Động cơ, nhu cầu của người lao động và các biện pháp tác động đến động cơ theo hướng có lợi cho mục tiêu của doanh nghiệp - Pdf 35

LỜI MỞ ĐẦU
Ngay từ thủa sơ khai, khi con người xuất hiện thì các loại nhu cầu cũng bắt
đầu được hình thành. Các loại nhu cầu đó ban đầu chỉ giản đơn do cuộc sống của
xã hội loài người lúc bấy giờ cũng còn rất giản đơn. Nhưng khi cuộc sống được
ngày một nâng cao thì những nhu cầu của con người lại càng phát triển hơn.
Ngày nay, trong quá trình đổi mới và phát triển nguồn lực con người được
đánh giá là sức mạnh siêu quốc gia, có tính quyết định trong cạnh tranh kinh tế.
chắc chắn không ai phủ nhận vài trò quan trọng và to lớn của quản lý nhằm bảo
đảm sự tồn tại và hoạt động bình thường của đời sống kinh tế xã hội nói chung
và với các Doanh nghiệp nói riêng sự phát triển kinh tế không chỉ dựa trên với
cơ sở vật chất hoặc kỹ thuật công nghệ mà yếu tố hạn chế trong hầu hết mọi
trường hợp chính là thiếu thốn về chất lượng và sức mạnh của các nhà quản lý.
Trước những cơ hội va thách thức lớn của thời kỳ hội nhập. Quản lý có
vai trò quyết định và tác động trực tiếp tới tiềm năng phát triển mỗi con người.
Quản lý ngày nay đã trở thành yếu tố cơ bản hàng đầu của một nền sản xuất và
kinh tế hiện đại. Để quản lý có hiệu quả cho một Doanh nghiệp vấn đề khá
phức tạp cần đặt ra đối với mỗi nhà quản lý là phải có những phương pháp quản
lý như thế nào để hướng con người làm việc một cách tốt nhất theo mục tiêu
chung của Doanh nghiệp. Muốn vậy, nhà quản lý cần phải hiếu động cơ và nhu
cầu của người lao động là gì? Đây chính là vấn đề em muốn đề cập trong bài của
mình: Đề tài của em là "Động cơ, nhu cầu của người lao động và các biện
pháp tác động đến động cơ theo hướng có lợi cho mục tiêu của Doanh
nghiệp".
Do thời gian tìm hiểu chưa nhiều và trình độ kiến thức còn có hạn nên bài
viết của em sẽ không tránh khỏi những sai sót. Rất mong sự đóng góp ý kiến của
thầy cô để bài viết này của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỘNG CƠ VÀ NHU CẦU CỦA NGƯỜI

Động cơ được bắt đầu bằng một nhu cầu không được thỏa mãn và thúc
đẩy hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu đó. Nhu cầu sẽ trở thành động cơ khi có ba
yếu tố:
- Sự mong muốn, trông chờ thực hiện.
- Có tính hiện thực.
- Phù hợp với môi trường xung quanh.
Động cơ là nhu cầu mạnh nhất của con người trong một thời điểm nhất
định, chính nó thúc đẩy con người sẽ hành động.
Nhu cầu - Động cơ - Hành dộng là một chuỗi liên tục.
2.3. Tính chất của nhu cầu:
Sự thiếu hụt của một cái gì đó ở cá nhân chính là mắt xích đầu tiên của
chuỗi các sự kiện dẫn đến hành vi. Nhu cầu không được thỏa mãn gây nên sự
căng thẳng về thể chất cũng như tinh thần trong mỗi người. Để giải tỏa được
căng thẳng con người sẽ tham gia vào một kiểu hành vi nào đấy nhằm thỏa mãn
nhu cầu này. Có nhiều lý thuyết về động cơ giải thích tại sao con người lại có
hành vi như vậy. Một trong những thuyết nổi tiếng ấy là thuyết hệ thống thứ bậc
nhu cầu của Maslow. Lý thuyết ấy nhấn mạnh hai tiêu đề cơ bản.
Chúng ta là những động vật có ham muốn với những nhu cầu phụ thuộc
vào những gì ta đã có. Chỉ những nhu cầu chưa được thỏa mãn mới có thể ảnh
hưởng tới hành vi. Có nghĩa là, một nhu cầu đã thỏa mãn không phải là một
động cơ. Động cơ chính là nhu cầu mạnh nhất của con người mà nhu cầu ấy
chưa được thỏa mãn.
Các nhu cầu của ta được sắp xếp theo thứ bậc, ý nghĩa quan trọng. Một
khi một nhu cầu đã được thỏa mãn, thì nhu cầu khác lại xuất hiện và đòi hỏi phải
được thỏa mãn.
Maslow giả thiết có 5 cấp nhu cầu: sinh lý, an toàn xã hội, tôn trọng và tự
thế hiện minh.
a. Nhu cầu sinh lý: gồm những nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống sinh
hoạt (ăn, uóng, mặc, ở…).


Khi nhân viên của doanh nghiệp được thuê đấy bởi nhu cầu được kính trọng thì


người ta thường làm việc tích cực và cố gắng nâng cao những kỹ năng cần thiết
để thành công. Họ làm việc vì những mong muốn có tên trong danh sách những
người xuất sắc, được nhận phần thưởng, được ca ngợi và được nhiều người biết
tới. Những nhu cầu này cho phép xây dựng niềm tự hào cho nhân viên và khi
chúng chiếm ưu thế thì các nhà quản trị có thể thúc đẩy nhân viên hoàn thành
công việc với chất lượng cao bằng cách đem lại cho họ những cơ hội để họ thể
hiện khả năng và bản lĩnh.
e. Nhu cầu tự thân vận động (tự hoàn thiện). Đây là nhu cầu cao nhất,
mong muốn đạt tới mức tối đa, phát huy hết mọi tiềm năng và hoàn thành mục
tiêu đặt ra cho mình. Maslow cho rằng nhu cầu này là lòng mong muốn trở nên
lớn hơn bản thân mình, trở thành 1 thứ mà mình có thể trở thành. Các nhân sẽ
thể hiện đầy đủ mọi tài năng và năng lực tiềm ẩn của mình. Người đạt tới nhu
cầu này là người có thể làm chủ được chính bản thân mình và có khả năng chi
phối cả những người khác, là người thường có óc sáng kiến, có tinh thần tự giác
cao và có khả năng giải quyết vấn đề. Nhưng nhu cầu tự thể hiện mình chỉ có thể
thỏa mãn được sau khi đã thỏa mãn tất cả những nhu cầu khác. Hơn thế nữa,
việc thỏa mãn những nhu cầu tự thể hiện mình có xu hướng là tăng cường độ
của các nhu cầu khác. Vì thế khi người ta có thể có xu hướng bị thúc ép bởi
những cơ hội lớn để thỏa mãn nhu cầu đó.
II. CÁC BIỆN PHÁP TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỘNG CƠ THEO HƯỚNG CÓ
LỢI CHO MỤC TIÊU CHUNG CỦA DOANH NGHIỆP.
1. Năm chức năng của quản lý.
Một quá trình quản lý hoàn chỉnh hình thành từ 5 chức năng quản lý có
quan hệ mật thiết với nhau. Kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, kiểm tra.
Đầu tiên là thông qua việc dự toán tình hình xác lập mục tiêu quản lý,
hoạch định kế hoạch hành động. Sau đó sẽ bắt đầu quá trình thực hiện kế hoạch,
phát huy vai trò tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra của quá trình quản lý.

cương vị từng người, do đó mà khiến cho toàn bộ tổ chức vận hành 1 cách hữu
hiệu để đạt được mục tiêu của xí nghiệp.
1.4. Phối hợp:Phối hợp tức là kết nối, liên hiệp, điều hòa tất cả các hoạt động và
lực lượng 1 cách nhịp nhàng.
1.5. Kiểm tra: Kiểm tra có nghĩa là nắm vững tình hình tiến triển của công việc,
kiểm tra sự phù hợp của nó so với kế hoạch đã định.
Mục đích của kiểm tra vì phát hiện những khiếm khuyết trong công việc,
áp dụng biện pháp điển hình cần thiết, sửa chữa khuyết điểm để bảo đảm việc
thực hiện thuận lợi mục tiêu đã đề ra.
Trong toàn bộ quá trình quản lý nói trên, kế hoạch là điểm xuất phát của
hoạt động quản lý đồng thời là căn cứ của hoạt động thuộc các chức năng quản
lý khác. Tổ chức là chỗ dựa để các chức năng quản lý khác phát huy tác dụng.
Chỉ huy, phối hợp và và kiểm tra là điều kiện cần thiết để bảo đảm cho các hoạt
động của tổ chức tiến hành bình thường nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Khi mục tiêu của một kế hoạch hành động được thực hiện thì mục tiêu quản lý
mới sẽ được bắt đầu xác lập và hình thành 1 quá trình quản lý mới.
2. Phương thức quản lý tạo ra mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Con người là một hệ thống hữu cơ, không phải là một hệ thống máy móc.
Sau khi hấp thụ những năng lượng như ánh sáng mặt trời, thức ăn, nước uống,
nó có thể sản sinh ra những hành vi, trong đó có hoạt động trí óc, phản ứng tìch
cảm và những hoạt động khác. Vì vậy, đối với nhà quản lý, một vấn đề quan
trọng là phải làm rõ mối liên hệ giữa đặc tính cá nhân của công nâhn với đặc
tính của môi trường làm việc vì khi làm rõ được mối liên hệ đó, nhà quản lý sẽ
nắm được phương hướng hành động của công nhân. Nhà quản lý chỉ cần tạo một


môi trường làm việc thích hợp nào đó, thì có thể dẫn dắt công nhân làm việc một
cách hữu hiệu nhằm phục vụ mục đích của tổ chức.
Nhiệm vụ của nhà quản lý là phải thực hiện nguyên tắc thống nhất giữa
mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của cá nhân tức là thực hiện nguyên tắc thống

thuyết phục, tức là làm cho đối tượng quản lý phân biệt được phải - trái, đúng sai, lợi - hại, tốt - xấu, từ đó nâng cao tính tự giác làm việc và tinh thần gắn bó
với doanh nghiệp.
Một số công cụ và biện pháp quan trọng:
* Tiền lương, tiền thưởng phải tương xứng với số lượng và chất lượng lao
động thực tế cống hiến.
Các lý thuyết nội dung và quá trình về động cơ đều cho rằng đồng tiền có
thể ảnh hưởng trong một chừng mực nào đó đến sự nỗ lực và sự kiên trì. Tiền
lương sẽ là một động lực tốt nếu những người công nhân nhận thức được rằng
thành tích tốt là 1 công cụ để nhận được số tiền đó. Những nhà quản trị phải
hiểu rằng tiền lương là rất quan trọng đối với một số người và là phần thưởng
được đánh giá cao. Nó có thể thỏa mãn nhu cầu và tăng cường động lực của
công nhân viên đó.
* Thưởng, phạt công minh và kịp thời: Điều cốt yếu làm công nhâh hài
lòng với công việc là những nhân tố khích lệ. Nhu cầu khác nhau của con người
là sự hài lòng và sự bất mãn. Những nhân tố khiến công nhân hài lòng là: thành
tích, sự khen ngợi, bản thân công việc, trách nhiệm và sự tiến bộ. Khen ngợi
chính là sự thừa nhận đối với thành tích công tác. Những nhân tố sản sinh ra
cảm giác bất mãn đối với công việc là do yêu cầu mãnh liệt về vật chất và xã hội
bị tước đoạt. Một khi họ bất mãn với công việc thì hiệu suất công việc giảm đi.
Vì họ có cảm giác không được đối xử công bằng và tôn trọng. Khi con người bỏ
sức ra thực hiện một mục tiêu mà họ tham gia, họ mong muốn nhận được những
điều mà việc hoàn thành mục tiêu ấy tạo ra, trong đó điều quan trọng nhất không
phải là tiền mà là quyền tự chủ, được tôn trọng, quyền tự mình thực hiện công
việc. Sự thỏa mãn của những quyền ấy sẽ thúc đẩy con người cố gắng hoàn
thành mục tiêu của tổ chức.
* Điều kiện làm việc thuận tiện, an toàn, đảm bảo sức khoẻ và bảo hiểm
cuộc sống lâu dài: Sự phong phú trong công việc hay giờ làm việc linh hoạt…


Làm phong phú công việc là tìm cách nâng cao hiệu suất làm việc và sự hài lòng

III. MÔ HÌNH QUẢN LÝ Ở TẬP ĐOÀN NUCOR.
Tập đoàn Nucor - Một tập đoàn chuyên về buôn bán sắt thép - có một đội ngũ
quản trị tin tưởng rằng tiền bạc là một động lực tốt nhất. Phần lớn công nhân viên
của Nuror đều không chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp khi được tuyển dụng .
thế nhưng công nhân viên của Nuror xem ra có vẻ là đánh giá cao sự đảm bảo
công việc làm ăn mà bạn ban lãnh đạo cố gắng tạo ra.
Trong một chừng mực nhất định nào đó Nurcor xem mỗi nhóm gồm từ 25
đến 30 công nhân viên sản xuất đó như là một Doanh nghiệp riêng. Những gì công
nhân viên kiếm được phụ thuộc rất nhiều vào thành tích của họ. Sẽ không có tiền
thưởng khi thiết bị không hoạt động. Những định về chuyện vắng mặt không lý do
ở Nurcor rất đơn giản. mỗi năm được phép có bốn ngày. những ngày vắng mặt
thêm chỉ được phép vì phải đi tập quân hay tham gia đoàn bồi thẩm. Bất kỳ người
nào vắng mặt quá số ngaỳ đó đều bị mất tiền thưởng hàng tuần. Ngoài ra người đi
muộn quá nửa giờ sẽ bị mất tiền thưởng của ngày đó.
Chương trình khen thưởng sản xuất chỉ là một bộ phận của hệ thống Nurcor.
Ở cấp phụ trách các bộ phận, công ty này có một chương trình thù lao có thưởng
được xây dựng trên cở sự đóng góp của bộ phận cụ thể này cho toàn công ty.
Kế hoạch khen thưởng thứ ba được áp dụng cho những công nhân viên
không thuộc bộ phận sản xuất hay khoong thuộc cấp quan trị bộ phận; các kế toán
viên, thư ký, nhân viên văn phòng, vv.. tiền thưởng mà họ nhận được xác định căn
cứ vào lợi nhuận trên tài sản của bộ phận đó hay lợi nhuận trên tài sản của công
ty. Hằng tháng mỗi bộ phận đều nhận được một báo cáo thể hiện lợi nhuận trên
tài sản của mính tính cho nơi nghỉ giải lao cùng với biểu đồ thể hiện việc chi trả
tiền thưởng.
Chương trình thứ tư của Nurcor dành cho cơ quan chức cấp cao. Họ không
được nhận phần chia lợi nhuận, tiền lương hưu hay nghỉ việc cũng như những bổng
lộc khác. trên một nửa số tiền thù lao của mỗi quan chức được xác định căn cứ trực
tiếp vào thu nhập của công ty. Nếu công ty làm ăn khá thì có nghĩa là những người
điều


trường, mỗi sinh viên chúng ta hãy phấn đấu trau dồi kiến thức để làm hành
trang vững bước cho tương lai.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Quản lý đã giúp em
hoàn thành bài tiểu luận này.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Báo cáo Tài chính doanh nghiệp
- Giáo trình Quản lý nhân sự và Tổ chức quản lý
- Quản trị học căn bản

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................1
NỘI DUNG............................................................................................................2

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỘNG CƠ VÀ NHU CẦU CỦA NGƯỜI
LAO ĐỘNG. ...................................................................................................2
1. Sự trưởng thành của cá tính con người. ...........................................2
2. Khái niệm..............................................................................................2
II. CÁC BIỆN PHÁP TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỘNG CƠ THEO HƯỚNG
CÓ LỢI CHO MỤC TIÊU CHUNG CỦA DOANH NGHIỆP.....................5
1. Năm chức năng của quản lý...............................................................5
1.1. Kế hoạch: Đối với mỗi doanh nghiệp, vạch ra kế hoạch hành
động là công tác quan trọng nhất. Theo Fayol "vạch kế hoạch tức là
tìm kiếm tương lai, xây dựng kế hoạch hành động". Một kế hoạch
hành động tốt phải có 4 nét đặc trưng:...................................................6
1.2. Tổ chức:Là một cơ cấu được xây dựng có chủ địch về vai trò
và chức năng (được hợp thức hóa), trong đó các thành vien của nó
thực hiện từng phần việc được phân công với sự liên kết hữu cơ
nhằm đạt tới mục tiêu chung....................................................................7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status