So sánh địa vị pháp lý của các loại chủ nợ trong thủ tục phá sản
1 Tiểu luận
So sánh địa vị pháp lý (quyền và nghĩa vụ) của
chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và
chủ nợ không có bảo đảm trong từng giai đoạn của
thủ tục phá sản. Qua đó cho biết luật phá sản 2004
bảo vệ quyền lợi chủ thể nào triệt để hơn? Vì sao? So sánh địa vị pháp lý của các loại chủ nợ trong thủ tục phá sản
2
So sánh địa vị pháp lý (quyền và nghĩa vụ) của chủ nợ có bảo đảm, chủ
nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm trong từng giai đoạn
của thủ tục phá sản. Qua đó cho biết luật phá sản 2004 bảo vệ quyền lợi chủ
tác xã hoặc của người thứ ba mà giá trị tài sản bảo đảm ít hơn khoản nợ đó (khoản 2
điều 6 LPS 2004) và những chủ nợ chuyển hóa từ loại chủ nợ có bảo đảm thành chủ
nợ có bảo đảm một phần vì tài sản bảo đảm bị suy giảm giá trị ban đầu. Song song
bên cạnh đó, LPS 2004 cũng quy định rõ ràng những đối tượng thuộc vào nhóm chủ
nợ không có bảo đảm. Theo khoản 3 điều 6 LPS 2004 thì chủ nợ không có bảo đảm là
So sánh địa vị pháp lý của các loại chủ nợ trong thủ tục phá sản
3
những chủ nợ có khoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp
tác xã hay người thứ ba. Cũng như hai loại chủ nợ trên, LPS 2004 cũng quy định
những chủ nợ chuyển hóa từ chủ nợ có bảo đảm hay chủ nợ có bảo đảm một phần;
những người là một bên bị thiệt hại trong hợp đồng bị đình hoặc đối tượng của hợp
đồng là tài sản không còn (điều 47 LPS 2004); những người bị đình chỉ thi hành án
dân sự không kê biên tài sản (điều 57 LPS 2004); những người được thực hiện nghĩa
vụ tài sản trong vụ án bị đình chỉ (điều 58 LPS 2004); người bảo lãnh sau khi đã trả nợ
thay cho doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (khoản 3 điều 62 LPS
2004) đều được coi như chủ nợ không có bảo đảm. Đặc biệt, tại khoản 4 điều 14 quy
định: “Sau khi nộp đơn, đại diện cho người lao động hoặc đại diện công đoàn được
coi là chủ nợ” và khoản 2 điều 62 LPS “đại diện cho người lao động, đại diện công
đoàn có quyền, nghĩa vụ như chủ nợ” có thể khảng định, người lao động trong doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được xem như một chủ nợ không có bảo
đảm đặc biệt. Vì người lao động đã đem sức lực của mình làm hàng hóa để trao đổi
với doanh nghiệp và tiền lương chính là nguồn sống của bản thân họ và gia đình họ
mà không có một khoản bảo đảm nào. Khi doanh nghiệp hợp tác xã lâm vào tình trạng
phá sản thì họ là những người bị thiệt hại nhiều nhất, không có lương, nguy cơ thất
nghiệp đe dọa. . Như vậy, khái niệm về các loại chủ nợ không chỉ bó hẹp trong phạm
vi quy định tại điều 6 LPS 2004 mà nó còn bao gồm nhiều đối tượng được quy định
trong những điều luật khác. Từ việc phân loại các chủ nợ theo những nhóm khác nhau
và nghiên cứu xuyên suốt quá trình tiến hành thủ tục đối với doanh nghiệp, hợp tác xã
lâm vào tình trạng phá sản, ta có thể thấy những điểm giống và khác nhau giữa các
trong cả giai đoạn. Những chủ nợ không có bảo đảm hay có bảo đảm một phần đã nộp
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ có “nghĩa vụ
cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu do pháp luật quy định và theo yêu cầu của Toà
án trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản. Pháp luật phá sản 2004 đã loại bỏ những
quy định về nghĩa vụ của chủ nợ khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải cung
cấp các giấy tờ, tài liệu chứng minh doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến
hạn. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ nợ thực hiện quyền nộp đơn của
mình. Tuy nhiên nếu người họ nộp đơn “không khách quan gây ảnh hưởng xấu đến
danh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc có sự gian
dối trong việc yêu cầu mở thủ tục phá sản thì tuỳ theo tính chất, mức độ mà bị xử lý kỷ
luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì
phải bồi thường theo quy định của pháp luật” (điều 19 LPS 2004). Quy định này
nhằm mục đích đề cao trách nhiệm của người nộp đơn khi pháp luật đã ngày càng mở
rộng cho họ quyền được nộp đơn. Ngoài ra họ còn có nghĩa vụ “phải nộp tiền tạm
ứng phí phá sản theo quyết định của Toà án” (điều 21 LPS 2004) và họ có quyền
được khiếu nại việc trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản với Chánh án tòa án nơi họ
đã nộp đơn yêu cầu (điều 25 LPS 2004).
2. Giai đoạn từ khi thụ lý đến khi ra quyết định mở thủ tục phá sản:
Đây là giai đoạn đã có những điểm chung cho cả ba loại chủ nợ. Điểm giống
đầu tiên là “quyền yêu cầu Toà án ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng” đang
có hiệu lực và được thực hiện hoặc chưa được thực hiện ( điều 45 LPS 2004). Đây là
quyền xuyên suốt trong cả quá trình tiến hành thủ tục phá sản. Quyền lợi của các bên
được xử lý theo điều 47. Tuy nhiên, để có được quyền này, chủ nợ phải làm văn bản
yêu cầu Tòa án ra quyết định (khỏan 1 điều 46 LPS) kèm theo đó là các giấy tờ tài
liệu làm căn cứ cho việc khảng định đình chỉ hợp đồng là có lợi hơn về mặt tài chính
cho doanh nghiệp, hợp tác xã (theo quy định tại nghị quyết 03/2005/NQ-HĐTP). Các
chủ nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản còn có quyền đòi nợ
bất kỳ chủ thể nào trong nghĩa vụ liên đới và quyền được thực hiện nghĩa vụ trong
So sánh địa vị pháp lý của các loại chủ nợ trong thủ tục phá sản
5
xuất kinh doanh của doanh nghiệp hợp tác xã.
Người yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm có đơn yêu cầu, trong đó trình bày các lý
do của việc xin xử lý tài sản bảo đảm và xét thấy các lý do đó là chính đáng,
việc xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp đối với họ là cần thiết.
Việc tạm đình chỉ yêu cầu này của chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm
một phần nhằm mục đích đợi kết quả xem xét đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của tòa
án. Nếu tòa án không ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác
xã mà người nộp đơn không có khiếu nại hoặc có khiếu nại nhưng chánh án tòa án giữ
nguyên quyết định thì các yêu cầu trên sẽ được tiếp tục giải quyết. Ngược lại, nếu tòa
So sánh địa vị pháp lý của các loại chủ nợ trong thủ tục phá sản
6
án ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp hợp tác xã thì các yêu cầu
trên được giải quyết theo cách thức được quy định tại điều 35, 57, 58 luật phá sản.
Tuy nhiên, chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần không có quyền
yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu như chủ nợ không có bảo đảm (điều 44
LPS: “Trong quá trình Toà án tiến hành thủ tục phá sản, chủ nợ không có bảo đảm,
Tổ quản lý, thanh lý tài sản có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố các giao dịch của
doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này là vô hiệu”).
3. Giai đoạn từ khi ra quyết định đến khi mở thủ tục phá sản:
Pháp luật phá sản đã quy định cho các chủ nợ có nhiều điểm giống nhau về
quyền và nghĩa vụ hơn những giai đoạn trước. Cả ba loại chủ nợ đều có quyền được
thông báo về quyết định mở thủ tục phá sản ( điều 29). Đây là quyền được thông tin
nhằm giúp các chủ nợ có thể tham gia vào quá trình giải quyết phá sản để bảo vệ
quyền lợi của mình. Sau khi danh sách chủ nợ do tổ quản lý và thanh lý tài sản công
bố, nếu không đồng ý, chủ nợ có quyền khiếu nại với Tòa án về danh sách chủ nợ theo
quy định tại điều 52 LPS. LPS 2004 còn quy định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài
sản để quản lý có đại diện của chủ nợ (điều 9 LPS) Điều này cho thấy LPS luôn bảo
vệ quyền lợi của chủ nợ, tạo sự an tâm cho các chủ nợ khi tham gia vào quá trình giải
quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản, nhằm đảm bảo cho khối tài sản của con nợ được sử
thủ tục giải quyết phá sản là thủ tục tư pháp đặc biệt thể hiện ở việc đòi nợ tập thể và
thanh toán nợ tập thể. Nếu chủ nợ không gửi giấy đòi nợ trong thời hạn luật đã quy
định coi như từ bỏ quyền lợi chính đáng của mình. Căn cứ để Tòa án xác định rằng
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có mắc nợ chính là giấy đòi nợ và
những tài liệu chứng minh khoản nợ đó của các chủ nợ gửi tới Tòa án. Vì vậy, chủ nợ
phải nắm vững những quy định của pháp luật phá sản để tự bảo vệ mình trên cơ sở sự
bảo vệ của luật.
Ngoài những điểm giống nhau trong quyền và nghĩa vụ thì từ khi có quyết định
mở thủ tục phá sản đến khi tiến hành mở thủ tục phá sản, các chủ nợ cũng có những
điểm khác biệt trong địa vị pháp lý của mình. Điểm khác đầu tiên là chỉ có chủ nợ
không bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần đã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản đối với doanh nghiệp hợp tác xã mới có quyền được thông báo về quyết định
thành lập tổ quản lý thanh lý tài sản theo quy định tại điều 16 nghị định 67/2006/NĐ-
CP. Những chủ nợ không có bảo đảm hay có bảo đảm một phần không nộp đơn yêu
cầu và chủ nợ có bảo đảm không có quyền này. Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản
3 điều 67 LPS thì chỉ chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần đã
nộp đơn còn có khả năng làm phát sinh việc đình chỉ thủ tục phá sản khi họ rút lại đơn
yêu cầu. Tuy nhiên, tất cả họ rút đơn mới được phát việc đình chỉ thủ tục phá sản, còn
nếu chỉ một hay một số người rút đơn thì Tòa án vẫn tiến hành thủ tục phá sản. Điểm
khác thứ hai được suy luận từ điều 27 và điều 31 LPS. Theo quy định của hai điều luật
này thì các chủ nợ có quyền được thanh toán nợ không phải bằng cách xử lý tài sản
bảo đảm đối với chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ có bảo đảm. Điều này được
hiểu, ở giai đoạn này pháp luật không cấm chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm
một phần được thanh toán nợ có bảo đảm không bằng tài sản bảo đảm (tức là bằng
tiền hay bằng tài sản khác không dùng để bảo đảm cho nghĩa vụ đó). Đối với doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp chứng khoán, doanh nghiệp tài chính khác thì không
được thanh toán cho chủ nợ đồng thời là con nợ của doanh nghiệp đó theo quy định tại
điểm d khoản 3 điều 12 nghị định 114/2008/NĐ-CP. Điểm khác thứ ba trong giai đoạn
này về quyền và nghĩa vụ của các chủ nợ thể hiện trong việc tiến hành hội nghị chủ
nợ. Sự có mặt của chủ nợ không bảo đảm là một trong những điều kiện cho việc tiến
đầu người thì chỉ tính chủ nợ không có bảo đảm nhưng khi tính số tiền lại tính tổng cả
số tiền của chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không bảo đảm.
Thứ hai, chủ nợ không bảo đảm lại có quyền đại diện cho khoản nợ của chủ nợ
có bảo đảm một phần. Điều này phải chăng đã ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ nợ có
bảo đảm một phần khi họ không được tự mình đại diện cho phần nợ không bảo đảm
của họ?
Như vậy, trong hội nghị chủ nợ, mọi quyết định phụ thuộc hoàn toàn vào sự có
mặt của chủ nợ không bảo đảm, sự có mặt của chủ nợ có bảo đảm một phầ và chủ nợ
có bảo đảm không có ý nghĩa, có chăng thì sức ảnh hưởng của họ dường như khá mờ
nhạt.
Hội nghị chủ nợ là chế định cho doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng
phá sản cơ hội có thể được áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc bị áp
dụng thủ tục thanh lý. Ngoài ra, một điểm khác nho nhỏ nữa giữa chủ nợ có bảo đảm,
So sánh địa vị pháp lý của các loại chủ nợ trong thủ tục phá sản
9
chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm là sau khi tiến hành hội
nghị chủ nợ lần thứ nhất thì theo khoản 1 điều 61 LPS “Các Hội nghị chủ nợ tiếp theo
có thể được Thẩm phán triệu tập vào bất kỳ ngày làm việc nào trong quá trình tiến
hành thủ tục phá sản theo đề nghị của Tổ quản lý, thanh lý tài sản hoặc của các chủ
nợ đại diện cho ít nhất một phần ba tổng số nợ không có bảo đảm”. Như vậy, trừ chủ
nợ có bảo đảm, còn lại chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần đều
có quyền yêu cầu triệu tập hội nghị chủ nợ những lần tiếp theo khi họ có đủ đại diện
cho ít nhất 1/3 tổng số nợ không bảo đảm.
Nhìn một cách tổng quan, trong giai đoạn từ khi nộp đơn đến lúc mở thủ tục
phá sản về cơ bản có thể thấy, các chủ nợ đều có những quyền tương tự nhau, nhưng
nổi bật là các quyền của chủ nợ không có bảo đảm. Những quyền này có tính quyết
định và chi phối hầu hết tiến trình của thủ tục giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp
hợp tác xã. Luật đã có tính chất nghiêng về bảo vệ triệt để hơn quyền lợi của loại chủ
nợ này bằng cách quy định cho họ có những quyền tiên quyết cho những các vấn đề
quyết định về công nhận nghị quyết của hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi theo
điều 72 LPS và quyết định về công nhận sự thay đổi về phương án phục hồi theo điều
75 LPS. Đây là những quy định đảm bảo quyền thông tin của chủ nợ nhằm cho phép
chủ nợ nắm bắt được diễn biến của tiến trình tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh
nghiệp, hợp tác xã là con nợ của họ. Tồn tại song song bên những điểm giống là
những điểm khác về quyền và nghĩa vụ do đặc điểm của từng loại chủ nợ được pháp
luật quy định khá rõ ràng. Đầu tiên, theo quy định tại điều 68 LPS về điều kiện áp
dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh:“Thẩm phán ra quyết định áp dụng thủ
tục phục hồi hoạt động kinh doanh sau khi Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua
Nghị quyết đồng ý với các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh
toán nợ cho các chủ nợ và yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải xây dựng phương
án phục hồi hoạt động kinh doanh” thì chủ nợ không có bảo đảm có quyền làm phát
sinh thủ tục phục hồi đối với doanh nghiệp hợp tác xã thông qua hội nghị chủ nợ.
Quyền này không có ở chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần vì họ
không có quyền quyết định trong hội chủ nợ (theo cách quy định về phương thức
thông qua nghị quyết của hội nghị chủ nợ). Tương tự như vậy thì cũng chỉ có chủ nợ
không có bảo đảm mới có quyền thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
(điều 71 LPS “được thông qua khi có quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm có mặt
đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên biểu quyết tán
thành”), quyền chấp nhận thỏa thuận thay đổi phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh (điều 75 LPS: “quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ hai phần
ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên đồng ý”), quyền đình chỉ thủ tục phục hồi
(điều 76 LPS: “Được quá nửa số phiếu của các chủ nợ không có bảo đảm đại diện
cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên chưa thanh toán đồng ý đình
chỉ”).
Có thể nói, trong giai đoạn tiến hành thủ tục phục hồi thì chủ nợ không có bảo
đảm được pháp luật quy định cho những quyền khác biệt và dường như chiếm ưu thế
hơn so với những chủ nợ khác. Những quyết định của họ có khả năng chi phối đến cả
quá trình phục hồi, nắm vai trò then chốt trong việc có tiến hành phục hồi nữa hay
không. Vai trò tham gia của chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần chỉ
trạng phá sản. Theo quy định của luật phá sản 2004 thì chỉ có chủ nợ không có bảo
đảm mới có quyền làm phát sinh thủ tục thanh lý trong hai trường hợp cụ thể:
Trường hợp 1: “Không đủ số chủ nợ quy định tại khoản 1 Điều 65 của Luật này tham
gia Hội nghị chủ nợ sau khi Hội nghị chủ nợ đã được hoãn một lần nếu người nộp
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thuộc trường hợp quy định tại các điều 15, 16, 17 và
18 của Luật này”.
Trường hợp 2: “2. Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã”
Như vậy, cũng xuất phát từ quy định về sự có mặt của chủ nợ không bảo đảm
và nguyên tắc thông qua nghị quyết của hội nghị chủ nợ mà các chủ nợ không có bảo
đảm có khả năng chi phối việc có quyết định đưa đến thủ tục thanh lý đối với doan
nghiệp, hợp tác xã hay không.
Khi đưa đến thủ tục thanh lý thì một vấn đền quan trọng đặt ra là nguyên tắc
thanh toán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Có hai nguyên tắc được xây dựng
trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Nguyên tắc đầu tiên là
So sánh địa vị pháp lý của các loại chủ nợ trong thủ tục phá sản
12
nguyên tắc ưu tiên bằng tài sản bảo đảm. Ở đây, chỉ dành cho chủ nợ có bảo đảm và
chủ nợ có bảo đảm một phần đối với phần nợ có bảo đảm. Được quy định tại điều 35
LPS: “Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh
nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố
được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được ưu tiên
thanh toán bằng tài sản đó”. Theo nguyên tắc này, chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ có
bảo đảm một phần được ưu tiên thanh toán trước bằng tài sản bảo đảm mà chủ nợ
không có bảo đảm không được hưởng nguyên tắc này. Việc thanh toán các khoản nợ
có bảo đảm cho chủ nợ có bảo đảm và phần nợ có bảo đảm cho chủ nợ có bảo đảm
một phần được thanh toán tính theo thứ tự thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm.
Đồng thời, khi tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán cho những khoản nợ có bảo
đảm thì áp dụng tỉ lệ cho cùng thứ tự nhằm có thể bảo vệ được ít nhiều quyền lợi của
như những khoản nợ khác, pháp luật phá sản đã bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ
nợ có điều kiện pháp lý như nhau dù cho chủ nợ đó là Nhà nước hay chủ thể bình
thường. Việc ưu tiên thanh toán trước cho chủ nợ có bảo đảm là quy định hợp lý vì
khoản nợ của họ đã được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hay của
người thứ ba. Sự quy định này là hợp lý vì nó bảo vệ được quyền lợi của tất cả các
chủ nợ trên cơ sở những đặc điểm bản chất của từng loại chủ nợ cụ thể.
IV. Tuyên bố phá sản:
Tuyên bố phá sản là thủ tục thuộc giai đoạn cuối cùng của thủ tục phá sản
doanh nghiệp, hợp tác xã. Đây là thủ tục khép lai toàn bộ quá trình tiến hành thủ tục
phá sản, chính thức đưa doanh nghiệp, hợp tác xã rút khỏi thương trường. Ở giai đoạn
này, các chủ nợ dường như đều có địa vị pháp lý như nhau. Đó là quyền được thông
báo về quyết định tuyên bố phá sản theo điều 89 LPS và có quyền khiếu nại quyết
định tuyên bố phá sản theo điều 91 LPS. Khi tham gia vào thủ tục phá sản, mục đích
của các chủ nợ là muốn thu hồi các khoản nợ một cách tối đa nhất. Tuy nhiên, trong
quá trình tiến hành thu hồi tài sản mà tổ chức quản lý, thanh lý tài sản nếu có sai sót
và không minh mà Tòa án lại ra quyết định tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp,
hợp tác xã thì sẽ không đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ. Để đảm bảo lợi ích hợp
pháp của các chủ nợ, LPS cho phép chủ nợ được quyền khiếu nại quyết định của Tòa
án tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày cuối
cùng đăng báo quyết định tuyên bố phá sản để họ có thể bảo vệ tốt hơn quyền lợi mà
họ đáng được hưởng.
Một quy định nữa của LPS 2004 là cho phép các chủ nợ có quyền đòi chủ sở
hữu doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh thanh toán các
khoản nợ của doanh nghiệp chưa được thanh toán hết bằng tài sản của mình, bởi
những chủ thể này chịu trách nhiệm vô hạn trong hoạt động kinh doanh. Vấn đề này
được quy định tại Điều 90 LPS 2004: “Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã
bị phá sản quy định tại Điều 86 và Điều 87 của Luật này không miễn trừ nghĩa vụ về
tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh đối
với chủ nợ chưa được thanh toán nợ, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc
pháp luật có quy định khác.”. Với quy định này ta thấy quyền lợi của các chủ nợ đã
khả thi, hiệu quả và hợp pháp. Ở mỗi giai đoạn khác nhau của thủ tục phá sản doanh
nghiệp, hợp tác xã, luật đã có những chế định đề cao và chú trọng quyền và nghĩa vụ
của những chủ nợ khác nhau nhằm mục đích, tạo điều kiện để các chủ thể có thể chủ
động xúc tiến phương án hành động của mình sao cho khả năng thu hồi nợ cao nhất.
Có những giai đoạn vai trò của chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần
được luật quan tâm cao nhất, nhưng cũng có những giai đoạn chủ nợ không có bảo
đảm lại đóng vai trò quyết định. Tuy nhiên, suy đến cùng, pháp luật phá sản vẫn
hướng đến bảo vệ quyền lợi của chủ nợ có bảo đảm một cách triệt để, vì những lý do
sau đây:
Thứ nhất: khi đòi nợ, dù theo thủ tục phá sản hay không thì quyền lợi cơ bản
nhất mà các chủ nợ mong muốn đạt được là khả năng được thanh toán đủ và sớm.
Luật phá sản 2004 đã đưa ra nguyên tắc ưu tiên thanh toán cho chủ nợ có bảo đảm
trước bằng tài sản bảo đảm là đã cho họ có cơ hội thu hồi nợ sớm hơn hẳn những chủ
nợ khác. Đồng thời, quy định tại điều 35 về xử lý tài sản bảo đảm đó để thanh toán
khoản nợ mà nó bảo đảm thì trong trường hợp xấu nhất là tài sản không đủ thanh toán
hết khoản nợ đó thì phần còn lại cũng được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản
của doanh nghiệp. Như vậy, họ vẫn có khả năng thu hồi được khoản nợ với tỷ lệ cao
nhất so với các chủ nợ không có bảo đảm hay bảo đảm một phần.
So sánh địa vị pháp lý của các loại chủ nợ trong thủ tục phá sản
15
Thứ hai: quyền lợi về mặt chi phối đối với các quyết định trong từng bước tiến
hành thủ tục phá sản của chủ nợ không có bảo đảm không trực tiếp tác động đến khả
năng nhận thanh toán của chính họ. Dẫu rằng quyền này cho họ cơ hội, bằng sức lực
và tài năng của mình, có thể đưa lại cho doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng
phá sản đến một hoàn cảnh tốt hơn để họ có khả năng thu hồi khoản nợ được nhiều
hơn. Song, việc họ có nhận được khoản thanh toán hay không còn phải gián tiếp thông
qua kiểm soát tài sản còn lại của doanh nghiệp, việc phục hồi để đảm bảo khả năng
thanh toán của con nợ nói chung.
Thứ ba, trong quá trình thanh toán tài sản cho các khoản nợ không có bảo đảm