Phân tích so sánh tư tưởng quản lý của A.Maslow và F.Herzberg? Phân tích ý nghĩa thực tiễn của những tư tưởng này trong điều kiện hiện nay. - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ

TIỂU LUẬN CUỐI KÌ
MÔN: LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG QUẢN LÝ
Đề tài: Phân tích so sánh tư tưởng quản lý của A.Maslow và
F.Herzberg? Phân tích ý nghĩa thực tiễn của những tư tưởng này
trong điều kiện hiện nay.

Giảng viên: PGS.TS Phạm Ngọc Thanh
Sinh viên:

Nguyễn Thị Thu Hà

Msv:

11030188

Lớp:

K56A Khoa học quản lý

Hà Nội, 5-2013

1


Đề tài 7: Phân tích so sánh tư tưởng quản lý của A.Maslow và
F.Herzberg? Phân tích ý nghĩa thực tiễn của những tư tưởng này
trong điều kiện hiện nay?

Do Thái, ông từng học ngành Luật tại City College of New York. Sau đó
ông chuyển đến Wisconsin và theo học tại University of Wisconsin về
tâm lý học.
Maslow đã gặp gỡ nhiều nhà tâm lý học hàng đầu Châu Âu trong đó có
Kurt Goldstein, người đã giới thiệu ông ta về ý tưởng của sự tự nhận thức
về nhu cầu.
Vào năm 1954, Abraham Maslow đã đưa ra đưa ra quan điểm về nhu cầu
của con người và nhu cầu này được sắp xếp theo các thứ bậc khác nhau.
Học thuyết của ông được dựa trên những con người khoẻ mạnh, sáng tạo,
những người sử dụng tất cả tài năng, tiềm năng và năng lực trong công
việc. Vào thời điểm đó, phương pháp này khác biệt với các công trình
nghiên cứu tâm lý con người khác được dựa trên việc quan sát con người
bị chi phối bởi các phiền muộn là chủ yếu.
Nội dung của thuyết phân cấp nhu cầu
Theo Maslow con người là động vật luôn ham muốn với những nhu cầu
trong cuộc sống. Hành vi của chúng ta phụ thuộc vào việc thỏa mãn hay
không thỏa mãn các nhu cầu bản thân. Những nhu cầu ấy được sắp xếp
3


theo thứ bậc với ý nghĩa quan trọng, khi một nhu cầu được thỏa mãn thì
nhu cầu khác xuất hiện và đòi hỏi được thỏa mãn. Maslow sắp xếp các
nhu cầu của con người trong một hệ thống có mức độ quan trọng khác
nhau theo thứ tự tăng dần bao gồm năm nhu cầu: Nhu cầu về sinh lý, nhu
cầu về an toàn, nhu cầu về xã hội, nhu cầu về sự tôn trọng và nhu cầu tự
thể hiện mình. Năm nhu cầu cơ bản của con người được chia làm hai
nhóm là nhu cầu bậc thấp( nhu cầu về sinh lý, an toàn, xã hội), nhu cầu
bậc cao( nhu cầu về sự tôn trọng, tự thể hiện mình). Nhu cầu bậc thấp
xuất hiện trước tiên và được thỏa mãn trước khi nhu cầu bậc cao xuất
hiện. Con người đều cố gắng để thỏa mãn nhu cầu của mình khi nhóm

người khác tôn trọng. Nhu cầu này dẫn đến sự thỏa mãn như quyền lực,
uy tín, quyền lực, địa vị, lòng tự tin. Có nhu cầu này là con người đã ý
thức được tầm quan trọng của mình đối với người khác và sự tôn trọng tự
phía người khác với mình.
e) Nhu cầu tự thể hiện mình: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất của
con người trong hệ thống phân cấp nhu cầu của ông. Nhu cầu tự khẳng
định mình phát triển và sử dụng năng lực, khả năng một cách đầy đủ nhất
và sáng tạo nhất-đó là khi tiềm lực của con người đạt mức tối đa và hoàn
thành được mục tiêu nào đó. ông cho rằng chỉ có thể thỏa mãn được nhu
cầu tự thể hiện mình sau khi được thỏa mãn tất cả những nhu cầu khác.
Nhận xét:
Như vậy, thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow là thuyết đạt tới đỉnh cao
trong việc nhận diện những nhu cầu tự nhiên của con người. Có lẽ vì vậy
mà thuyết phân cấp nhu cầu của ông được chấp nhận ngay từ khi nó mới

5


được ra đời. Hệ thống thứ bậc nhu cầu của ông dễ hiểu, đời thường và chỉ
ra được những yếu tố thôi thúc con người hòan thành mục tiêu.
Tuy nhiên, học thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow không phải là một
sự tuyệt đối hóa và toàn vẹn. Hạn chế của thuyết ở việc những nhu cầu
không tập hợp lại theo những cách đã được dự đoán. Không thể đoán
được khi nào những nhu cầu riêng biệt trở nên quan trọng. Cũng như việc
không có mối quan hệ nào rõ ràng giữa nhu cầu và hành vi của con
người. Nhu cầu chưa được mô tả chính xác vì những nhu cầu này có thể
thay đổi theo thời gian, theo tình huống khác nhau. Hệ thống thứ bậc này
có thể khác nhau giữa các cá nhân.
 Lý thuyết hai yếu tố của Herzberg:
Vài nét về tác giả và thuyết hai yếu tố.

- Các điều kiện làm việc không đáp ứng mong
đợi của nhân viên.
- Lương bổng và các khoản thù lao không phù
hợp hoặc chứa đựng nhiều nhân tố không công bằng.
- Quan hệ với người đồng cấp nảy sinh mâu
thuẫn.
- Quan hệ với các cấp (cấp trên, cấp dưới)
không đạt được sự hài lòng.
- Sự không đảm bảo về việc làm.

7


- Địa vị chưa tương xứng.
- Đời sống cá nhân còn khó khăn.
- Các điều kiện làm việc chưa được chú trọng.
Đối với các nhân tố động viên nếu được giải quyết tốt sẽ tạo ra sự thỏa
mãn từ đó động viên người lao động làm việc tích cực, chăm chỉ hơn.
Nhưng nếu không được giải quyết tốt thì tạo ra tình trạng không thỏa
mãn chứ chưa chắc gây bất mãn. Trong khi đó đối với các nhân tố duy trì
nếu giải quyết không tốt sẽ tạo ra sự bất mãn, nếu giải quyết tốt sẽ tạo ra
tình trạng không bất mãn chứ chưa chắc có tình trạng thoả mãn.
Nhận xét:
Học thuyết này chỉ ra rằng không phải nhu cầu nào cũng là động cơ thúc
đẩy, chỉ những nhu cầu được đáp ứng mà tạo sự thỏa mãn mới là động cơ
thúc đẩy mà thôi. Thuyết hai yếu tố giúp cho các nhà quản lý biết được
các yếu tố gây ra sự bất mãn cho nhân viên và từ đó tìm cách loại bỏ
những nhân tố này. Herzberg đã chỉ ra ảnh hưởng của yếu tố môi trường
đến cá nhân và nhóm. Từ thuyết hai yếu tố mà ông đã đề xuất biện pháp
thúc đẩy nhân viên là làm phong phú công việc- đây là đóng góp quan

Khác nhau:

9


Theo Herzberg không phải nhu cầu nào của con người cũng là động cơ
thúc đẩy mà chỉ có những nhu cầu khi đáp ứng tạo sự thỏa mãn. Những
yếu tố duy trì hay những nhu cầu bậc thấp của Maslow khi được đáp ứng
không tạo nên động cơ thúc đẩy mà chỉ tạo nên sự không bất mãn chứ
không phải sự hài lòng như quan điểm truyền thống. Như vậy Herzberg
đã bổ sung, phát triển mô hình của Maslow
Đối tượng áp dụng của thuyết phân cấp nhu cầu là với mọi người trong
xã hội trong mọi loại hình còn trong thuyết hai yếu tố hầu như chỉ áp
dụng đối với những người lao động chuyên nghiệp.
Maslow cho rằng mọi nhu cầu có thể thúc đẩy hành vi của con người
nhưng Herzberg cho rằng chỉ có một số nhu cầu nội tại mới là động cơ.
Các yếu tố về tài chính ( tiền) có thể thúc đẩy khuyến khích nhân viên ở
thuyết phân cấp nhu cầu . Ở thuyết hai yếu tố tiền cũng là nhân tố thúc
đẩy nhưng không phải là biện pháp chủ chốt mà còn có biện pháp làm
phong phú công việc.
Thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow đi vào việc mô tả những nhu cầu
của con người trong đời sống, thuyết hai yếu tố của Herzberg chỉ định
những nhu cầu nào mà người quản lý có thể thúc đẩy người lao động.
 Về tư tưởng quản lý của Maslow và Herzberg qua hai thuyết trên ta có
thể thấy tuy có những điểm khác biệt( do cách tiếp cận, yếu tố cá nhân,
góc độ xem xét,…) nhưng cả hai ông đều có đóng góp rất quan trọng cho
lý thuyết hành vi. Những tư tưởng quản lý của hai ông dễ hiểu, dễ áp
dụng và bổ sung cho nhau đã giúp nhà quản lý nhận diện được đâu là yếu
tố thúc đẩy, khuyến khích nhân viên làm việc để hoàn thành mục tiêu
10

Một mệnh đề quan trọng trong thuyết phân cấp nhu cầu của ông là khi
nhu cầu nào đó được thỏa mãn thì sẽ không còn là động cơ thúc đẩy nữa.
Đây là cơ sở cho việc đa dạng và linh hoạt hóa các hình thức động viên,
thúc đẩy nhân viên.
Tư tưởng quản lý của Herzberg qua thuyết hai yếu tố:
Herzberg đã tập trung vào những yếu tố lấy công việc làm trọng tâm mà
các nhà nghiên cứu hành vi ít quan tâm đến để làm cho công việc phong
phú hơn nhằm tăng sự hài lòng của nhân viên. Ông đã mở rộng ý tưởng
của Maslow để có thể vận dụng nhiều hơn vào hoàn cảnh làm việc.
Tư tưởng của Herzberg có ý nghĩa quan trọng khi cho rằng các nhà quản
lý nếu chỉ tập trung vào yếu tố duy trì thì động cơ sẽ không xuất hiện.
Tiền lương là một yết tố cần thiết, nhưng không phải là tất cả. Không hẳn
cứ phải tăng lương mới thúc đẩy người ta làm công việc tốt hơn mức cần
thiết. Trong khi theo quan điểm truyền thống chỉ cần đáp ứng vấn đề
động cơ bằng tiền và điều kiện làm việc thì ông đã cho thấy tầm quan
trọng của việc nỗ lực cơ cấu lại công việc để tăng sự hài lòng cho công
nhân.
III, KẾT LUẬN
Tóm lại tư tưởng quản lý của Maslow qua thuyết phân cấp nhu cầu và
Herzberg qua thuyết hai yếu tố cho chúng ta thấy tầm quan của sự hiểu
biết và lợi dụng các yếu tố thúc đẩy. Rõ ràng khả năng tốt nhất của nhà
12


quản lý là phải biết được cái gì làm cho mọi người tiến hành công việc,
cái gì sẽ thúc đẩy họ thì mới hoàn thành mục tiêu chung như mong muốn.
Những tư tưởng quản lý của Maslow và Herzberg đã và đang được vận
dụng có hiệu quả trong lĩnh vực quản lý và được tham khảo ở nhiều lĩnh
vực khác nhau. Maslow đã sắp xếp năm nhu cầu theo một hệ thống thứ
bậc dựa trên cơ sở mức độ quan trọng khác nhau. Herzberg thì trình bày



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status