giới đó là dựa vào các “Luật mềm” (soft law) hình thành từ
các hội nghị và diễn đàn quốc tế về biển, bờ biển và phát triển bền vững. Từ Hội nghị
Stockholm 1972, các hội nghị Liên hợp quốc về luật biển mà điển hình là hội nghị lần thứ
ba, cho đến Hội nghị quốc tế về môi trường và phát triển 2002, thế giới đã chứng kiến sự
16
ra đời của nhiều nguyên tắc quan trọng trong quản lý biển và môi trường hướng đến sự
phát triển bền vững. Nguyên tắc quản lý tổng hợp là một trong số đó và hoàn toàn phù
hợp với xu hướng chung hiện nay đối với quản lý đại dương và vùng ven bờ biển.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quản lý tổng hợp là quản lý tổng hợp tài
nguyên và môi trường biển, hải đảo. Cụ thể, theo quy định tại Nghị định 25/2009/NĐ-CP
ngày 06/3/2009 của Chính phủ về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển,
hải đảo: Quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển, hải đảo là quản lý liên ngành,
liên vùng, đảm bảo lợi ích quốc gia kết hợp hài hòa với lợi ích của các ngành, lĩnh vực,
địa phương, các tổ chức và cá nhân liên quan đến việc quản lý, khai thác, sử dụng tài
nguyên và bảo vệ môi trường biển, đảo.
Như vậy, quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển là quản lý liên ngành, liên vùng, đảm
bảo lợi ích quốc gia kết hợp hài hòa với lợi ích của các ngành, lĩnh vực, địa phương, các
tổ chức và cá nhân liên quan đến lĩnh vực quản lý và phạm vi quản lý.
I.1.3. 2. Phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển
Không giống như trong lĩnh vực quy hoạch sử dụng đất, phân vùng trong quản lý tổng
hợp biển và vùng ven bờ biển sẽ bao gồm cả hai cả hai yếu tố: phân vùng sử dụng đất
(vùng đất ven biển) và sử dụng vùng nước (vùng biển).
Trong các quốc gia có đạo luật riêng quy định về quản lý tổng hợp và phân vùng
quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển thì cũng có một số ít quốc gia nêu ra định nghĩa về
phân vùng quản lý một cách rõ ràng. Cụ thể, trong Luật về quản lý vùng ven bờ biển và
các đảo nhỏ 2007 của Indonesia quy định “Phân vùng là một loại mang tính kỹ thuật của
việc sử dụng không gian thông qua việc thiết lập các ranh giới chức năng, có tính đến
nguồn tài nguyên tiềm năng và khả năng chứa đựng cùng với quá trình sinh thái như là
một nhân tố trong hệ thống sinh thái ven biển.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý chủ biên, nhà xuất bản Văn hóa
thông tin thì phân vùng là phân chia thành các vùng theo những đặc điểm nhất định để có
định hướng và cách thức phát triển kinh tế hợp lí. Như vậy, phân vùng quản lý tổng hợp
ven biển là việc phân chia các vùng biển theo các tiêu chí, mục đích để quản lý, sử
dụng đạt hiệu quả và chất lượng cao nhất. Mục đích chính của phân vùng quản lý tổng
hợp là nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên ven biển và bảo đảm vấn đề môi trường biển.
Có rất nhiều tiêu chí để phân vùng quản lý như phân vùng theo vị trí địa lý, phân vùng
theo đặc điểm tự nhiên, phân vùng theo ngành, lĩnh vực; phân vùng theo trình độ phát
triển kinh tế -xã hội; và tùy theo mục đích mục đích sử dụng khác nhau mà nhà quản lý sử
dụng các tiêu chí phân vùng khác nhau.
Cho tới thời điểm hiện nay, khái niệm phân vùng quản lý vùng ven bờ biển chưa
được thống nhất giữa các nước, các nhà khoa học quốc tế cùng như tại Việt Nam. Tuy
nhiên có thể hiểu “Phân vùng quản lý tổng hợp ven biển là phân định không gian vùng
ven bờ biển để sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên tại đó, giải quyết các mâu
18
thuẫn sử dụng đa mục tiêu. Kết quả phân vùng phải gồm hệ thống phân loại không
gian vùng ven bờ biển theo chức năng sinh thái, mục tiêu phát triển và tính tương
thích của các loại hình sử dụng, hệ thống quy định về sử dụng vùng ven bờ biển và kế
19
chính sách, văn hóa… của từng vùng biển và vùng ven bờ biển quản lý, cũng như vào cơ
quan có trách nhiệm đối với việc phân vùng.
Tóm lại, phân vùng quản lý là một công cụ quy hoạch không gian để phân chia một
vùng địa lý thành các đới hoặc các vùng khác nhau. Nó cho phép các vùng được thiết lập
dành riêng cho các hoạt động khác nhau và lựa chọn hình thức sử dụng riêng biệt cho mỗi
vùng như là vùng bảo vệ các hệ sinh thái quan trọng hoặc vùng ươm các giống loài sinh
vật tự nhiên, các bãi sinh sản, khu vực nghiên cứu, giáo dục, phát triển cảng, nơi neo đậu
tàu thuyền, đánh bắt cá, du lịch. Phân vùng giúp giảm thiểu và loại trừ các mâu thuẫn giữa
các hoạt động khai thác tài nguyên ven biển khác nhau, nhằm tăng cường chất lượng các
hoạt động như du lịch, giải trí… Việc phân vùng có thể được xác định theo nguy cơ tai
biến thiên nhiên hoặc theo mức độ tổn thương của tự nhiên hoặc theo các chức năng khác
của người sử dụng.
I.1.3.3. Mối quan hệ giữa hai khái niệm “quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển” và
phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển”
- Trong việc ban hành chính sách và pháp luật, quản lý tổng hợp và phân vùng
quản lý tổng hợp đới bờ có quan hệ hỗ trợ với nhau. Các chính sách về phân vùng nếu
ban hành một cách phù hợp sẽ tạo thuận lợi cho việc ban hành một chính sách quản lý
tổng hợp mang lại hiệu quả cao. Ngược lại việc Quản lý tổng hợp thực hiện tốt sẽ dẫn đến
hệ quả tất yếu là việc phân vùng quản lý chắc chắn mang phải tốt
- Phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven biển đóng một vị trí đặc biệt quan trọng
trong quản lý tổng hợp vùng ven biển.
- Phần vùng quản lý tổng hợp được coi là giai đoạn đầu của quá trình quản lý tổng
hợp vùng ven biển. Trước hết, để hoạt động quản lý tổng hợp diễn ra thuận lợi và hiệu
quả, cần phải tiến hành hoạt động phân vùng. Có nhiều tiêu chí khác nhau để tiến hành
phân chia vùng ven bờ của một quốc gia. Phụ thuộc vào mục đích của quản lý tổng hợp,
người ta có thể chia thành các vùng biển khác nhau.
- Phân vùng quản lý tổng hợp là công cụ để quản lý tổng hợp vùng ven biển. Để
ven bờ cũng là một hệ thống được nhiều người sử dụng. Con người sử dụng các nguồn tài
nguyên cho sự sống (như nước và thức ăn), cho các hoạt động kinh tế (như không gian,
các tài nguyên sinh học và phi sinh học) và cho nghỉ ngơi, giải trí (các bãi cát và nước ven
bờ).
Bên cạnh lợi ích có được từ khai thác, sử dụng biển và vùng ven bờ biển, một loạt
các vấn đề về môi trường biển, đới bờ, là hậu quả của sức ép dân số, sức ép kinh tế, khả
năng quản lý và sử dụng yếu kém tài nguyên biển đang đặt các quốc gia ven biển phải đối
mặt với nhiều thách thức. Các hậu quả môi trường biển, ven biển hiện nay đó là: Cạn kệt
các nguồn tôm giống và đàn cá gần bờ; Mất tính đa dạng sinh học do phá hủy môi trường
sống như rừng ngập mặn, rạn san hô; A xít hóa đất do phát quang rừng ven biển trên các
vùng đất phèn để làm nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản; Ô nhiễm dầu trên biển do vận
tải, khai thác dầu ngoài khơi và các sự cố tràn dầu; Ô nhiễm do nước thải đô thị không
21
được xử lý; Sử dụng hóa chất trong nông nghiệp và công nghiệp không quản lý chặt chẽ.
Hơn nữa, các loại thiên tai như bão, lũ và xâm nhập mặm có tác động lớn tới môi trường
biển và đới bờ có xu hướng trầm trọng thêm.
Trước tình trạng trên, nhu cầu cần phải có cách thức quản lý biển phù hợp đã trở
nên bức thiết. Trong số nhiều phương pháp, cách thức tiếp cận quản lý biển và đại dương
gần đây, quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển (QLTHVB) là một trong những phương pháp
mới, hiện đại được áp dụng ở nhiều nước có biển trên thế giới 1. Có thể khẳng định rằng,
phân vùng và QLTHVB nổi lên như một công cụ hiệu quả nhằm đảm bảo sử dụng bền
vững, tốt nhất các tài nguyên thiên nhiên vùng ven bờ biển, bảo tồn đa dạng sinh học,
ngăn ngừa thiên tai, kiểm soát ô nhiễm.
Để quản lý tổng hợp biển và vùng ven bờ biển hiệu quả cần phải tiến hành quy
hoạch sử dụng biển và vùng ven bờ biển theo cách tiếp cận không gian (spatial approach)
mà phân vùng chức năng sử dụng biển và vùng ven bờ biển được xem là một công cụ rất
cần thiết để đưa ra được phương án sử dụng theo chức năng của các hệ thống tài nguyên
biển và vùng ven bờ biển và là một phần trong kế hoạch quản lý biển và vùng ven bờ
cố; Phục hồi hệ sinh thái bị phá hủy;
- Điều phối các nỗ lực của chính quyền trong việc tăng cường sự phát triển bền
vững các nguồn tài nguyên vùng ven bờ biển;
- Đảm bảo cân bằng áp lực kinh tế và môi trường vùng ven bờ biển vì chúng tác
động đến sự phát triển và bảo tồn các tài nguyên vùng ven bờ biển;
- Cung cấp hướng dẫn cho việc lập kế hoạch phát triển vùng ven bờ biển nhằm
giảm thiểu các tác động không thể đảo ngược được;
- Đưa ra các phương án phát triển vùng ven bờ biển an toàn; Nâng cao nhận thức,
phát triển cộng đồng.
Trọng tâm của một chương trình QLTHVB là tổ chức một hệ thống tổng hợp,
chính thống để đảm bảo sự bền vững của các nguồn tài nguyên vùng ven bờ biển, duy trì
đa dạng sinh học, phát triển kinh tế xã hội và phòng chống các tai biến thiên nhiên. Điều
quan trọng là phải khắc phục hậu quả của các dự án phát triển không được điều phối trong
vùng ven bờ biển. Kết quả của sự không được điều phối này là suy giảm tài nguyên và
làm mất quyền sử dụng tài nguyên đó của các thế hệ tương lai. Chương trình QLTHVB
phải tránh những điều này bằng việc quy hoạch đa ngành và xây dựng các dự án một cách
tổng hợp, nhờ phân tích tài nguyên định hướng cho tương lai và đảm bảo tính bền vững
cho mỗi một sáng kiến phát triển. Mục tiêu trọng tâm nói trên phải khớp với các mục tiêu
cụ thể khác của chương trình QLTHVB theo quy hoạch chiến lược.
QLTHVB cho đến nay đựơc thừa nhận là quá trình thích hợp nhất để giải quyết
các thách thức tại vùng ven bờ hiện tại cũng như lâu dài. QLTHVB tạo cơ hội cho các
vùng ven bờ biển hướng tới sự phát triển bền vững, cho phép tính đến các giá trị tài
nguyên và lợi ích hiện nay và trong tương lai của vùng ven bờ biển.
23
Thông qua việc tính đến các lợi ích ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. QLTHVB có
thể kích thích sự phát triển kinh tế vùng ven bờ biển, phát triển tài nguyên và hạn chế sự
suy thoái các hệ thống tự nhiên chứa chúng. QLTHVB có thể cung cấp khung sườn cho
các phản ứng linh hoạt nhằm đối phó với sự không chắc chắn của các dự báo về tương lai,
- Tăng cường nhận thức đầy đủ về các hệ tài nguyên thiên nhiên quý giá của vùng
ven bờ biển và tính bền vững của chúng đối với hoạt động đa dạng của con người;
- Tối ưu hóa việc sử dụng đa mục tiêu các hệ tài nguyên vùng ven bờ biển thông
qua việc tổng hợp các thông tin sinh thái, xã hội và kinh tế;
- Triển khai các cách tiếp cận đa ngành, hợp tác và phối hợp liên ngành nhằm giải
quyết những vấn đề phát triển phức tạp, đồng thời xây dựng các chiến lược tổng hợp
nhằm mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động kinh tế;
- Giúp chính quyền nâng cao năng suất và hiệu quả của việc đầu tư tài chính và
nhân lực, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường, thực hiện được các cam
kết quốc tế liên quan tới môi trường biển và ven bờ;
Khác với các cách thức quy hoạch phát triển khác, QLTHVB giúp tối ưu hóa các
lợi ích kinh tế và xã hội do việc sử dụng tài nguyên mang lại. Nơi mà sự phát triển bền
vững phụ thuộc vào nguồn tài nguyên ven bờ có khả năng phục hồi (ví dụ như các cửa
sông), QLTHVB sẽ giúp quản lý việc sử dụng đa mục tiêu, duy trì được tính tổng hợp về
chức năng của các hệ ven bờ và sự ổn định của các nguồn tài nguyên. Tất cả các dạng
phát triển đều tác động đến chất lượng và năng suất của các hệ sinh thái ven bờ. Do đó, sự
phát triển kinh tế, xã hội bền vững của vùng ven bờ biển không thể tách khỏi quy hoạch
và quản lý môi trường. Điều này rất quan trọng đối với các ngành kinh tế đang phát triển
mà phụ thuộc vào chất lượng môi trường và tài nguyên thiên nhiên trong việc đảm bảo an
toàn thực phẩm, cũng như đối với các ngành kinh tế đã phát triển với mô hình phát triển
vùng ven bờ biển tiên tiến.
QLTHVB cũng là một công cụ để giải quyết các vấn đề quốc tế xuyên biên giới
như ô nhiễm biển, khai thác quá mức các nguồn tài nguyên chung và bảo vệ đa dạng sinh
học.
I.1.5.2. Mục tiêu, ý nghĩa phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển
Mục tiêu chung:
1. Sử dụng hợp lý nguồn lợi, theo hướng phát triển bền vững vùng ven bờ biển trên
cơ sở chấp nhận phát triển đa ngành.