Địa vị pháp lý của Doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT HOÀNG YẾN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội - 20133

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trinh
nào khác. Các số liệu ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính
xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã
thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo qui định của khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN


TNHH
TT
LDN
VAT
VCCI


Chủ nghĩa xã hội
Doanh nghiệp tư nhân
Tổng thu nhập kinh tế quốc dân
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nghị định – Chính phủ
Trách nhiệm hữu hạn
Thông tư
Luật Doanh Nghiệp
Thuế Giá trị gia tăng
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

5
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH

TRÒ THỰC TẾ CỦA DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN 85
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao địa vị pháp lý của
Doanh nghiệp tƣ nhân 85
3.1.1. Bổ sung quy định của pháp luật về việc xác định sản nghiệp kinh
doanh của Doanh nghiệp tư nhân 86
3.1.2. Xác định rõ hơn các thức giải quyết đối với trách nhiệm thực hiện
các nghĩa vụ của doanh nghiệp trong trường hợp chủ Doanh nghiệp tư
nhân chết. 86
3.1.3. Làm rõ mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp với người quản lý,
điều hành Doanh nghiệp tư nhân 86
3.1.4. Bổ sung các quy định pháp luật làm rõ bản chất pháp lý của chủ
Doanh nghiệp tư nhân và Doanh nghiệp tư nhân. 87
3.1.5. Làm rõ các quyền và nghĩa vụ của của Doanh nghiệp tư nhân với
người lao động trong các vấn đề lao động, chính sách thu nhập và bảo
hiểm xã hội. 87
3.2. Một số giải pháp cụ thể khuyến khích, trợ giúp các doanh nghiệp tƣ
nhân 88
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống các chính sách khuyến khích trợ giúp đối với
Doanh nghiệp tư nhân 88
3.2.2. Đổi mới quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân. 89
3.2.3. Giải pháp về vốn – tài chính 91
3.2.4. Giải pháp về chính sách thị trường tiếp cận thị trường 93
3.2.5. Giải pháp về thuế 93
3.2.6. Giải pháp về chính sách về lao động 95
3.2.7. Giải pháp hỗ trợ xuất khẩu đối với các Doanh nghiệp tư nhân 96
3.2.8. Nâng cao vai trò của Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ 97
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

2
DNTN trong nền kinh tế. Thực tiễn từ năm 2005 cho đến nay, trên cơ sở sự
hình thành khung pháp lý nhằm công nhận và bảo đảm sự tồn tại của các loại
hình doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân, DNTN đã và đang khẳng
định vị trí của mình trong nền kinh tế. Cho nên nghiên cứu và làm rõ địa vị pháp
lý của DNTN sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát hơn về địa vị và vai trò thực tế của
loại hình doanh nghiệp này. Việc nghiên cứu địa vị pháp lý của DNTN cũng
được đặt trong bối cảnh chung của một nền kinh tế đang đạt mức tăng trưởng
nhanh chóng, trong đó có sự đóng góp đáng kể của khu vực kinh tế tư nhân
với nhiều thành tựu đáng khích lệ.
Khu vực kinh tế tư nhân tăng trưởng liên tục trong những năm gần đây.
Năm 2007 khu vực kinh tế tư nhân đạt 233.992 tỷ đồng; Cơ cấu thành phần
kinh tế cũng có những thay đổi cơ bản, năm 1995 cơ cấu GDP theo thành
phần sở hữu: Khu vực kinh tế Nhà nước chiếm 40.1%; khu vực kinh tế dân
doanh chiếm 53.5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiến 6.4%. Đến năm
2007 thì khu vực kinh tế Nhà nước chiếm 37.8%; khu vực kinh tế dân doanh
chiếm 54%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 8.2% [23]. Số liệu trên
cũng nói lên sự đóng góp đáng kể của khu vực kinh tế tư nhân đối với sự tăng
trưởng kinh tế của đất nước, mặt khác chính sự tăng trưởng đó cũng đem lại
thời cơ và nhiều điều kiện khách quan thuận lợi cho sự phát triển của DNTN.
Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay các DNTN của Việt nam chưa phát
huy được hết tiềm năng của mình, còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất
kinh doanh. Hiện tượng này một phần là do các DNTN chưa có kinh nghiệm
hoạt động trong nền kinh tế thị trường. Mặt khác, cũng chưa có khung chính
sách thật rõ ràng và ổn định từ phía Nhà nước nhằm đưa ra các biện pháp hữu
hiệu tạo điều kiện cho các DNTN phát huy hết khả năng cho sự nghiệp phát
triển kinh tế đất nước [22].
Vấn đề đặt ra hiện nay là cần xác định địa vị pháp lý của DNTN như
thế nào cho phù hợp với những điều kiện của nền kinh tế thị trường mới được
4
- “Kinh tế tư nhân ở Việt nam trong tiến trình hội nhập” của PGS.TS
Trịnh Thị Hoa Mai, nhà xuất bản Thế giới, Hà nội- 2005. Tác giả đưa ra
những vấn đề chung về khu vực kinh tế tư nhân, phát triển kinh tế tư nhân ở
Việt nam trong điều kiện hội nhập, trong đó tác giả có đưa ra một số vấn đề
như: các loại hình DNTN ở Việt nam, vốn thực tế của DNTN như thế nào? số
lượng DNTN ở Việt nam.
- “ DNTN ở Thái Bình hiện nay”. Luận văn thạc sỹ kinh tế của Bùi
Việt Hưng, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà nội 2006. Tác giả đã
đánh giá được những thành tựu và những mặt hạn chế của sự phát triển của
DNTN ở Thái Bình. Đồng thời, tác giả đã đề ra một số giải pháp nhằm
khuyến khích phát triển DNTN ở Thái Bình.
- “Vài bình luận về pháp LDN tư nhân” của TS Ngô Huy Cương đăng
trên Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà nội, Luật học 26(2010). Từ thực
trạng pháp luật còn thiếu những giải pháp để giải quyết những tranh chấp có
liên quan và có nhiều bất cập trong việc điều tiết các mối quan hệ của DNTN,
tác giả đã tập trung phân tích bản chất pháp lý của DNTN từ đó chỉ ra bất cập
của pháp luật về DNTN.
Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào tiếp cận và làm rõ địa vị
pháp lý của DNTN bời các đề tài đã xuất bản ở Việt nam hoặc chỉ tìm hiểu về
một DNTN cụ thể hoặc nghiên cứu DNTN dưới góc độ một đơn vị kinh
doanh thuộc thành phần kinh tế tư nhân. Tính đến thời điểm này, đây là một
trong những luận văn thạc sỹ đầu tiên nghiên cứu về Địa vị pháp lý của
DNTN trong nền kinh tế thị trường ở Việt nam trong giai đoạn hiện nay. Luận
văn được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu của bản thân kết hợp tham khảo
thông tin tại các nguồn sách, báo, thông tin trên mạng internet.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng về
6
- Phương pháp phân tích tồng hợp: phân tích các qui định pháp lý được
lý giải, dẫn chiếu trong các văn bản pháp luật, tổng hợp các qui định pháp luật
trong và ngoài nước nhằm có cái nhìn toàn diện hơn về địa vị pháp lý của
DNTN ở Việt Nam hiện nay.
- Ngoài ra luận văn còn triêt để sử dụng phương pháp thống kê, phương
pháp duy vật lịch sử để xem xét quá trình hình thành, phát triển một cách
khách quan của doanh nghiệp tư nhân, cụ thể đi sâu nghiên cứu địa vị pháp lý
và vai trò thực tế của loại hình doanh nghiệp này.
6. Bố cục của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về doanh nghiệp tư nhân.
Chương 2: Địa vị pháp lý và vai trò thực tế của DNTN ở Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp nâng cao địa vị pháp lý và vai trò thực tế của
doanh nghiệp tư nhân.
Nghiên cứu và hoàn thiện chế định địa vị pháp lý của DNTN là vấn
đề phức tạp. Hơn nữa, với thời gian ngắn, thông tin và trình độ người viết
còn hạn chế, do vậy luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả
rất mong sẽ nhận được nhiều ý kiến phê bình, đóng góp của thầy cô giáo và
các bạn. 7
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN
1.1. Khái quát về Doanh nghiệp tƣ nhân ở Việt nam hiện nay
1.1.1 . Địa vị pháp lý và vấn đề tiếp cận địa vị pháp lý của doanh
nghiệp tư nhân

nước và hợp tác xã, thì vấn đề pháp nhân và tư cách pháp nhân của những chủ
thể này cũng không được quan tâm nhiều, tuy nhiên khi những lọai hình chủ
thể kinh doanh mới có tư cách pháp nhân như công ty TNHH, công ty cổ
phần, công ty hợp danh xuất hiện thì vấn đề tư cách pháp nhân đã được đặt ra
và xem xét một cách cụ thể hơn. Nội dung của khái niệm pháp nhân theo quan
niệm của luật Dân sự truyền thống đã trở lên quá chật hẹp đối với các loại
hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Hơn thế nữa, từ hệ thống
pháp luật hiện hành về các doanh nghiệp của nước ta cho phép khẳng định là:
bên cạnh những chủ thể kinh doanh là pháp nhân còn có sự tồn tại của những
doanh nghiệp tuy không phải là pháp nhân, nhưng chúng vẫn là những thực
thể pháp lý có tư cách pháp lý độc lập tham gia vào các quan hệ kinh tế và các
quan hệ pháp luật.
Hơn nữa, khi xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp, chúng ta phải
gắn với chúng với sự phát triển của các mô hình kinh tế, cơ chế kinh tế mà
trong khuôn khổ đó các doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Như vậy, có thể
thấy nội hàm địa vị pháp lý của doanh nghiệp được phản ánh và thể hiện ở
những phương diện sau:
Thứ nhất, các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, chức năng của
từng loại hình doanh nghiệp; tính chất, đặc điểm tổ chức kinh doanh trong
mỗi loại hình doanh nghiệp.
Thứ hai, tổng hợp các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh
nghiệp được pháp luật quy định phù hợp với vị trí, vai trò và chức năng của 9
doanh nghiệp và những quyền hạn và nghĩa vụ mà doanh nghiệp đảm nhận
trên cơ sở những quy định của pháp luật khi doanh nghiệp tham gia vào các
quan hệ pháp luật trong quá trình hoạt động.
Những quyền và nghĩa vụ này được quy định trong hệ thống các văn
bản bao gồm:

trên. Vì một chủ thể kinh tế nói chung, một doanh nghiệp (trong đó có DNTN
nói riêng) không chỉ có các quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực kinh tế mà còn
có các quyền và nghĩa vụ khác. Các chủ thể này không chỉ chịu sự điều chỉnh
của luật kinh tế, mà còn chịu sự điều chỉnh của các ngành luật khác như hành
chính, hiến pháp, lao động, dân sự, môi trường, đất đai…
Trong quá trình nghiên cứu địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân, có
thể nhận thấy, nhiều tác giả đã đồng nhất các khái niệm tư cách chủ thể pháp
luật, tư cách pháp nhân với khái niệm địa vị pháp lý của doanh nghiệp. Sự
đồng nhất này có những điểm không chuẩn xác. Ở đây, tác giả thống nhất với
quan điểm cho rằng tư cách pháp nhân và tư cách chủ thể pháp luật là hai vấn
đề có nội dung và bản chất pháp lý khác nhau. Bởi vì tất cả các doanh nghiệp
được pháp luật thừa nhận và bảo hộ thì đều có tư cách chủ thể pháp lý độc
lập. Nhưng chỉ những doanh nghiệp có trách nhiệm giới hạn về tài sản thì
chúng mới là pháp nhân. Bởi vì, dấu hiệu cơ bản của pháp nhân là: chỉ chịu
TNHH trong số tài sản của mình đem ra kinh doanh (TNHH). Trong trường
hợp này, có sự tách biệt giữa tài sản góp vào doanh nghiệp và tài sản mà
người góp vốn không góp vào doanh nghiệp (tài sản dân sự).
Trong khi đó, DNTN với trách nhiệm vô hạn không có sự tách biệt,
giới hạn về trách nhiệm tài sản và trong mọi trường hợp, họ phải chịu trách
nhiệm đến cùng về thiệt hại thực tế. Quan điểm này phần nào đã bác lại quan
điểm cho rằng: tư cách pháp nhân một chế định pháp lý thể hiện địa vị pháp
lý của doanh nghiệp. 11
Chính vì địa vị pháp lý của một chủ thể kinh doanh, nhất là của các
doanh nghiệp là những khái niệm chưa được thống nhất, chưa được nghiên
cứu đầy đủ, nên khi đề cập đến các đặc trưng của chúng, các tác giả thường
dùng một khái niệm: tư cách chủ thể pháp luật của doanh nghiệp được nhà
nước thừa nhận là một chủ thể pháp lý độc lập. Theo đó, tư cách chủ thể phản

đề đầu tiên cần làm sáng tỏ là định nghĩa DNTN và các đặc điểm pháp lý
của chúng.
LDN 2005 đã đưa ra cách hiểu thống nhất về doanh nghiệp tư nhân.
Theo đó, Điều 141 LDN 205 đã định rõ: „DNTN là doanh nghiệp do một cá
nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi
hoạt động của doanh nghiệp” [8]. Định nghĩa này cho thấy, DNTN không
phải là thực thể độc lập. Chủ nhân của nó phải đầu tư vốn để tạo lập nó và có
toàn quyền trong việc bán, cho thuê doanh nghiệp, trách nhiệm của chủ doanh
nghiệp gắn liền với mọi hoạt động của doanh nghiệp trong suốt quá trình tồn
tại. Tại thời điểm đăng ký kinh doanh, chủ doanh nghiệp phải kê khai rõ số
vốn ban đầu để thành lập doanh nghiệp [2]. Vì thế, xác định rõ tư cách pháp
lý của DNTN sẽ tạo ra cách nhìn nhận đúng đắn hơn về vai trò, vị trí của
DNTN trong nền kinh tế
Trên cơ sở được thừa nhận là chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị
trường, DNTN có quyền tham gia vào quan hệ kinh tế, thực hiện các hoạt
động thương mại. Hoạt động do doanh nghiệp tiến hành phải phù hợp với địa
vị pháp lý của doanh nghiệp, tức là chỉ hoạt động trong phạm vi quyền và
nghĩa vụ được pháp luật ghi nhận. Các quyền và nghĩa vụ của DNTN được
xác định dựa trên bản chất pháp lý của DNTN và được quy định trong LDN.
Ngoài ra, chủ DNTN còn có thể có những quyền và nghĩa vụ khác do mình
tạo ra bằng các hành vi pháp lý của doanh nghiệp, thông qua bằng việc thiết
lập những quan hệ do pháp luật dân sự, hành chính, lao động, môi trường, đất
đai…điều chỉnh mà DNTN tham gia. 13
Như vậy, DNTN là một đơn vị sản xuất, kinh doanh bình đẳng trước
pháp luật với mọi doanh nghiệp và chủ thể kinh doanh khác trong hoạt động
sản xuất, kinh doanh, cũng như các quan hệ pháp luật khác, có đủ các quyền
và nghĩa vụ như một chủ thể pháp lý độc lập. Vị trí, vai trò của DNTN trong

- Luật dầu khí (sửa đổi năm 2000)
- Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006
- Luật khoáng sản 2010
- Luật báo chí 1989
- Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật báo chí 1999
- Luật giáo dục 1998 (sửa đổi 2009)
- Luật tài nguyên nước 2012
- Luật kinh doanh bảo hiểm 2000
- Luật tổ chức tín dụng 2010
Bộ phận thứ hai về địa vị pháp lý của DNTN là những quyền và
nghĩa vụ phát sinh khi doanh nghiệp tham gia vào các quan hệ xã hội
không chỉ do các quy phạm pháp luật kinh tế mà còn các quy phạm của các
ngành luật điều chỉnh.
Như vậy, địa vị pháp lý của DNTN là tổng hợp những quyền, nghĩa vụ và
trách nhiệm được pháp luật xác định phù hợp với vị trí, vai trò, chức năng kinh
tế và xã hội của loại hình DNTN trong quá trình sản xuất kinh doanh và những
quyền, nghĩa vụ mà tự DNTN và chủ DNTN lựa chọn và đảm nhận trên cơ sở
vận dụng những khả năng pháp luật cho phép hoặc không cấm khi tham gia vào
các vào các quan hệ pháp luật trong quá trình hoạt động của mình.
Pháp luật không thể quy định chi tiết được tất cả mối quan hệ pháp luật
mà doanh nghiệp tham gia mà chỉ có khả năng xác định những vấn đề có
tính nguyên tắc, tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động. Do
đó, quyền và nghĩa vụ của từng DNTN cụ thể không hoàn toàn giống nhau 15
mà còn tùy thuộc vào khả năng của mỗi chủ thể pháp luật bằng hành vi của
mình thực hiện quyền và nghĩa vụ trong khuôn khổ luật pháp quy định.
DNTN là chủ thể kinh doanh có cơ cấu tổ chức và quản lý được Nhà
nước thừa nhận. Do vậy, DNTN có các quyền và nghĩa vụ được ghi nhận

đã mang lại tác dụng ngược là kìm hãm sự phát triển của sản xuất xã hội,
không huy động được tiềm lực trong dân để phát triển kinh tế của đất nước.
Trên thực tế, nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ
là phổ biến. Trong khi đó, sự phát triển của lực lượng sản xuất rất không đều
nhau giữa các vùng, ngành kinh tế của đất nước, giữa miền xuôi với miền
ngược, giữa thành thị với nông thôn.
Vì thế, việc Hiến pháp 1980 không ghi nhận hình thức “sở hữu tư
nhân” đã làm cho bộ phận thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân bị kìm
hãm, không được phát triển. Do đó, trong thời kỳ này, chủ thể kinh doanh chủ
yếu là doanh nghiệp quốc doanh, hợp tác xã, còn DNTN và một số loại hình
doanh nghiệp khác chưa được thừa nhận về mặt pháp lý.
Đại hội Đảng 1986 đã xác định phát triển nền kinh tế nước ta theo
hướng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nhận sự tồn tại
của nhiều thành phần kinh tế. Trên cơ sở đó, Quốc hội đã sửa đổi và ban hành
một số văn bản luật để tạo hành lang pháp lý cho các cá nhân, tổ chức tham
gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh như Luật đầu tư 2005, LDN 2005,
Luật Thương mại 2005 và các văn bản pháp luật khác.
Việc đưa hình thức sở hữu tư nhân vào là một điểm tiến bộ của Hiến
pháp năm 1992 bởi điều này đã tạo nền tảng pháp lý cho hình thức kinh tế tư
nhân phát triển, tiến tới một nền kinh tế thị trường phong phú và phát triển
mạnh mẽ hơn. Theo đó, Điều 21, Hiến pháp 1992 qui định: “kinh tế cá thể,
kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh, 17
được thành lập doanh nghiệp không hạn chế về qui mô hoạt động trong
những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh”[7]. Trên cơ sở đó, DNTN -
một loại hình doanh nghiệp dựa trên nền tảng sở hữu tư nhân đang ngày càng
phát triển và khẳng định được vai trò của mình. Trên cơ sở đó, LDN và các
văn bản luật có liên quan đã cụ thể hóa hơn thẩm quyền kinh tế của DNTN

Sự phát triển của DNTN còn có hạn chế là do nhiều nguyên nhân khác
nhau nhưng chủ yếu do chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
của Đảng, trong nhiều trường hợp cụ thể, vẫn chưa có sự thống nhất cao trong
nhận thức. Cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ và môi trường
kinh tế va luật pháp còn thiếu sự thông thoáng. Đây là nhân tố hàng đầu làm
nản lòng các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước và kinh tế còn cồng kềnh, chồng
chéo. Việc phát triển đồng bộ các thể chế kinh tế thị trường và tạo lập một
môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế còn chậm. Đặc
biệt, với những chính sách ưu đãi riêng đối với từng thành phần kinh tế, Nhà
nước chưa tạo ra một môi trường chung dẫn đến sự phân biệt đối xử giữa các
thành phần kinh tế.
Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế, vai trò chủ đạo của doanh
nghiệp nhà nước bị nhầm lẫn với độc quyền kinh doanh của một số doanh
nghiệp Nhà nước, tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp nhà nước duy trì sự
trì trệ, ỷ lại chính sách bao cấp.
Bên cạnh đó, hệ thống những quy định pháp luật điều chỉnh các quan
hệ liên quan đến cạnh tranh chưa hoàn chỉnh, ý thức chấp hành pháp luật chưa
nghiêm, vì thế còn tồn tại nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
nền kinh tế. 19
Việc đổi mới, đơn giản hóa thủ tục hành chính tiến hành còn chậm,
chưa kịp thời nên còn gây nhiều phiền hà cho các nhà đầu tư, đồng thời cũng
tạo ra sự bất bình đẳng trong cạnh tranh. Thủ tục hành chính phức tạp cũng đã
làm tăng chi phí giao dịch, giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt
Nam so với các nước khác. Tuy vậy có thể thấy, môi trường kinh doanh tư
nhân tại Việt Nam đã được cải thiện đáng kể từ giữa năm 1999. Việc thành
lập Diễn đàn khu vực tư nhân và việc thông qua LDN là một số những tín


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status