TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN
===== =====
BÀI TẬP LỚN
MÔN: KINH TẾ VI MÔ
Gi¸o viªn híng dÉn: NguyÔn Kim Loan
Họ và tên:
Lớp:
Mai Phương Anh
KTB 48 – ĐH2
Hải phòng - 2008
1
BÀI TẬP LỚN
Môn: Kinh tế vi mô
A. Phần1 - Lý thuyết.
I. Giới thiệu chung về môn kinh tế vi mô ?
Kinh tế học là môn ngành khoa học giúp cho con người hiểu về cách thức vận
hành của nền kinh tế nói chung và cách thức ứng sử của từng thành viên tham gia
vào nền kinh tế nói riêng.
Nền kinh tế là một cơ chế phân bổ các nguồn lực khan hiếm của các mục tiêu
cạnh tranh. Cơ chế này nhằm giải quyết 3 vấn đề cơ bản : sản xuất cái gì ? sản xuất
như thế nào ? sản xuất cho ai? Quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước chính là
quá trình lựa chọn để quyết định tối đa 3 vấn đề cơ bản đó.
Nền kinh tế bao gồm các bộ phận hợp thành và sự tương tác giữa chúng với
Tìm hiểu để cải thiện kết quả hoạt
động của toàn bộ nền kinh tế. Kinh
tế vĩ mô nghiên cứu cả một bức
tranh lớn và quan tâm đến mục tiêu
kinh tế của cả một nền kinh tế
Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô tuy khác nhau nhưng đều là những nội dung
quan trọng của kinh tế học, không thể chia cắt nhau mà bổ sung cho nhau, tạo
thành hệ thống của kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Thực tế đã
chứng minh, kết quả kinh tế vĩ mô, kinh tế quốc dân phụ thuộc vào sự phát triển
của các doanh nghiệp, của tế bào kinh tế trong sự tác động, ảnh hưởng của kinh tế
vĩ mô, của nền kinh tế. Kinh tế vĩ mô tạo hành lang, tạo môi trường, tạo điều kiện
cho kinh tế vi mô phát triển. Trong thực tiễn kinh tế và quản lý kinh tế, nếu chỉ giải
quyết các vấn đề kinh tế vi mô, quản lý kinh tế vi mô hay quản lý sản xuất kinh
doanh, mà không có sự điều chỉnh cần thiết của kinh tế vĩ mô, quản lý vĩ mô hay
quản lý Nhà nước về kinh tế, thì chẳng khác nào chỉ thấy từng cây mà không thấy
cả rừng cây, chỉ thấy từng tế bào kinh tế mà không thấy cả nền kinh tế.
∗ Đối tượng và nội dung cơ bản của kinh tế học vĩ mô.
- Kinh tế học vĩ mô là một môn khoa học kinh tế, một môn khoa học cơ bản
hay cung cấp kiến thức lý luận và phương pháp kinh tế cho các môn quản lý doanh
nghiệp trong các nganh kinh tế quốc dân. Nó là khoa học về sự lựa chọn hoạt động
kinh tế vi mô trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là sự lựa chọn để
giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản của một Doanh nghiệp, một tế bào kinh tế: Sản
xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai?
- Kinh tế học vi mô nghiên cứu tính quy luật, xu thế vận động tất yếu của các
hoạt động kinh tế vi mô, những khuyết tật của nền kinh tế thị trường và vai trò của
sự điều tiết.
- Để thực sự trở thành một môn khoa học về sự lựa chọn, kinh tế học vi mô
nghiên cứu ba vấn đề cốt lõi trên, lựa chọn các vấn đề cơ bản; tính quy luật và xu
hướng vận động của kinh tế vi mô; những khuyết tật của nền kinh tế thị trường và
tính quy lụât chung đó để lam cơ sở phân tích hoạt động kinh tế vi mô, phát hiện
những mâu thuẫn đang diễn ra trong thực tiễn và trên cơ sở đó xây dựng các dự
đoán, đề ra các phương hướng, biện pháp phù hợp, nhằm phát triển có hiệu quả hơn
các hoạt động kinh tế vi mô.
d. Cần hết sức coi trọng việc nghiên cứu, tiếp thu những kinh nghiệm thực
tiễn về các hoạt động kinh tế vi mổtong các doanh nghiệp tiên tiến của Việt Nam và
của các nước trên thế giới. Trong quá trình thức hiện cần tiếp tục hoàn chỉnh, bổ
xung dự đoán và phản ứng của người tiêu dùng đối với giá cả một cách tốt hơn. Do
đó trong quá trình học cần tìm hiểu, nắm chắc thực tế phong phú phức tạp của các
hoạt động kinh tế vi mô để chứng minh và bổ xung cho nhận thức lý luận của môn
học.
4
e. Ngoài những phương pháp chung đã được vận dụng đối với môn học kinh
tế vi mô nêu trên còn có các phương pháp riên khác : phương pháp đơn giản hoá
việc nghiên cứu các mối quân hệ phức tạp, phương pháp cân bằng nội bộ, bộ phận
xem xét từng đơn vị vi mô, không xét đến sự tác động của các vấn đề khác.
Tóm lại kinh tế vi mô- một bộ phận của kinh tế học nghiên cứu bản chất của
các hiện tượng kinh tế, tính quy luật và các xu hướng vậnu động của các hiện tượng
và quy luật của kinh tế thị trường. Để nắm vững nội dung của kinh tế vi mô và
phương pháp ra quyết định bằng việc sử dụng công cụ kinh tế vi mô, chúng ta cần
tự nghiên cứu và thực hành kiến thức một cái có hệ thống.
II. Giới thiệu chung về lý thuyết cung cầu?
Lý thuyết cung cầu là một bộ phận cực kỳ quan trọngcủa kinh tế học. Lý thuyết
này giúp ta hiểu được cơ chế hình thành và điều chỉnh giá trong nền kinh tế thị
trường. Giá của hàng hoá chính là tín hiệu phối hợp các hoạt động của người tiêu
dùng, người sản suất và chủ các nguồn lực. Theo một quan điểm chung nhất thị
trường được hiểu là sự tương tác giữa cung và cầu. Trong một nền kinh tế các
Chúng ta có thể biểu diễn mối quan hệ giữa cầu và các yếu tố đó dưới dạng
phương trình sau :
Dx = f(Px ;Py ; I ; N ; T ; E)
Trong đó Dx : cầu đối với hàng hoá
Px : giá hàng hoá
Py : giá hàng hoá có liên quan
I : thu nhập
N : Số lượng người tiêi dùng
T : Thị hiếu
E : Kỳ vọng
Để hiểu được cơ chế hình thành giá cả chúng ta xem xét yếu tố thứ hai của thị
trường. Đó là cung – hành vi của nhà sản xuất.
b. Cung < Supply >
- Cung là số lượng hàng hoá mà người sản xuất muốn bán và có khả năng bán
tại các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định.
- Luật cung: Biểu hiện mối liên hệ giữa giá và lượng cung. Giá và lượng cung tỷ
lệ thuận với nhau.
Tại sao khi giá cao hơn lại dẫn đến lượng cung cao hơn? Câu trả lời ở đây là lợi
nhuận. Nếu như giá cả của các yếu tố đầu vào dùng để sản xuất ra hàng hoá được
giữ cố định , thì giá hàng hoá cao hơn, có nghĩa là lợi nhuận cao hơn đối với nhà
sản xuất, họ sẽ sản xuất nhiều hơn và lôi kéo thêm nhiều nhà doanh nghiệp vào sản
xuất.
6
Ngoài giá bán bản thân hàng hoá còn có nhiều yếu tố khác xác định cung về
hàng hoá hoặc dịch vụ.
* Các yếu tố cơ bản là:
a. Giá của các yếu tố đầu vào: Có tác động rất lớn với quyết định cung của
+ Pi : Là giá của các yếu tố đầu vào
+ CN: Là công nghệ.
* Khi cầu đối với mặt hàng nào đó xuất hiện trên thị trường, người sản xuất sẽ
tìm cách đáp ứng nhu cầu đó :
Cân bằng thị trường xuất hiện tại mức giá, tại đó lượng cung và lượng cầu bằng
nhau. Mức giá đó gọi là giá cân bằng : sản lượng đó gọi là sản lượng cân bằng. Tuy
nhiên mức giá và sản lượng cân bằng không nhất thiết phải giống mức giá và sản
lượng bán ra.
Sự vận động tới điểm cân bằng có thể được minh hoạ bằng việc xem xét các
tình huống cầu thừa hoặc cung thừa. Đó là các tình huống trong đó tồn tại sức ép
làm thay đổi giá. Khi giá thay đổi lượng cung và lượng cầu cũng điều chỉnh cho tới
khi đạt được cân bằng.
* Khi giá trên thị trường khác với giá cân bằng sẽ xuất hiện trạng thái dư thừa
hoặc thiếu hụt.
+ Nếu giá thị trường lớn hơn giá cân bằng: Xuất hiện dư thừa hàng hoá, xuất
hiện sức ép làm cho giá giảm.
+ Nếu giá thị trường nhỏ hơn giá cân bằng: Xuất hiện thiếu hụt hàng hoá, xuất
hiện sức ép làm cho giá tăng.
Trong cả 2 trường hợp trên giá cả có xu hướng trở về trạng thái cân bằng. Trong
cả 2 trường hợp đó, lượng giao dịch trên thị trường đều nhỏ hơn lượng cân bằng.
* Có 4 trạng thái cân bằng của thị trường khi đường cung hoặc đường cầu dịch
chuyển.
P
+ Trạng thái 1: Khi cung dịch phải, trạng thái
S
cân bằng có xu hướng dịch phải và xuống
PE
8
E’
E
Q
D’
Q
QE QE'
+ Trạng thái 3: Khi cầu dịch phải, trạng thái
P
cân bằng có xu hướng dịch lên và lên trên
làm giá cân bằng tăng và lượng cân bằng tăng.
PE’
Trạng thái này người sản xuất có lợi nhất
PE
E’
E
Q
QE’ QE
Vì mức giá cân bằng không phải là vĩnh cửu, mà sẽ thay đổi bất cứ lúc nào
khi đường cung và đường cầu dịch chuyển, cho nên chính phủ thường cố gắng
kiểm soát giá và điều tiết giá cả thị trường thông qua việc định ra các mức giá trần
(cao nhất) và giá sàn (thấp nhất). Tuy nhiên việc can thiệp này thường làm giảm
tính hiệu quả của thị trường. Chính những điều này sẽ dẫn đến dư thừa hoặc thiếu
hụt ở các mức giá quy định chứ không phải là một giải pháp cho vấn đề phân bố tài
nguyên.
Như chúng ta đã biết thuế đánh vào hàng hoá làm dịch chuyển đường cung lên
trên dẫn tới giá cân bằng cao hơn và sản lượng cân bằng thấp hơn, sự thay đổi của
giá là vấn đề đặc biệt quan trọng vì nó phản ánh ảnh hưởng của thuế. Khi thuế tăng
cả người tiêu dùng và nhà sản xuất đều phải chịu.
Tóm lại : Lý thuyết cung cầu là một bộ phận cực kỳ quan trọng trong kinh tế
học. Lý thuyết này giúp ta hiểu được cơ chế hình thành và điều chỉnh giá trong nền
kinh tế thị trường. Hiện nay, khi nền kinh tế Việt Nam đang chuyển biến mạnh mẽ
sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN,
một mặt nhà nước cần có chính sách kinh tế - xã hội phù hợp nhằm phát huy tính
ưu việt của thị trường ; mặt khác các doanh nghiệp cần chủ động điều tra nhu cầu
của thị trường, đặc biệt là nhu cầu có khả năng thanh toán để có được kế hoạch sản
xuất và kinh doanh mang lai hiệu quả cao nhất.
9
Trong điều kiện hiện nay cầu có khả năng thanh toán ở Việt Nam còn thấp, nhất
là thị trường nông thôn Việt Nam. Nguyên nhân chủ yếu là nhu nhập còn thấp, do
việc làm còn thiếu. Thực tế đó đòi hỏi một mặt phải phát triển cầu có khả năng
thanh toán trên cơ sở phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ để tăng thu nhập ; mặt
Tuy nhiên để đơn giản ta chỉ xét 2 yếu tố đầu vào . L và K thì hàm sản xuất phổ
biến và hữu dụng có dạng :
Q= f ( L, K ) = aK βLα, trong đó a là một hằng số, α và β là những hằng số cho
biết tầm quan trọng tương đối của lao động và vốn trong quá trình sản xuất.
Để xây dựng mô hình sản xuất cần lưu ý tới các giả định sau :
+ Các yếu tố L và L là đồng nhất
+ Cả K và L đều có thể chia nhỏ vô cùng và là những biến độc lập.
+ Khi phân tích hành vi người sản xuất, người ta ngầm giả định rằng các hãng
hoạt động trong nền kinh tế thị trường có mục tiêu là lợi nhuận. Hàm sản xuất có
thể được biểu diễn bằng một phương trình, một bảng số liệu hoặc một mô hình nào
đó.
Mục đích của hàm sản xuất là xác định xem có thể sản xuất bao nhiêu sản phẩm
với lượng đầu vào khac nhau. Để làm rõ, ta sẽ xét các trường hợp sau : Sản xuất với
một đầu vào biến đổi và sản xuất với một đầu vào biến đổi và sản xuất với hai đầu
vào biến đổi.
1. Sản xuất với một đầu vào biến đổi :
Trường hợp này nghiên cứu sản xuất trong ngắn hạn, trong đó vốn là cố định,
còn lao động là biến đổi sao cho doanh nghiệp có thể sản xuất nhiều đầu ra hơn
bằng cách tăng số lao động đầu vào. Hàm sản xuất ngắn là hàm một biến có dạng :
Q= f ( K, L ).
Để miêu tả sự đóng góp của yếu tố đầu vào biến đổi là lao động vào quá trình
sản xuất, người ta sử dụng khái niệm năng suất cận biến và năng suất bình quân của
lao động.
- Năng suất bình quân hay sản phẩm bình quân (AP2) của lao động được định
nghĩa là sản lượng trên một đơn vị đầu vào lao động và được tính bằng công thức :
Năng suất bình quân (APl) = số lượng đầu ra/số lượng đầu vào lao động=Q/L
- Năng suất cận biên hay sản phẩm cận biên là mức sản lượng tăng thêm khi sử
dụng thêm một yếu tố đầu vào biến đổi, hoặc mức sảnh lượng giảm đi khi sử dụng
ít đi một đơn vị đầu vào biến đổi với điều kiện giữ nguyên mức sử dụng các đầu
1
10
10
10
10
2
10
30
15
20
3
10
60
20
30
7
10
112
16
4
8
10
112
14
0
9
10
108
12
-4
10
0
L
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
30
Pmax
20
Năng suất bình quân
tăng và âm khi số đầu ra giảm dần. Đường năng suất cận biên và năng suất bình
quân của lao động có liên quan chặt chẽ với nhau.Khi năng suất cận biên lớn hơn
năng suất bình quân thì năng suất bình quân tăng dân. Ngược lại,khi năng suất cận
biên nhỏ hơn năng suất bình quân thì năng suất bình quân giảm dần. Còn khi năng
suất bình quân bắng năng suất cận biên thì năng suất bình quân đạt tới điêm tối đa
(điểm M ).
13
Đối với hầu hết các quá trình sản xuất, sản phẩm cận biên của lao động giảm dần
ở một thời điểm nhất định.Quy luật năng suất cận biên giảm dần phát biểu rằng:
Năng suất cận biên của một đầu vàobiến đổi sẽ giảm dần khi sử dụng ngày càng
nhiều hơn đầu vào đó trong quá trình sản xuất. Thực tế đúng như vậy,nếu các yếu tố
đầu vào khác cố định mà số lao động sử dụng ngày càng tăng lên thì thời gian chờ
đợi sẽ nhiều hơn và do đó số sản phẩm cận biên của lao động sẽ giảm đi.
Quy luật năng suất cận biên giảm dần có ý nghĩa cả với lao độnh,cả đối với
vốn,nó tiều chế hành vi và quyết định của người sản xuất kinh doanh trong việc lựa
chọn các yếu tố đầu vào như thế nào để tăng năng suất,giảm chi phí và tối đa hóa lợi
nhuận.
2. Sản xuất với hai đầu vào biến đổi.
Trong dài hạn, hãng sản xuất với hai đầu vào biến đổi (vốn và lao động) sẽ liên
quan đến các đường đồng sản lượng. Vậy, đường đồng sản lượng hay đường đẳng
lượng là đường biểu thị tất cả những kết hợp các yếu tố đầu vào K và L khác nhau có
thể có để hãng sản xuất ra cùng 1 mức sản luợng đầu ra Q.
Đường đồng sản lượng cho thấy sự linh hoạt mà các doanh nghiệp có được khi
đưa ra các quyết định sản xuất. Trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp có thể đạt
được 1 đầu ra đặc biệt bằng cách sử dụng những cách kết hợp khác nhau của các đầu
vào.
Họ các đường đồng sản lượng là tập hợp những đường đồng sản lượng dốc xuống
về phía phải, mỗi đường biểu thị một mức sản lượng lớn nhất có thể đạt được từ 1
B
Q3
Q2
A
Q2
K1
Q1
Q1
0
L
0
L1
L
a) Trường hợp các đầu vào có thể hoàn toàn thay thế cho nhau. Ở đây MRTS
là không thay đổi ở mọi điểm trên một đường đồng lượng là đường thẳng, nghĩa là
cùng 1 đầu ra có thể chỉ được sản xuất bằng lao động hay chỉ bằng vốn hoặc bằng
sự kết hợp lao động và vốn.
b) Trường hợp các đầu vào thay thế bổ sung hoàn hảo: Mỗi mức đầu ra đòi
Một mối quan hệ nữa cần quan tâm là quan hệ giữa chi phí bình quân và chi
phí cận biên. Chừng nào chi phí cận biên thấp hơn ATC thì nó kéo ATC xuống.
Khi MC = ATC thì ATC không tăng không giảm và ở điểm tối thiểu (ATCmin).
Ngược lại chi phí cận biên cao hơn ATC thì tất yếu nó đẩy chi phí này lên.
Nếu thời gian ngắn đặc chưng bởi chi phí cố định thì trong thời gian dài tức
là khoảng thời gian dài đr để tất cả các đầu vào có thể thay đổi, không còn chi phí
cố định nữa.
Trong thời gian dài chúng ta có nhiều cơ hội để lựa chọn quy mô nhà máy và
số lượng thiết bị thích hợp. Vấn đề đặt ra là hãng phải lựa chọn những đầu vào như
thế nào để sản xuất một mức đầu ra nhất định với chi phí tối thiểu. Để thấy chi phí
của hãng phụ thuộc như thế nào vào mức sản lượng của nó trong dài hạn cần phải
xác định lượng đầu vào tối thiểu hóa chi phí của hãng tương ứng với mỗi mức sản
lượng và sau đó tính toán mức chi phí tạo thành.
Mặt khác doanh nghiệp quyết định sản xuất tối ưu khi được tối đa hóa lợi
nhuận vì lợi nhuận là động lực thúc đẩy của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Để nghiên cứu vấn đề tối đa hóa lợi nhuận, trước hết cần phải xem xét mối
quan hệ giữa chi phí cận biên và doanh thu cận biên.
- Chi phí cận biên (MC) là chi phí tăng thêm do sản xuất thêm 1 đơn vị.
Được tính bằng công thức:
MC = ∆TC/∆Q Hoặc MC = (TC)’Q
16
- Doanh thu cận biên (MR) là mức thay đổi tỏng doanh thu do tiêu thụ thêm
một đơn vị sản lượng. Được tính bằng công thức:
MR = ∆TR/∆Q Hoặc MR = (TR)’Q
Quy tắc chung của tối đa hóa lợi nhuận là: tăng sản lượng , chừng nào mà
doanh thu cận biên còn vượt quá chi phí cận biên (MR>MC) thì dừng lại. Đây
chính là mức sản lượng tối ưu dể tối đa hóa lợi nhuận.
Ta xét tối đa hóa lợi nhuận trong 3 trường hợp: Tối đa hóa lợi nhuận trong
B
C
D3=MR3
P3
D
D4= MR4
17
P4
T
Q4
Q3
Q3
Q1
Q
* Khả năng 1: Nếu giá trị trường chấp nhận là P1, đường cầu và doanh thu cận
biên D1 và MR1; doanh nghiệp có thể sản xuất là Q1 đơn vị hàng hóa, tương ứng
điểm A nơi gặp nhau của 2 đường MC = MR1.
Doanh nghiệp đạt lợi nhuận tối đa băng việc cân bằng doanh thu cận biên và chi
phí cận biên.
c)Trường hợp 3 : Tối đa hoá lợi nhuận trong điều kiện cạnh tranh và dộc
quyền .
-Hành vi và quyết định tối đa hoá lợi nhuận trong điều kiện cạnh tranh hoan hảo :
cac doanh nghiệp chỉ tăng cường nếu hoạt dộng nào có doanh thu tăng thêm vượt
mức chi phí tăng thêm , tức là MR>MC . Danh nghiệp sẽ ngừng hoạt động nếu
doang thu tăng thêm nhỏ hơn chi phí tăng thêm , tứ là MR
168
192
223
230
Lượng cầu
1000sp
128
104
80
56
32
8
6
4
Lượng cung
72 = a + 18b
a = 45
96 = a + 34b
b = 1.5
20
Vậy phương trình đường cong là: Ps = 45 + 1.5Qs
- Dựa vào bảng cầu ta có hệ phương trình:
72 = a + 128b
a = 200
96 = a + 104b
b = -1
Vậy phương trình đường cầu là: PD = 200 - QD
- Thị trường cân bằng khi thỏa mãn tại mức giá mà người mua đồng ý mua và người
bán đồng ý bán. Đường cầu và đường cung cắt nhau tại điểm cân bằng E. Tương ứng
ta có PE và QE. Từ đó ta có:
P S = PD = PE
QS = QD = QE
Vậy giá và lượng cầu cân bằng được xác định bằng hệ sau:
PE = 45 + 1.5QE
S
150
E
138
45
D
0
50
62
70
200
Q
(nghìn sp)
(*)Xét trường hợp : Chính phủ thực hiện chính sách kiểm soát giá với Ptrần = 90000
(đồng)
Nhìn vào hình vẽ ta thấy : Khi chính phủ thực hiện chính sách kiểm soát giá với
Ptrần = 90000(đồng) thì sẽ xảy ra hiẹn tượng thiếu hụt sản phẩm vì người mua có
nhu cầu mua nhiều , người sản xuất có xu hướng giảm. Số lượng thiếu hụt là :
110 – 30 = 80 (nghìn sp)
b,Thuế suất t = 3000 đồng / sp thì giá và sản lượng cân bằng mới của thị trường sẽ
thay đổi như thế nào ? Vẽ đồ thị minh họa tác động của thuế đối với từng thành
viên kinh tế như thế nào ?
(*)Nếu chính phủ đánh thuế 3000 đồng / 1 sp thì đường cung sẽ dịch chuyển lên
trên
Phương trình đường cung mới là: PS’ = 45 + 1,5QS + 3 = 48 +1,5QS’
Phương trình đường cầu không thay đổi : PD = 200 – QD
Vậy giá và lượng cân bằng mới sẽ được xác định bởi hệ sau
PE’ = 48 + 1,5QE’
PE’ = 139,2
PE’ = 200 – QE’
QE’ = 60,8
23
Khi chính phủ đánh thuế : - giá cân bằng mới : PE’ = 139200 (đồng)
- lượng cân bằng mới : QE’ = 60800 (sp)
(*)Tác động của thuế với từng thành viên kinh tế là : nhà nước sẽ thu được 3000
đồng mỗi sản phẩm từ việc đánh thuế doanh nghiệp, trong đó người mua chịu 1200
đồng, người sản xuất sẽ chịu 1800 đồng
(4)Hãy xác định mức sản lượng tối ưu mà doanh nghiệp cung cấp ra thị trường để
thu lợi nhuận cao nhất nếu Ptt = 100000 đồng ? Giá bán, sản lượng, DT, LN là bao
nhiêu/
(*)Điều kiện để đạt được mức sản lượng tối ưu mà doanh nghiệp cung cấp ra thị
trường để thu lợi nhuận cao nhất là : Ptt = MC
↔ Ptt =(TC)’Q
+ 30 = 40 + 30 = 70
Q
Q
Vậy doanh nghiệp sẽ hòa vốn khi : -Sản xuất 500(sp)
-Giá bán P = 70000(đồng)
(6)Xác định giá tại đó doanh nghiệp quyết định ngừng sản xuất trong ngắn hạn,
xuất ngành trong dài hạn
(*)Trường hợp 1 : Quyết định trong ngắn hạn : P ≤ ATCmin
Theo câu 5 ta có ATCmin = 70000(đồng)
Vậy doanh nghiệp sẽ ngừng sản xuất khi P ≤ 70000(đồng)
(*)Trường hợp 2 : Quyết định trong dài hạn : P ≤ LACmin
Ta có LAC = LTC / Q = (120Q + 4Q2) / Q = 120 + 4Q
AVCmin ↔ (120 + 4Q)nhỏ nhất
Mặt khác Q ≥ 0
25