LUẬN VĂN:
Địa vị pháp lý của công ty cổ phần
trong nền kinh tế nhiều thành phần ở
nước ta
Lời nói đầu
Từ sau Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 - 1986) và lần thứ VII
(tháng 6 - 1991), công cuộc đổi mới nền kinh tế nước ta đã và đang chuyển dịch
sang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật.
Sắp xếp và tổ chức lại khu vực kinh tế quốc doanh, thực hiện chính sách kinh tế
nhiều thành phần nhằm khai thác mọi tiềm năng sản xuất xã hội, nâng cao hiệu quả
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Phát triển gắn liền với mô hình kinh tế thị trường này, các hình thức doanh
nghiệp và công ty có những sự thay đổi lớn tác động đến những sự hình thành loại
trách nhiệm về các khoản nợ của Công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào
Công ty.
2. Lý do hình thànhCông ty cổ phần trong nền kinh tế.
a, Do tác động của quy luật giá trị.
Quá trình xã hội hoá tư bản tăng cường tích tụ và tập trungtư bản ngày càng
cao dẫn đến cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà tư bản buộc họ phải tìm phương thức
sản xuất sao cho giá trị hàng hoá cá biệt của mình thấp hơn hoặc bằng mức giá trị
hàng hoá xã hội. Đây chính là nguyên nhân hàng đầu thúc đẩy công ty cổ phần ra
đời.
b. Do sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Do sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi vốn cố định ngày càng tăng,
từng nhà kinh doanh không thể đáp ứng được yêu cầu trên phải có sự liên minh hùn
vốn để cùng nhau kinh doanh. Hơn nữa, do sự ra đời và phát triển của nền đại công
nghiệp cơ khí của tiến bộ kỹ thuật cùng với sự đa dạng hoá của các ngành nghề kinh
doanh để tìm kiếm được nhiều lợi nhuận các nhà kinh doanh phải có được một
lượng vốn lớn phân bổ kịp thời để sản xuất tạo ra một sản phẩm mới cập nhật, phù
hợp với thị trường đã thúc đẩy huy động nguồn vốn từ công ty khác, các tổ chức
kinh tế và trong dân cư. Từ đây hình thành nên công ty cổ phần
c. Sự phát triển của phương thức sản xuất Sản xuất phát triển với trình độ kỹ thuật ngày càng cao dẫn đến cạnh tranh
khốc liệt tạo ra rủi ro lớn trong kinh doanh. Để giảm bớt rủi ro công ty phải phân
tán tư bản bằng cách phân chia cổ phần, phát hành cổ phiếu để huy động tập trung
trí lực của các thành viên cùng tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh.
d. Sự phát triển rộng rãi của chế độ tín dụng tạo động lực thúc đẩy công ty cổ
phần ra đời và phát triển.
Trong nền kinh tế thị trường tín dụng có vai trò to lớn trong quá trình cạnh
tranh, làm giảm đi chi phí lưu thông và đẩy nhanh quá trình tái sản xuất. Tín dụng
có vai trò động lực thúc đẩy việc hình thành và phát triển các công ty cổ phần vì:
doanh với nước ngoài và các công ty cổ phần tư nhân khác:
Tóm lại, sự hình thành công ty cổ phần là kết quả tất yếu của quá trình tập
trung tư bản. Nó diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp và
sự tự do cạnh tranh.
II. Thành lập mới một công ty cổ phần
1. Trước khi thành lập
Một công ty cổ phần trước khi thành lập phải dự định hội đủ những điều kiện
cần thiết: số người thành lập công ty cổ phần (tối thiểu phải có 7 người theo luật
công ty Việt nam, dự thảo điều lệ công ty, đàm phán thoả hiệp về hình thức vốn của
công ty
a. Sáng lập viên
- Sáng lập viên là những người có sáng kiến muốn lập công ty đứng ra kết nạp
hội viên, kêu gọi góp vốn thu thập tiền vốn và làm những thủ tục pháp lý cần thiết
để cho công ty được thành lập.
1
Trích trang 10 trong cuốn "Thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty
cổ phần" của Đoàn Văn Trường - Theo khoản 1 Điều 32 Luật công ty của Việt nam. Số thành viên phải có ít
nhất là 7 người. Các sáng lập viên phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% số cổ
phiếu dự tính phát hành của công ty. Trong trường hợp các sáng lập viên không
đăng ký mua tất cả cổ phiếu của công ty, thì họ phải công khai gọi vốn từ những
người khác.
- Các sáng lập viên phải có nghĩa vụ đối với công ty khi không được thành lập.
Họ phải chịu trách nhiệm đối với những người tham gia mua cổ phần khi mời các
người này tham dự và chịu trách nhiệm về sáng kiến hoạt động của họ.
b. Công bố và quảng cáo.
Đăng báo về những vấn đề cơ bản của công ty như: Tên công ty, trụ sở của
Họ, tên, tuổi địa chỉ thường trú và nghề nghiệp của người đăng ký mua cổ
phiếu và số cổ phiếu đăng ký mua: Số cổ phiếu đóng bằng tiền mặt, bằng hiện vật
hoặc bản quyền sở hữu công nghiệp và cam kết đóng hết số còn lại theo quyết định
gọi vốn của Hội đồng quản trị.
+ Về mặt nội dung: Sự đăng ký phải dứt khoát, vững chắc, không kèm theo
điều kiện, phải thành thật, không giả định.
- Công ty cổ phần tối thiểu phải có 7 hội viên (Điều 30 luật công ty) số lượng
hội viên tối thiểu tuỳ theo quy định của mỗi nước, chẳng hạn như: ở Đức có 5 hội
viên, ở Nhật bản có 7 hội viên
2
- Số tiền tối thiểu phải đóng góp:
+ Phần đóng góp bằng hiện vật, bản quyền sở hữu công nghiệp phải được hội
đồng thành lập xem xét, chấp thuận,định giá và phải nộp đủ ngay khi công ty chính
thức thành lập.
2
"Công ty cổ phần ở một số nước" Tạp chí NCKT số 3/93 + Phần góp vốn bằng tiền mặt (đồng VN, ngoại tệ hoặc vàng, ít nhất 1/2 trị
giá cổ phiếu mà họ đã đăng ký mua và cam kết đóng đủ bằng tiền mặt (khoản 6 điều
32 Luật công ty).
- Sáng lập viên phải kê khai việc đăng ký mua và việc đóng tiền. Luật công ty
Việt Nam quy định các sáng lập viên phải lập tờ khai số vốn đã được đăng ký mua
và số vốn đã được đóng tiền theo luật định. Phải kèm theo bản danh sách các người
đăng ký mua với số tiền mỗi người đã đóng kèm theo bản điều lệ.
2. Những thủ tục chính thi thành lập và đăng ký kinh doanh đối với
những công ty cổ phần theo luật công ty của Việt Nam.
a. Hồ sơ xin thành lập công ty cổ phần.
+ Mệnh giá cổ phiếu và số cổ phiếu phát hành;
+ Thể hiện hoạt động và thông qua quyết định của Đại hội đồng;
+ Cơ cấu quản lý kiểm soát công ty;
+ Các loại quỹ mức giới hạn các loại quỹ được lập tại công ty;
+ Thể lệ quyết toán và phân chia lợi nhuận;
+ Các trường hợp sáp nhập, chuyển đổi hình thức, giải thể công ty và thể thức
thanh lý tài sản công ty.
Dự thảo điều lệ công ty nó thể hiện phần lớn nội dung mà các cổđông nhất trí,
nó có thể được sửa đổi trở thành điều lệ chính thức khi công ty cấp giấy phép kinh
doanh và đi vào hoạt động.
b, Điều kiện để được cấp giấy phép thành lập công ty cổ phần.
- Đối với công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu, pháp luật nước ta quy định
phải có từ 7 thành viên trở lên mới được phép thành lập công ty cổ phần. Theo điều
6, điều 7, luật công ty nước ta, nghiêm cấm cơ quan Nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản Nhà nước và công quỹ để góp vốn vào
công ty hoặc tham gia thành lập công ty nhằm thu lợi riêng cho cơ quan đơn vị
mình. Đồng thời không cho phép viên chức tại chức trong bộ máy Nhà nước, sĩ
quan tại ngũ trong lực lượng vũ trang nhân dân những người mất trí, người đang bị
truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án tù mà chưa được xoá án thì
không được phép tham gia thành lập hoặc quản lý công ty.
- Ngành, nghề xin đăng ký kinh doanh không thuộc diện Nhà nước cấm kinh
doanh.
- Mục tiêu, ngành nghề kinh doanh rõ ràng, có phương án kinh doanh ban đầu,
có trụ sở giao dịch. (Khoản 1 Điều 15 luật công ty)
- Có vốn điều lệ phù hợp với quy mô và ngành nghề kinh doanh. Vốn điều lệ
không được thấy hơn vốn pháp định do Chính phủ quy định (Điều 15 luật công ty).
- Người quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh phải có trình độ chuyên môn
tương ứng mà pháp luật đòi hỏi đối với một số ngành nghề.
doanh của công ty cổ phần phải được tiến hành trong thời hạn 1 năm, kể từ ngày
được cấp giấy thành lập.
Quá thời hạn nói trên, công ty chưa đăng ký kinh doanh nếu muốn tiếp tục
thành lập công ty các sáng lập viên phải làm thủ tục xin phép thành lập. Trong
trường hợp có lý do chính đáng, uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập không
quá 90 ngày.
- Việc tiến hành đăng ký kinh doanh qua xác nhận của các ngành các cấp được
quy định trong Điều 18 Luật công ty:
Khi đăng ký kinh doanh công ty được ghi tên vào sổ đăng ký kinh doanh và
được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Kể từ thời điểm đó công ty có tư
cách pháp nhân và được tiến hành hoạt động kinh doanh. Trong thời gian 7 ngày kể
từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, uỷ ban kế hoạch phải giữ
bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh kèm theo hồ sơ của công ty cho cơ quan thuế, tài chính, thống kê và các cơ quan quản lý ngành kinh tế, kỹ thuật cùng
cấp.
- Việc thông báo công khai thành lập công ty được qui định trong điều 19 Luật
công ty.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh, công ty phải đăng báo địa phương và báo hàng ngày của trung ương trong 5
số liên tiếp các điểm chủ yếu sau:
+ Tên, loại hình công ty, trụ sở và mục tiêu ngành, nghề kinh doanh;
+ Họ, tên, địa chỉ thường trú của các sáng lập viên;
+ Vốn điều lệ;
+ Ngày được cấp giấy phép thành lập, ngày được cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh;
+ Thời điểm bắt đầu hoạt động.
- Trong trường hợp cần đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ngoài Tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương, nơi đặt trụ
những cổ phần bảo đảm của quản trị viên tuyệt đối không được chuyển nhượng.
- Quyền được thông báo về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty, có
quyền kiểm tra sổ sách kế toán, chứng từ và các hoạt động khác trong kinh doanh
khi có lý do chính đáng.
- Cổ đông không được rút cổ phần hay vốn của mình ra khỏi công ty khi công
ty chưa có chủ trương giảm bớt vốn hoặc quyết định giải thể hay nhượng bán.
- Nhóm cổ động đại diện cho ít nhất 1/4 số vốn điều lệ có quyền yêu cầu triệu
tập Đại hội đồng để xem xét và giải quyết những việc mà hội đồng quản trị và giám
đốc bỏ qua. Trong trường hợp này, hội đồng quản trị hoặc giám đốc phải triệu tập
Đại hội đồng trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhóm thành viên yêu cầu (Theo
khoản 4 Điều 8 luật công ty VN). c, Nghĩa vụ của các cổ đông.
- Cổ đông phải chấp hành đầy đủ những quy định được ghi trong điều lệ của
công ty và những quy định pháp luật có liên quan.
- Cổ đông phải chấp hành vô điều kiện các quyết định của Đại hội đồng cổ
đông.
- Cổ đông phải góp vốn đầy đủ và đúng thời hạn như đã thoả thuận và ghi
trong điều lệ của công ty.
- Cùng chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của công ty và những sự may
rủi xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh.
2. Cổ phần và cổ phiếu.
a. Khái niệm cổ phần, cổ phiếu.
* Cổ phần là tượng trưng cho quyền sở hữu, nghĩa là người gửi cổ phần là chủ
sở hữu một phần tài sản của công ty, có quyền nhường một phần lợi nhuận sau khi
nộp thuế và trừ đi các khoản chi phí sản xuất kinh doanh.
- Cổ phần có một lĩnh giá, nhưng không phải bao giờ cổ phầncũng vẫn giữ
được lĩnh giá ấy khi bán lại. Giá trị của cổ phần lên xuống tuỳ theo tình trạng làm
ăn phát đạt của công ty và theo tình trạng kinh tế trong nước và quốc tế.
Ngoài cổ phần bằng tiền mặt và cổ phần bằng hiện vật đóng góp vào công ty
còn có một số loại khác:
- Cổ phần hưởng thụ: là cổ phần cho quyền hưởng thụ một phần lãi của công
ty, tuy là vốn đã được hoàn trả rồi.
- Cổ phần ưu tiên: là cổ phần được hưởng mức lãi nhiều hơn các cổ phần khác,
hoặc được trả lãi hay được hoàn vốn trước các cổ phần khác. Người có cổ phần ưu
tiên được hưởng những quyền lợi mà các cổ đông khác không có.
3. Trái phiếu a. Khái niệm trái phiếu
- Trái phiếu là một chứng khoán mà công ty phát hành để vay vốn. Mỗi một
chứng khoán đại diện cho một khoản nợ của công ty đối với người chủ sở hữu của
tờ phiếu.
- Trái phiếu đôi khi còn được gọi là trái khoán. Thực chất đây là phiếu ghi
nhận vay nợ, trong đó nói rõ số tiền vay, mức lãi (ổn định) thời hạn trả vốn và trả
lãi.
b. Điều kiện phát hành trái phiếu.
Việc phát hành trái phiếu trước hết phải được đại hội đồng cổ đông quyết
định về số tiền vay bằng trái phiếu, giá trị mỗi trái phiếu, lãi suất của trái phiếu, thời
hạn vay và thời hạn thanh toán (hoàn trả) trái phiếu. Ngoài ra, việc phát hành trái
phiếu phải được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cho phép theo điều 36 Luật
công ty Việt Nam quy định điều kiện để phát hành trái phiếu của công ty là:
+ Có phương án kinh doanh cụ thể đòi hỏi vốn lớn;
+ Đã hoạt động ít nhất là 2 năm và chứng minh được hoạt động kinh doanh
của công ty đang được quản lý tốt có hiệu quả;
+ Được Ngân hàng nơi công ty mở tài khoản chứng nhận số tiền còn lại ở
Ngân hàng và được cơ quan công chứng chứng nhận trị giá số tài sản bằng hiện vật
của công ty đủ đảm bảo cho tổng số vốn dự định vay còn có thể được một hoặc
nhiều ngân hàng bảo lãnh;
nhưng đặc điểm là người cho vay ở vào thế bất lợi, không ấn định được điều kiện
với công ty, mà phải chấp nhận các điều kiện do công ty đơn phương định trước.
Công ty là người đi vay nhưng thực ra lại ở vào thế mạnh. Do đó cần phải:
+ Bảo đảm do công ty ưng thuận:
Công ty có thể được nhà nước đứng ra đảm bảo cho mình những trái phiếu
phát hành. Công ty có thể dùng những chứng khoán của mình để đảm bảo cho trái
phiếu, nghĩa là lấy nợ đảm bảo cho nợ, thí dụ bảo đảm bằng công trái quốc gia
Công ty cũng có thể bảo đảm bằng cách cam kết rằng trong tương lai sẽ
không phát hành trái phiếu với lãi suất cao hơn.
Công ty cũng có thể trực tiếp bảo đảm những trái phiếu của mình phát hành
bằng cách thông thường là lấy bất động sản của mình, nhà cửa, tàu biển làm đảm
bảo.
+ Bảo đảm do luật pháp.
Những bảo đảm trên chỉ nhằm vào việc kiện tụng về quyền lợi của các trái
chủ trong cùng một kỳ phát hành. Nếu bản án xét xử là một chủ nợ thắng kiện có
liên quan đến quyền lợi chung của tất cả, thì sẽ có hiệu lực chấp hành đối với những
chủ nợ khác dù rằng những người này không có tham dự trong bản án ấy. Như vậy,
chỉ cần một chủ nợ được xử thắng kiện, một quyền lợi có tính đại diện cho quyền
lợi chung, thì các chủ nợ khác cũng có thể buộc công ty phải thi hành đối với mình.
5. Bản chất pháp lý của trái phiếu và cổ phiếu.
Về mặt lý thuyết trái phiếu và cổ phần có nhiều chỗ giống nhau. Hai thứ cùng
có giá trị bằng những chứng khoán có ghi tên hoặc không ghi tên. Hai thứ cùng
không thể chia ra cho vốn nhỏ hơn được. Hai thứ cùng có tính cách động sản.
Nhưng giữa hai thứ có nhiều điểm khác nhau:
Về bản chất người có cổ phần là hội viên của công ty, người có trái phiếu là
chủ nợ của công ty, khi nợ đã được thanh toán cả vốn và lãi thì quan hệ giữa hai bên
chấm dứt. Ngoài ra còn có các khác biệt.
2. Đại hội đồng cổ đông.
Đại hội đồng cổ đông là đại hội của những người đồng sở hữu đối với công ty
cổ phần. Đó là cơ quan cao nhất quyết định mọi vấn đề có liên quan đến sự tồn tại
và hoạt động của công ty.
Đại hội đồng cổ đông có 3 hình thức:
- Đại hội đồng thành lập: được triệu tập để tiến hành các thủ tục thành lập,
thảo luận và thông qua điều lệ công ty.
Đại hội
đồng cổ
đông
Chủ tịch
HĐQT;
Ban ki
ểm soát
Tổng giám đốc hoặc
giám đốc điều hành
Phó GĐ hoặc GĐ
chuyên môn
Phó GĐ hoặc GĐ
- Đại hội đồng thường niên: được triệu tập vào cuối năm tài chính hoặc bất kỳ
lúc nào mà hội đồng quản trị kiểm soát viên thấy cần thiết để giải quyết các công
việc thuộc hoạt động kinh doanh của công ty trong khuôn khổ điều lệ.
a. Đại hội đồng thành lập
Đại hội đồng thành lập được triệu tập để tiến hành các thủ tục thành lập, thảo
luận và thông qua điều lệ công ty, kiểm soát công việc của các sáng lập viên, xác
định giá trị các phần góp vốn bằng hiện vật, quyết định về việc cấp các đặc lợi và cử
ra các quản trị viên đầu tiên và các uỷ viên kiểm soát của công ty.
Luật công ty của nước ta quy định muốn có giá trị, phiên họp của đại hội đồng
thành lập phải có nhóm cổ đông đại diện cho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty
và biểu quyết theo đa số phiếu quá bán của các hội viên có mặt (khoản 1 Điều 37
luật công ty).
b. Đại hội đồng bất thường:
Đại hội đồng bất thường là đại hội đồng, được triệu tập với mục đích sửa đổi
điều lệ của công ty. Việc này có tính chất quan trọng đặc biệt, vì thế có những thể lệ
đặc biệt.
- Tất cả cổ đông đều tham dự: Điều lệ công ty không được hạn chế quyền dự
đại hội đồng và bỏ phiếu của cổ đông bằng cách bắt buộc cổ đông phải có cổ phần
tối thiểu.
- Triệu tập đại hội đồng: Chỉ có hội đồng quản trị có quyền triệu tập đại hội
đồng bất thường và đưa ra đại hội đồng những đề nghị sửa đổi điều lệ.
- Định mức số và đa số:
+ Đại hội đồng bất thường chỉ có thể thảo luận hợp lệ nếu có đủ một số cổ
đông tiêu biểu cho ít ra 3/4 số vốn điều lệ của công ty.
+ Các quyết nghị của đại hội đồng phải được đa số 2/3 số phiếu của các cổ
đông có mặt (hay được đại diện) chấp thuận mới có giá trị. + Riêng các vấn đề sau đây phải được toàn bộ đại hội đồng tán thành.
Thay đổi quốc tịch;
phần hiện vật, cổ phần thường hay cổ phần ưu đãi. Tuy nhiên, để tránh cho đại hội
đồng quá đông, gây khó khăn cho việc thảo luận và biểu quyết, nên điều lệ phải quy
định có một số cổ phần tối thiểu mới được dự đại hội đồng. Những cổ đông không
có đủ phần tối thiểu, có thể họp nhau lại cho đủ số, rồi cử một người đại diện cho cả
nhóm đi dự đại hội đồng. Số cổ phần tối thiểu do điều lệ quy định phải lớn hơn
1/10.000 số vốn công ty.
- Triệu tập đại hội đồng: + Đại hội đồng do các quản trị viên triệu tập, nếu vì
lý do gì đấy các người này không hành động được thì các uỷ viên kiểm soát có
quyền triệu tập.
+ Các cổ đông có cổ phần có ghi tên phải được mời bằng thư đảm bảo có biên
nhận. Các cổ đông có cổ phần không ghi tên phải được thông báo trên báo, lần sau
cách lần trước ít nhất 8 ngày, và trước ngày họp ít nhất là15 ngày.
- Định mức số và đa số:
+ Đại hội đồng chỉ có thể tiến hành nếu thành phần tham dự đại diện cho 2/3
số vốn điều lệ của công ty
+ Nếu định mức số này không đủ, đại hội đồng phải giải tán để triệu tập lại lần
thứ 2, và lần này, đại hội đồng có thể thảo luận, biểu quyết hợp lệ, bất kể số vốn tiêu
biểu cho số hội viên có mặt là bao nhiêu.
+ Quyết định của đại hội đồng được lấy theo đa số, không phải đa số đầu
người, mà là đa số cổ phần của các cổ đông biểu quyết.
3. Cơ quan quản lý
a. Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị là bộ máy quản lý của công ty cổ phần. Hội đồng quản trị
bao gồm những thành viên có trình độ chuyên môn cao và quản lý giỏi để có khả
năng hoàn thành tốt các nhiệm vụ do đại hội đồng cổ đông giao phó.
- Nhiệm kỳ của hội đồng quản trị và số thành viên do đại hội đồng cổ đông
quyết định và ghi vào điều lệ của công ty. Theo luật công ty của nước ta quy định
"Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý của công ty, gồm có từ 3 đến 12 thành viên".
- Trách nhiệm của chủ tịch hội đồng quản trị
+ Là người chịu trách nhiệm chấp hành các nghĩa vụ của công ty đối với nhà
nước.
+ Là người chịu trách nhiệm chính trước công ty.
+ Chủ tịch hội đồng quản trị có trách nhiệm chuẩn bị các chương trình nghị
sự, xây dựng và thảo luận nội dung các văn bản, nghị quyết của đại hội đồng cổ
đông và của hội đồng quản trị
+ Chủ tịch hội đồng quản trị là người chịu trách nhiệm cuối cùng về các quyết
định của hội đồng quản trị.
c. Quản trị viên
- Sự bổ nhiệm quản trị viên:
+ Quản trị viên đầu tiên do đại hội đồng thành lập bầu ra. Sự chấp thuận này
được ghi vào biên bản và công bố trước đại hội đồng.
+ Quản trị viên cũng có thể được chỉ định ngay trong điều lệ, đại hội đồng
thành lập chấp thuận điều lệ, tức là chấp thuận luôn cả sự chỉ định ấy.
- Điều kiện bổ nhiệm và không được phép bổ nhiệm làm quản trị viên.