TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI: “NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM” - Pdf 11


TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI: “NGHIÊN CỨU HOÀN
THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO VỆ
NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT
NAM”
ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
A. THÔNG TIN VỀ ĐỀ TÀI
Cấp đề tài: Đề tài cấp Bộ
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Đinh Thị Mai Phương - Viện Khoa học pháp lý
Cơ quan chủ quản : Bộ Tư pháp
Cơ quan chủ trì : Viện Khoa học Pháp lý

người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu trên, phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu hệ thống
các thiết chế, thể chế và cách thức để bảo vệ người tiêu dùng.
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU
DÙNG
1. Quan niệm người tiêu dùng
Qua nghiên cứu, nhóm tác giả nhận thấy có nhiều quan niệm khác nhau về người tiêu dùng.
Trong đó, một quan niệm tương đối phổ biến được các cộng tác viên đề tài chấp nhận là:
“người tiêu dùng là những người mua hoặc sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho các mục đích tiêu
dùng cá nhân, sinh hoạt gia đình, cộng đồng”. Cũng theo quan niệm này, người tiêu dùng
được hiểu là người tiêu dùng cuối cùng hàng hoá, dịch vụ được cung ứng trên thị trường.
Những người mua hàng hoá, dịch vụ để sử dụng làm đầu vào cho các hoạt động sản xuất,
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ sẽ không được coi là người tiêu dùng.
Tuy nhiên, cũng có quan niệm khác cho rằng, người tiêu dùng phải bao gồm cả những tổ
chức, những doanh nghiệp mua hàng hoá, dịch vụ của người khác và sử dụng vào các hoạt
động sản xuất, kinh doanh, cung ứng dịch vụ của mình.
Từ góc độ lịch sử, nhóm nghiên cứu đề tài đã tìm hiểu về quá trình ra đời và phát triển của
khái niệm “người tiêu dùng” với tư cách là một khái niệm pháp lý được sử dụng phổ biến
trong các đạo luật về bảo vệ người tiêu dùng trên thế giới. Ở nhiều quốc gia trên thế giới, khái
niệm người tiêu dùng, với tư cách là khái niệm pháp lý, chỉ mới được sử dụng phổ biến từ
khoảng những năm 1950 - 1960 trở lại đây. Người tiêu dùng được hiểu là người mua, sử
dụng hàng hoá, dịch vụ cho các mục đích không phải là mục đích thương mại. Người mua
hàng hoá, dịch vụ với tư cách là sản phẩm trung gian nhằm phục vụ quá trình sản xuất, hoặc
cung ứng lại cho người khác sẽ không được coi là người tiêu dùng. Cách hiểu này nói chung
được chấp nhận khá rộng rãi ở nhiều quốc gia. Thêm vào đó, việc xác định một người nào đó
là người tiêu dùng luôn phải xét trong bối cảnh và mối quan hệ cụ thể. Một người mua hàng
trong quan hệ này có thể là người tiêu dùng, nhưng trong quan hệ khác có thể không còn tư
cách người tiêu dùng nữa.
Qua quá trình nghiên cứu, Nhóm nghiên cứu đề tài cũng thấy rằng khái niệm “người tiêu
dùng” được sử dụng gắn liền với một giả định quan trọng về tính yếu thế của người tiêu dùng

môn hoá có những bước nhảy vọt hơn nữa về chất, khoảng cách chênh lệch giữa hiểu biết
của nhà sản xuất về sản phẩm với tri thức mà người tiêu dùng biết về sản phẩm ngày càng
lớn, quy mô kinh tế giữa thương nhân với người tiêu dùng càng có sự chênh lệch. Điều đó
càng làm cho nhà sản xuất với người tiêu dùng có độ chênh lệch lớn về vị thế thực tế. Trong
bối cảnh ấy, nếu người tiêu dùng không có các công cụ hỗ trợ, việc người tiêu dùng bị nhà
sản xuất, phân phối lạm dụng là hoàn toàn có khả năng xảy ra. Nếu chỉ trông chờ vào khả
năng tự bảo vệ của mình, người tiêu dùng sẽ khó có thể phòng ngừa và khắc phục được
những rủi ro trong quá trình tham gia giao dịch với nhà sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ
cũng như trong quá trình sử dụng hàng hoá, dịch vụ đó. Điều này đã được thực tiễn không chỉ
ở các quốc gia công nghiệp phát triển mà còn ở chính Việt Nam chứng minh.
Đó chính là lý do vì sao Nhà nước cần phải ban hành pháp luật để điều chỉnh quan hệ giữa
nhà sản xuất, phân phối với người tiêu dùng, để quan hệ này trở nên lành mạnh, công bằng
hơn.
2.2. Quan niệm về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng
Có thể định nghĩa khái quát, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng là tổng thể các quy phạm
pháp luật có mục đích bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng khi mua hoặc sử dụng
hàng hoá, dịch vụ. Theo quan niệm này, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng gồm quy phạm
thuộc nhiều ngành, nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, miễn là có chung mục đích bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng. Tuy nhiên, khi xác định các ngành, lĩnh vực
pháp luật được coi là thuộc phạm trù “pháp luật bảo vệ người tiêu dùng”, có nhiều ý kiến khác
nhau.
Có quan niệm cho rằng, các quy phạm thuộc lĩnh vực pháp luật cạnh tranh, chống cạnh
tranh không lành mạnh cũng được xếp vào pháp luật bảo vệ người tiêu dùng. Tuy nhiên,
nhóm nghiên cứu đề tài cho rằng, nếu xét từ góc độ lịch sử, các đạo luật về bảo vệ người tiêu
dùng thường được ban hành sau các quy phạm pháp luật về cạnh tranh và chống cạnh tranh
không lành mạnh. Thêm vào đó, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng chỉ là một trong những
hệ quả của điều chỉnh pháp luật về cạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh. Pháp
luật về cạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh trước hết có mục tiêu đảm bảo môi
trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp trên thị trường, đảm bảo sự bình đẳng
về cơ hội cạnh tranh trên thị trường. Chính vì thế, pháp luật cạnh tranh và chống cạnh tranh

về bảo vệ người tiêu dùng trong đó có Chỉ thị 85/374/EEC về trách nhiệm của nhà sản xuất
đối với các sản phẩm khuyết tật; Chỉ thị số 85/577/EEC về bảo vệ người tiêu dùng trong các
giao dịch bán hàng ở ngoài địa điểm kinh doanh thường xuyên (chẳng hạn bán hàng tại nhà
của người tiêu dùng); Chỉ thị số 90/314/EEC về dịch vụ du lịch trọn gói; Chỉ thị số 93/13/EEC
về các điều khoản không công bằng trong các hợp đồng tiêu dùng; Chỉ thị số 94/47/EC về bảo
vệ bên mua quyền sử dụng bất động sản theo thời vụ; Chỉ thị số 97/7/EC về bảo vệ người tiêu
dùng trong các hợp đồng bán hàng từ xa; Chỉ thị số 1999/44/EC về việc bán hàng hoá tiêu
dùng; Chỉ thị số 2002/65/EC về tiếp thị dịch vụ tài chính từ xa; Chỉ thị số 2005/29/EC về hành
vi thương mại giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng không công bằng.
Tất nhiên, để vận hành các văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt về bảo vệ người tiêu
dùng kể trên, việc dựa vào các văn bản pháp luật nền như các quy định trong pháp luật dân
sự, pháp luật hành chính, pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng, pháp luật về tổ chức và hoạt
động của các thiết chế hành chính, thiết chế tư pháp là điều khó tránh. Pháp luật bảo vệ
người tiêu dùng gồm quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành, lĩnh vực pháp luật khác nhau
trong số đó, phải kể đến các nhóm quy phạm pháp luật sau đây:
- Các quy định về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm;
- Quy định về đo lường;
- Quy định kiểm soát quá trình gia nhập thị trường;
- Quy định về ghi nhãn bắt buộc;
- Quy định về tội phạm và hình phạt áp dụng cho các hành vi xâm phạm quyền lợi của
người tiêu dùng.
- Quy định về pháp luật hợp đồng được thiết kế đặc biệt để bảo vệ quyền lợi của người tiêu
dùng (nhất là các quy định về những điều khoản mà nhà sản xuất không được phép tự do
thương lượng với người tiêu dùng; các điều khoản được coi là không công bằng đối với
người tiêu dùng; về quyền tự do đơn phương chấm dứt hợp đồng trong một số trường hợp
chẳng hạn trong hợp đồng bán tại nhà, các loại hợp đồng bán hàng từ xa, các loại điều khoản
về tín dụng tiêu dùng ).
- Quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có mục đích bảo vệ người tiêu dùng.
Ở một số quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ và Canada, người tiêu dùng có công cụ pháp luật tố
tụng tốt hơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đó là cơ chế khởi kiện tập thể.

Có thể mô hình hoá các mối quan hệ cơ bản chịu sự điều chỉnh của pháp luật bảo vệ người
tiêu dùng như sau: Về phương pháp điều chỉnh, việc bảo vệ
người tiêu dùng đòi hỏi nhà nước phải sử
dụng cả 2 cách. (i) “giám sát của Nhà nước”
(bằng các biện pháp cấp phép, thanh tra, kiểm
tra, xử lý vi phạm về hành chính, hình sự); và
(ii) “giám sát của cộng đồng xã hội” (thông
qua việc khiếu nại, tố cáo, đòi bồi thường của
người tiêu dùng, tố cáo của các doanh nghiệp
làm ăn chân chính, sự phát hiện của các cơ quan truyền thông, các hội bảo vệ người tiêu
dùng ). Chính vì thế, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng không sử dụng một phương pháp
điều chỉnh duy nhất mà sử dụng nhiều phương pháp điều chỉnh khác nhau. Đó là, phương
pháp tôn trọng sự tự do, tự nguyện thoả thuận (khi sử dụng các quy phạm pháp luật thuộc
lĩnh vực luật tư, nhất là các quy định về pháp luật hợp đồng, các quy định về bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng, các quy định pháp luật về khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại); phương
pháp mang tính mệnh lệnh, phục tùng (khi sử dụng các quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực
luật công, nhất là các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật hành chính và
pháp luật hình sự).
2.4. Chức năng của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng
Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng có một số chức năng cơ bản sau:
Thứ nhất, ghi nhận hệ thống các quyền của người tiêu dùng. Theo Hướng dẫn của Liên hợp
quốc về bảo vệ người tiêu dùng (năm 1985), người tiêu dùng có 8 quyền cơ bản sau: quyền
được thoả mãn những nhu cầu cơ bản; quyền được an toàn; quyền được thông tin; quyền
được lựa chọn; quyền được lắng nghe; quyền được khiếu nại và bồi thường; quyền được
giáo dục, đào tạo về tiêu dùng; quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững
2
;

vi xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng, khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp bị
xâm phạm cho người tiêu dùng Theo cách quan niệm ấy, cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu
dùng ở Việt Nam bao gồm các bộ phận cơ bản sau:
Thứ nhất, các quy tắc pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng, gồm: các quy định về quyền của người tiêu dùng và tương ứng với
nó là trách nhiệm của nhà sản xuất, kinh doanh và của Nhà nước; quy định về tổ chức và
hoạt động của các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; quy định về
trình tự, thủ tục thực thi các quyền của người tiêu dùng; quy định về các biện pháp chế tài đối
với người có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Thứ hai, các thiết chế tổ chức, thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Thứ ba, điều kiện bảo đảm cho pháp luật và các thiết chế thực thi pháp luật vận hành hiệu
quả (nguồn nhân lực, nguồn tài chính và các điều kiện về kỹ năng, nhận thức của không chỉ
các cơ quan, tổ chức hữu quan, mà còn của chính người tiêu dùng và các nhà sản xuất, kinh
doanh trong xã hội).
Theo các tác giả, để đảm bảo tính toàn diện và hệ thống trong quan niệm về cơ chế pháp lý
bảo vệ người tiêu dùng, cần đưa người tiêu dùng, các nhà sản xuất, phân phối sản phẩm,
hiệp hội của các nhà sản xuất, phân phối, hiệp hội, hội bảo vệ người tiêu dùng nằm trong cơ
chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng. Cơ chế pháp lý kể trên được vận hành không thể tách rời
với các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá chung của xã hội. Chẳng hạn, cơ chế pháp lý kể trên
sẽ vận hành tốt hơn và người tiêu dùng sẽ được bảo hộ tốt hơn nếu doanh nghiệp, doanh
nhân có trách nhiệm xã hội rõ hơn, văn hoá kinh doanh lành mạnh hơn, áp lực cạnh tranh lớn
hơn. Người tiêu dùng cũng sẽ được bảo vệ tốt hơn nếu bộ máy công quyền (bộ máy hành
chính và bộ máy tư pháp) ít chịu ảnh hưởng hơn từ khu vực kinh doanh (cả ảnh hưởng chính
thức và ảnh hưởng phi chính thức), và nếu như các phương tiện truyền thông đại chúng thực
hiện tốt hơn vai trò phản ánh, lên án các hiện tượng tiêu cực đối với người tiêu dùng và vai trò
giám sát của mình.
Với quan niệm như vậy, thiết chế bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay gồm một số
nhóm chủ thể chính sau đây:
- Các cơ quan hành chính có chức năng, nhiệm vụ bảo vệ người tiêu dùng nói chung hoặc
trong từng lĩnh vực cụ thể.

hàng hoá, mà còn diễn ra cả trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ (ví dụ vi phạm quyền lợi của
du khách, của người gửi tiền, của người xem biểu diễn các chương trình ca nhạc, dịch vụ đầu
tư hoặc tư vấn đầu tư có dấu hiệu gian dối, lừa đảo).
Việc vi phạm quyền lợi người tiêu dùng diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau như quyền
lợi người tiêu dùng bị vi phạm do các nhà sản xuất, kinh doanh không cung cấp đầy đủ thông
tin cần thiết cho người tiêu dùng hoặc cung cấp thông tin sai lệch; quyền lợi người tiêu dùng
bị vi phạm do người tiêu dùng bị nhà sản xuất, kinh doanh cung cấp các loại hàng hoá, dịch
vụ không đảm bảo đúng giá cả, chất lượng, nguồn gốc xuất xứ đã cam kết; người tiêu dùng
không được nhà sản xuất, người bán hàng thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ bảo hành đã
cam kết; người tiêu dùng bị gian lận về cân, đo, đong, đếm. Tình trạng sử dụng hợp đồng
mẫu gây bất lợi cho người tiêu dùng cũng đã diễn ra trong thực tế.
Thực trạng trên cho thấy, các vụ việc liên quan đến người tiêu dùng ngày càng tăng cả về số
lượng, quy mô, phạm vi lẫn mức độ vi phạm
4
.

4
Báo cáo tổng kết công tác thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và định hướng xây dựng Luật Bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng, Cục Quản lý cạnh tranh, công bố ngày 11/6/2008.
1.2. Tổng quan về công tác bảo vệ người tiêu dùng ở nước ta hiện nay
Tại nội dung này các tác giả đã đưa ra một bức tranh toàn cảnh về sự phân công thực hiện
nhiệm vụ công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các Bộ, ngành hữu quan, UBND các
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
2. Những thành tựu trong công tác xây dựng cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng
ở nước ta
2.1. Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng
Các tác giả đã đưa ra những đánh giá tổng thể về cơ sở pháp lý của công tác bảo vệ người
tiêu dùng. Các văn bản này có các ưu điểm nổi bật sau:
- Làm rõ khái niệm về "người tiêu dùng".
- Quy định hệ thống các quyền năng cơ bản của người tiêu dùng. Theo đó, người tiêu dùng

xác; (iii) Thông tin, quảng cáo chính xác và trung thực về hàng hoá, dịch vụ; (iv) Niêm yết giá
hàng hoá, dịch vụ; (v) Công bố điều kiện, thời hạn, địa điểm bảo hành và hướng dẫn sử dụng
hàng hoá, dịch vụ của mình cho người tiêu dùng; (vi) Giải quyết kịp thời mọi khiếu nại của
người tiêu dùng; (vii) Thực hiện trách nhiệm bảo hành hàng hoá, dịch vụ; (viii) Thu thập,
nghiên cứu, tiếp thu ý kiến đóng góp của người tiêu dùng; (ix) Bồi hoàn, bồi thường thiệt hại
cho người tiêu dùng theo quy định của pháp luật.
- Quy định hệ thống biện pháp chế tài áp dụng cho tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh có
hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, bao gồm chế tài dân sự (trách nhiệm hợp
đồng; trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng); chế tài hành chính; chế tài hình sự.
- Quy định hệ thống các thiết chế có trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng.
- Quy định cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo của người tiêu dùng.
- Một số quy định có liên quan khác: các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; về chất
lượng hàng hoá cung cấp thông tin trung thực; về mức độ an toàn, chất lượng; về công tác
bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm; về quảng cáo hàng hoá, dịch vụ; về nhãn hàng hoá.
2.2. Thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng
Thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng hiện nay gồm: bộ máy hành chính nhà
nước (nhất là các đơn vị thuộc Bộ Công thương, Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ và các
Bộ, ngành hữu quan khác), các cơ quan thuộc bộ máy tư pháp và các Hội bảo vệ người tiêu
dùng. Các tác giả đưa ra đánh giá các quy định pháp luật về trách nhiệm của các cơ quan
thực thi việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cũng như thực tiễn thực thi các quy định này
trong thực tiễn. Trong đó:
- Cục Quản lý cạnh tranh đã nỗ lực thực hiện các hoạt động truyền thông nhằm nâng cao
nhận thức của người tiêu dùng, giải đáp pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng cho các cá
nhân, tổ chức, doanh nghiệp; tiếp nhận các khiếu nại, phản ánh của người tiêu dùng; thực
hiện việc hoà giải giữa người tiêu dùng và các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh bị
khiếu nại; tổng kết thực tiễn công tác xây dựng pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng, tham
mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo vệ
người tiêu dùng; phối hợp với các cơ quan hữu quan, với Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ người
tiêu dùng thực hiện các hoạt động kiểm tra, xác minh các vụ việc mà quyền lợi người tiêu
dùng bị xâm hại.

thông qua việc xem xét các hành vi hành chính, quyết định hành chính của người có thẩm
quyền xử lý các hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng bị khởi kiện tại Tòa hành chính.
Ngoài ra, các thiết chế khác trong bộ máy nhà nước cũng có vai trò quan trọng trong công
tác bảo vệ người tiêu dùng, trong đó phải kể đến các cơ quan trong ngành khoa học và công
nghệ (Tổng Cục tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng, các Chi cục tiêu chuẩn, đo lường và chất
lượng), ngành giao thông vận tải, ngành công an v.v
2.3. Các điều kiện bảo đảm
Thời gian qua, công tác bảo vệ người tiêu dùng, nhất là việc bảo vệ người tiêu dùng liên
quan tới việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, chống hàng giả, hàng nhái ngày càng
được quan tâm hơn. Nhà nước đã đầu tư ngân sách, kinh phí, bố trí nguồn lực ngày càng lớn
hơn phục vụ công tác bảo vệ người tiêu dùng. Lực lượng quản lý thị trường ngày càng được
tăng cường về số lượng biên chế và trang thiết bị, kinh phí hoạt động.
Bộ Y tế đã trình Thủ tướng Chính phủ Đề án thành lập Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh
thực phẩm quốc gia với chức năng xét nghiệm tất cả các chỉ tiêu về vệ sinh an toàn thực
phẩm, kể cả các loại xét nghiệm phức tạp như xét nghiệm để phát hiện virut gây bò điên, các
loại sản phẩm bị nhiễm phóng xạ ; trình Thủ tướng Chính phủ Đề án thành lập 4 Trung tâm
kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm tại 4 vùng miền gồm Miền Trung, Tây Nguyên, thành
phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ. Khi Viện Kiểm nghiệm và các Trung tâm kiểm
nghiệm này đi vào hoạt động, chắc chắn, hoạt động của các cơ sở này sẽ đóng góp quan
trọng vào công tác bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ý thức bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng đang từng bước được nâng lên. Một số người
tiêu dùng bày tỏ bất bình trên các phương tiện báo chí, thậm chí đã có người đệ đơn khởi
kiện nhà sản xuất để yêu cầu họ thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình đối với người tiêu
dùng (trong vụ nước tương chứa chất 3-MCPD).
Đây là những tiền đề tốt để việc tăng cường công tác bảo vệ người tiêu dùng trong thời gian
tới được thực hiện tốt hơn.
3. Những tồn tại, bất cập trong cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng ở nước ta
3.1. Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng
Tuy có những thành tựu rất đáng kể như đã nêu ở trên, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở
nước ta trong thời gian qua cũng còn nhiều tồn tại, bất cập, trong số đó có thể kể đến những

tính chất của nhóm đối tượng này. Người tiêu dùng chưa được quy định những "đặc quyền",
những công cụ đặc biệt mà chỉ người tiêu dùng mới có để bảo vệ, khắc phục những điểm yếu
của mình trong quan hệ giao dịch với thương nhân trên thị trường. Việc thiếu các quy định
đặc thù, khác với các quy định trong Bộ luật dân sự làm công cụ bảo vệ người tiêu dùng càng
cho thấy thực tế này.
3.1.6. Chưa quy định các điều kiện cần thiết để người tiêu dùng tự bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình
Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng nhấn mạnh tới vai trò của các cơ quan quản lý hành chính
nhà nước (thông qua việc giám sát, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm), mà chưa chú trọng
thoả đáng tới việc khuyến khích người tiêu dùng tự bảo vệ quyền lợi của mình (thông qua các
hành vi ứng xử cụ thể trong giao dịch với người sản xuất kinh doanh). Việc xử phạt các chủ
thể có hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng thường ít được công khai, hoặc có công
khai thì người tiêu dùng cũng chưa cảm nhận được mình sẽ được lợi trực tiếp gì từ việc xử
phạt ấy (do không có cơ chế nào liên kết giữa việc xử phạt ấy với việc người tiêu dùng được
yêu cầu tổ chức, cá nhân vi phạm phải bồi hoàn lại tiền, bồi thường cụ thể cho người tiêu
dùng). Các quy định điều chỉnh hành vi ứng xử của người tiêu dùng và người kinh doanh
trong các quan hệ hợp đồng cụ thể không được quy định chi tiết trong Pháp lệnh bảo vệ
người tiêu dùng năm 1999 cũng như trong các văn bản pháp luật có liên quan.
3.1.7. Còn nhiều khoảng trống pháp luật quan trọng.
Đó là thiếu quy định về: (i) hợp đồng tiêu dùng; (ii) đánh giá tính công bằng của các điều
khoản trong hợp đồng tiêu dùng; (iii) hệ quả pháp lý của việc thực hiện các hành vi vi phạm
các quy định của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng (như hành vi quảng cáo gian dối, lạm dụng
vị trí ưu thế v.v ) đối với giao dịch giữa thương nhân với người tiêu dùng (tức là việc vi phạm
đó có ảnh hưởng gì tới giá trị hợp đồng giữa người tiêu dùng và thương nhân, liệu nếu một
thương nhân có hành vi quảng cáo gian dối thì người tiêu dùng đã mua hàng của thương
nhân đó đương nhiên có quyền trả lại hàng, đòi tiền, đòi bồi thường thiệt hại hay không…);
(iv) giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật bảo vệ người tiêu dùng với các chế định pháp luật
khác có liên quan; (v) tín dụng tiêu dùng trong quan hệ mua bán hàng hoá trả chậm, trả dần;
(vi) các điều khoản cụ thể cần phải có trong các hợp đồng tiêu dùng giữa thương nhân với
người tiêu dùng; (vii) quy định về tính liên thông giữa việc áp dụng các biện pháp xử phạt vi

được thành lập (từ năm 2005 trở lại đây) với vị trí, chức năng, quyền hạn còn khá khiêm tốn.
Lực lượng cán bộ làm công tác chuyên trách cho Ban Bảo vệ người tiêu dùng - Cục Quản lý
cạnh tranh còn thiếu và còn bất cập cả về số lượng và chất lượng.
Lực lượng thanh tra chuyên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm (từ trung ương tới địa
phương) chưa được thiết lập.
Vai trò của chính quyền cấp cơ sở trong công tác bảo vệ người tiêu dùng nói chung và trong
công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm nói riêng còn chưa được phát huy. Lực lượng
cán bộ chuyên trách làm công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hầu như chưa có, hoặc
quá mỏng. Vì vậy, mức độ triển khai pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở cấp cơ sở yếu.
Sự phối, kết hợp giữa các cơ quan hữu quan trong công tác bảo vệ người tiêu dùng (ngoại
trừ việc thành lập các đoàn thanh tra, kiểm tra liên ngành) còn chưa hiệu quả.
Sự tham gia của Toà án đối với công tác bảo vệ người tiêu dùng ở nước ta còn hạn chế.
Người tiêu dùng chưa tích cực trong việc tiến hành khởi kiện không phải vì pháp luật chưa
quy định, mà là vì các lý do sau:
Thứ nhất, pháp luật nước ta chỉ cho phép người nào bị thiệt hại trực tiếp từ hành vi vi phạm
pháp luật của người khác thì mới được quyền đứng ra khởi kiện người có hành vi vi phạm đó.
Điều kiện trình tự, thủ tục khởi kiện rắc rối và mất thời gian, đồng thời phải bỏ ra các chi phí
có thể sẽ lớn hơn so với khoản bồi thường mà người khởi kiện nhận được (nếu thắng kiện),
cùng với nét văn hoá ngại kiện tụng của người Việt Nam, người tiêu dùng rất ít động lực để
khởi kiện.
Thứ hai, pháp luật nước ta chưa quy định rõ ai sẽ là người bị kiện trong chuỗi phân phối
hàng hoá từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng.
Thứ ba, việc pháp luật quy định muốn khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí, điều này khiến
cho người tiêu dùng ngại đưa vụ việc ra Toà án giải quyết.
Thứ tư, người tiêu dùng khi mua một số sản phẩm hàng hoá, không có thói quen giữ lại các
hoá đơn, chứng từ cần thiết. Vì thế, khi vụ việc xảy ra, người tiêu dùng gặp khó khăn trong
việc thu thập các loại chứng cứ để chứng minh mình đã mua và đã tiêu dùng loại sản phẩm
không an toàn, gây thiệt hại cho bản thân mình.
Thứ năm, để kết luận sản phẩm có chứa độc tố, hoặc có ảnh hưởng đến người tiêu dùng
phải qua quy trình kiểm tra, giám định nghiêm ngặt mới phát hiện được; nhưng hệ thống kiểm

cộng đồng châu Âu và một số quốc gia có liên quan khác.
1. Vài nét về tình hình bảo vệ người tiêu dùng trên thế giới
Trên thế giới, Chính phủ các nước đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng, tôn trọng các quyền của người tiêu dùng, chống lại sự lạm dụng
của những nhà sản xuất kinh doanh và những bất công trong xã hội. Chính sách bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng thường được coi là một trong những ưu tiên trong chương trình
nghị sự của các quốc gia. Các nước thường ban hành bộ luật hoặc đạo luật riêng về bảo vệ
người tiêu dùng. Trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng thường do một cơ quan làm đầu mối và
một số cơ quan có liên quan phối hợp thực hiện. Ở một số nước, cơ quan bảo vệ người tiêu
dùng là cơ quan ngang bộ, ví dụ như Bộ các vấn đề người tiêu dùng của New Zealand, Uỷ
ban Cạnh tranh và Người tiêu dùng Australia, Bộ Thương mại nội địa và Các vấn đề người
tiêu dùng của Malaysia… Cơ quan bảo vệ người tiêu dùng của nhiều nước khác hoặc là đơn
vị thuộc Bộ hoặc là đơn vị thuộc cơ quan tiêu chuẩn, chất lượng, thực phẩm, y tế…
Đa số các cơ quan bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên thế giới đều nhận thấy rằng ưu
tiên hàng đầu trong công tác bảo vệ người tiêu dùng là mục tiêu nâng cao nhận thức của
người tiêu dùng, của doanh nghiệp. Đặc biệt là việc nâng cao nhận thức về các quyền và
trách nhiệm, trang bị thông tin cần thiết về việc mua bán các hàng hóa, dịch vụ cụ thể, thông
tin về các cơ quan và cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo. Các nước cũng đều chú trọng việc
đưa ra công luận những trường hợp giải quyết khiếu nại điển hình thông qua đó một mặt
trang bị hiểu biết của người tiêu dùng về quyền khiếu nại, cơ chế, biện pháp giải quyết khiếu
nại: mặt khác, cảnh tỉnh các doanh nghiệp đang hoặc có ý định vi phạm pháp luật bảo vệ
người tiêu dùng. Nhiều nước trên thế giới đã đưa các nội dung giáo dục về tiêu dùng vào
chương trình ở các cấp học, đặc biệt là các nội dung liên quan đến tiêu dùng tiết kiệm, bền
vững.
Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nguời tiêu dùng cũng là một trong những hoạt động
chính của các cơ quan bảo vệ người tiêu dùng. Kinh nghiệm các nước cho thấy khi nhận đơn
khiếu nại của người tiêu dùng liên quan đến hàng hóa, dịch vụ do mình cung cấp, nhiều
doanh nghiệp chưa có biện pháp xử lý và bồi thường thiệt hại một cách thỏa đáng và kịp thời.
Trong những trường hợp như vậy, người tiêu dùng thường gửi khiếu nại tới Văn phòng khiếu
nại của người tiêu dùng, hoặc cơ quan quản lý nhà nước có liên quan yêu cầu giải quyết. Khi

2.1. Tổ chức Quốc tế người tiêu dùng (CI)
Tổ chức Quốc tế Người tiêu dùng được thành lập bởi một số tổ chức bảo vệ người tiêu
dùng quốc gia. Tên gọi lúc đó của tổ chức này là Liên hiệp các Tổ chức Người tiêu dùng quốc
tế (International Organisation of Consumer Unions- gọi tắt là IOCU). Năm 1994, Đại hội Thế
giới của Liên hiệp các Tổ chức Người tiêu dùng quốc tế họp ở Montpellier (Pháp) quyết định
đổi tên tổ chức thành Quốc tế Người tiêu dùng (Consumers International, gọi tắt là CI).
Nhiệm vụ chính của CI là tạo lập một phong trào người tiêu dùng trên thế giới đủ lớn mạnh
để bảo vệ tốt hơn nữa quyền lợi của người tiêu dùng, đồng thời củng cố ảnh hưởng của họ ở
mọi nơi trên thế giới. CI nỗ lực cổ vũ cho một xã hội công bằng, trung thực thông qua việc bảo
vệ quyền của mọi người tiêu dùng, nhất là những người tiêu dùng nghèo, người bị gạt ra
ngoài lề xã hội và những đối tượng bị thiệt thòi, bằng các hoạt động chính như: (1) Hỗ trợ và
tăng cường năng lực cho các tổ chức thành viên và phong trào người tiêu dùng nói chung; (2)
Đấu tranh ở phạm vi quốc tế cho những chính sách có liên quan đến người tiêu dùng.
Trong việc bảo vệ người tiêu dùng, ngoài việc đưa vấn đề người tiêu dùng thành một hoạt
động có tầm cỡ quốc tế, CI còn đặc biệt quan tâm đến các lĩnh vực sau đây:
- Công tác tiêu chuẩn hoá: chủ yếu trong các tiêu chuẩn về an toàn cho xe ô tô, thiết bị điện,
thực phẩm CI đại diện cho người tiêu dùng trong nhiều Uỷ ban tiêu chuẩn hoá quốc tế như
Tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO), Uỷ ban Kỹ thuật điện quốc tế (IEC), Uỷ ban Tiêu
chuẩn hóa thực phẩm (CODEX)…
- Chính sách về lương thực, thực phẩm: CI tích cực cổ vũ cho việc dán nhãn lương thực,
thực phẩm nhằm cung cấp những thông tin đầy đủ và trung thực cho người tiêu dùng (nhất là
thực phẩm chuyển gien); đề nghị Chính phủ các nước quy định mức độ dư lượng tối đa của
một số chất độc, gây ô nhiễm thực phẩm như dư lượng thuốc trừ sâu, kháng sinh có trong
thực phẩm; đề nghị các Uỷ ban Codex quốc gia phải có đại diện của người tiêu dùng.
- Đề nghị Liên Hợp Quốc ban hành một danh mục các sản phẩm bị cấm, các sản phẩm bị
hạn chế nghiêm ngặt, hoặc thu hồi khỏi thị trường. Nhiều nước đã dùng bản danh mục này để
tạo ra một hệ thống khống chế và kiểm soát các sản phẩm độc hại ở nước mình.
- Xây dựng Luật bảo vệ người tiêu dùng mẫu. Dùng bản hướng dẫn bảo vệ người tiêu dùng
của Liên hiệp quốc làm điểm xuất phát, CI đã phát triển một bản Luật bảo vệ người tiêu dùng
mẫu cho Châu Mỹ La tinh, Nam Thái Bình Dương và Châu Phi. Bản luật mẫu này đã được

người tiêu dùng có thể tham gia vào việc hoạch định chính sách và giám sát việc điều hành
các dịch vụ cơ bản, nhờ đó mà nâng cao được chất lượng, hạ giá cung ứng dịch vụ công
cộng, làm cho việc cung ứng được minh bạch và trung thực hơn.
- Trách nhiệm xã hội của nhà sản xuất, kinh doanh. CI chú trọng giúp đỡ các nước thành
viên thành lập các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng, xây dựng thành những tổ chức lớn mạnh
để có thể có tiếng nói mạnh mẽ trong việc hoạch định các chính sách, vì lợi ích của người tiêu
dùng cả ở phạm vi quốc gia và quốc tế. CI phát triển nhiều chương trình huấn luyện, giúp đỡ
về tài chính, về kỹ thuật, về thông tin, trao đổi các chương trình và liên kết hành động nhằm
nâng cao hiểu biết và kỹ năng hoạt động của các nước thành viên.
2.2. Hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng
Năm 1985, cộng đồng quốc tế đã đạt được sự đồng thuận về việc khẳng định các quyền cơ
bản của người tiêu dùng, thể hiện trong Bản hướng dẫn của Liên Hợp quốc về bảo vệ người
tiêu dùng năm 1985. Bản hướng dẫn cung cấp một khuôn khổ cho các Chính phủ, đặc biệt là
ở các nước đang phát triển, trong việc hoạch định các chính sách và luật pháp bảo vệ người
tiêu dùng.
Bản hướng dẫn bảo vệ người tiêu dùng đưa ra những định hướng cơ bản giúp các nước
thực hiện và duy trì đầy đủ việc bảo vệ người dân của mình với tư cách là người tiêu dùng;
khuyến khích việc nâng cao phẩm chất đạo đức cho những người sản xuất, phân phối hàng
hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng; tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức sản xuất và phân
phối đáp ứng được những nhu cầu và nguyện vọng của người tiêu dùng. Bản hướng dẫn
cũng khuyến khích sự phát triển của cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho người tiêu dùng có
nhiều sự lựa chọn hơn với giá cả thấp hơn, khuyến khích tiêu dùng bền vững đồng thời đẩy
mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng.
Bản hướng dẫn về bảo vệ người tiêu dùng hướng tới sự bảo vệ người tiêu dùng tránh được
những nguy hiểm đối với sức khỏe; đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng; nâng cao và bảo
vệ được các quyền lợi kinh tế cho người tiêu dùng.
Cùng với xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá, nhiều quốc gia bắt đầu nhận thấy sự cần
thiết của việc thiết lập một cơ chế bảo vệ người tiêu dùng ở cấp khu vực. Dưới đây là một vài
ví dụ tiêu biểu về tổ chức khu vực về bảo vệ người tiêu dùng:
- Ủy ban của OECD về chính sách người tiêu dùng (OECD CPP): Ủy ban này được thành

Nam Á (SEA-CC). Hiện nay các cuộc họp đang được luân phiên tổ chức tại các quốc gia
Đông Nam Á nhằm thúc đẩy tiến trình thành lập các tổ chức này.
+ Ủy ban hợp tác về bảo vệ người tiêu dùng ASEAN (ACCCP) Uỷ ban này có trách nhiệm
hỗ trợ phát triển và triển khai cơ chế và các chương trình bảo vệ người tiêu dùng cho các
nước thành viên chưa thực hiện; nghiên cứu ảnh hưởng của khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA) đối với người tiêu dùng, dẫn dắt mạng lưới các cơ quan bảo vệ người tiêu dùng để
thúc đẩy trao đổi và chia sẻ thông tin; thúc đẩy hợp tác để hướng tới sự hoà hợp pháp luật
bảo vệ người tiêu dùng trong khu vực ASEAN; nâng cao năng lực cho các cán bộ làm công
tác bảo vệ người tiêu dùng thông qua việc tổ chức các khoá đào tạo trong khu vực.
+ Mạng lưới các cơ quan bảo vệ người tiêu dùng Đông Nam Á (SEA-CPAN): Việc thiết lập
một mạng lưới các cơ quan bảo vệ người tiêu dùng ASEAN liên kết chính thức với Ban thư ký
ASEAN sẽ cho phép chia sẻ thông tin về chính sách và pháp luật bảo vệ người tiêu dùng
trong các nước. Hai đề xuất quan trọng trong khuôn khổ của SEA-CPAN là cơ chế cảnh báo
sớm đối với các sản phẩm không an toàn và cơ chế giải quyết tranh chấp xuyên quốc gia.
+ Hội đồng người tiêu dùng (SEA-CC): Hội đồng người tiêu dùng có nhiệm vụ phát triển
thông tin người tiêu dùng và các chương trình giáo dục để xác định nhu cầu của người tiêu
dùng liên quan đến Hiệp định tự do thương mại ASEAN; thể hiện quan điểm của người tiêu
dùng trong tất cả các lĩnh vực liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng lên cơ quan bảo vệ người
tiêu dùng ASEAN đồng thời hỗ trợ phát triển tổ chức người tiêu dùng trong các nước thành
viên của ASEAN chưa có tổ chức này.
3. Kinh nghiệm xây dựng và vận hành cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng ở một
số quốc gia trên thế giới
Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc bảo vệ người tiêu dùng, chúng ta có thể rút
ra một số nhận xét sau đây:
- Bảo vệ người tiêu dùng hiện nay là một trong những ưu tiên trong chính sách phát triển
của mỗi quốc gia và nhận được sự quan tâm lớn của các tổ chức quốc tế.
- Chính sách bảo vệ người tiêu dùng đóng vai trò rất quan trọng trong chính sách phát triển
của quốc gia, góp phần hiện đại hoá nền kinh tế và cải thiện chất lượng sống của người dân;
góp phần tạo lập cơ chế thị trường thân thiện với người tiêu dùng. Từ đó, đảm bảo tính cạnh
tranh của khu vực doanh nghiệp và duy trì niềm tin/sự tín nhiệm của người tiêu dùng.

chính, hình sự, kỹ thuật, pháp lý) để bảo vệ người tiêu dùng.
- Một số quốc gia có nhiều nỗ lực cải cách hệ thống tư pháp theo hướng dễ tiếp cận hơn với
người tiêu dùng (bằng việc thiết lập ra các Toà án xét xử theo thủ tục rút gọn, hoặc bằng việc
công nhận cơ chế khởi kiện tập thể).
- Vai trò của các Hội bảo vệ người tiêu dùng thường khá được coi trọng. Sự vững mạnh của
các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng là một trong những yếu tố then chốt tạo nên sức mạnh
của người tiêu dùng. Chính vì thế, việc đảm bảo cho các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng vận
hành hiệu quả thông qua các biện pháp hỗ trợ cụ thể từ phía Nhà nước (như tài trợ cho các
sáng kiến bảo vệ người tiêu dùng do các tổ chức này đảm nhiệm, cung cấp thông tin, đào tạo
cán bộ ) là rất cần thiết.
- Với nỗ lực của các Chính phủ, Hội bảo vệ người tiêu dùng và của chính người tiêu dùng ở
nhiều quốc gia trên thế giới, cam kết bảo vệ người tiêu dùng đã được duy trì ở mức rất cao.
Chẳng hạn, ở Liên minh châu Âu, tất cả các nước thành viên đã đảm bảo được 10 yêu cầu
bảo vệ người tiêu dùng ở mức tối thiểu cụ thể như sau: (1) Người tiêu dùng được tự do mua
thứ cần mua, tại nơi nào mình muốn (quyền lựa chọn); (2) Nếu hàng mua được không mang
vận hành như mong muốn, người tiêu dùng được quyền đổi, trả lại; (3) Các loại hàng thực
phẩm và tiêu dùng đều phải đáp ứng độ an toàn ở mức cao; (4) Người tiêu dùng được thông
tin đầy đủ về những thứ mình ăn uống (ví dụ: khả năng gây dị ứng, khả năng gây béo phì,
lượng calo v.v ); (5) Hợp đồng tiêu dùng phải công bằng đối với người tiêu dùng; (6) Trong
một số trường hợp nhất định, người tiêu dùng có quyền đổi ý định mà không cần sự đồng ý
của phía người bán; (7) Người tiêu dùng dễ so sánh giá hàng hoá hơn; (8) Người tiêu dùng
không thể bị gây nhầm lẫn; (9) Khi người tiêu dùng đi du lịch, người tiêu dùng được bảo vệ ở
mức cao; (10) Các tranh chấp có yếu tố xuyên quốc gia cũng mang lại khả năng đền bù hiệu
quả
5
.
IV. KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở NƯỚC TA
1. Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Ban
chủ nhiệm đề tài và các cộng tác viên đưa ra một số đề xuất, kiến nghị sau:

người tiêu dùng trong mối tương quan với các đạo luật điều chỉnh từng loại thị trường, từng
lĩnh vực kinh doanh nhất định. Điều này có nghĩa rằng trong mối tương quan giữa Luật bảo vệ
người tiêu dùng với các đạo luật điều chỉnh từng lĩnh vực kinh doanh nhất định (như Luật các
tổ chức tín dụng, Luật bảo hiểm, Luật du lịch, Luật dược, Luật điện lực ), Luật bảo vệ người
tiêu dùng là đạo luật chung còn các đạo luật điều chỉnh các lĩnh vực cụ thể sẽ là đạo luật
chuyên ngành. Trường hợp đạo luật chuyên ngành có quy định khác thì sẽ áp dụng quy định
của đạo luật chuyên ngành. Trường hợp đạo luật chuyên ngành không quy định mà đạo luật
chung có quy định thì sẽ áp dụng quy định của đạo luật chung.
Về ngôn ngữ, cần sử dụng ngôn ngữ phổ thông, các từ ngữ sử dụng cần đơn giản, đơn
nghĩa, mang thông điệp rõ ràng, dễ hiểu. Về kỹ thuật, cần quy định càng chi tiết càng tốt, nhất
là các trường hợp phát sinh các quyền năng đặc thù của người tiêu dùng.
Một số chế định cụ thể trong Luật bảo vệ người tiêu dùng:
- Luật bảo vệ người tiêu dùng nên mô tả chi tiết các dạng hành vi gây nhầm lẫn cho người
tiêu dùng cần bị cấm như: thông tin gian dối về vai trò, vị thế của tổ chức, cá nhân sản xuất,
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; thông tin gian dối về hàng hoá, dịch vụ mà tổ chức, cá nhân
này cung ứng và các hành vi gây nhầm lẫn khác cho người tiêu dùng. Trong trường hợp
người tiêu dùng cáo buộc rằng tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh đã có hành vi gian dối,
thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh bị cáo buộc đó.
Trong trường hợp tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh có các hành vi gian dối đối với
người tiêu dùng kể trên thì hợp đồng giữa tổ chức, cá nhân đó với người tiêu dùng đã được
giao kết trước đó bị vô hiệu, người tiêu dùng có quyền đòi lại các khoản tiền đã thanh toán
cho tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh mà không phải trả lại hàng hoá, dịch vụ đã mua.
- Luật bảo vệ người tiêu dùng có thể quy định: trường hợp người tiêu dùng được cung ứng
hàng hoá, dịch vụ mà bản thân người tiêu dùng không yêu cầu thì người tiêu dùng có toàn
quyền sử dụng, hoặc định đoạt hàng hoá, dịch vụ đó mà không phải chịu bất cứ trách nhiệm
pháp lý nào trước người cung ứng hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp người tiêu dùng sau đó
có văn bản chấp thuận việc cung ứng hàng hoá, dịch vụ đó.
- Luật bảo vệ người tiêu dùng nên có quy định về ngôn ngữ trong các hợp đồng tiêu dùng
có sử dụng văn bản.
- Quy định đánh giá điều khoản bất công trong các hợp đồng tiêu dùng. Luật bảo vệ người

phải bồi thường bất cứ khoản chi phí nào.
- Quy định về hợp đồng bán hàng từ xa. Luật bảo vệ người tiêu dùng nên quy định rõ trong
một thời hạn nhất định sau khi đã giao kết hợp đồng, người bán phải gửi cho người tiêu dùng
một bản hợp đồng chính thức để người tiêu dùng biết và kiểm tra quá trình thực hiện hợp
đồng của các bên. Nếu người tiêu dùng không nhận được bản hợp đồng trong thời hạn đó,
người tiêu dùng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không phải bồi thường, bồi
hoàn cho người bán. Luật cũng cần quy định chi tiết trường hợp người tiêu dùng chấm dứt
hợp đồng mà người tiêu dùng đã trả tiền cho người bán, thì trong một thời hạn nhất định,
người bán phải trả lại khoản tiền đã nhận của người tiêu dùng.
- Khi nhà sản xuất, phân phối bán sản phẩm có khuyết tật cho người tiêu dùng và vì sự
khuyết tật ấy mà trong quá trình sử dụng người tiêu dùng phải chịu thiệt hại thì nhà sản xuất,
phân phối sản phẩm phải chịu bồi thường toàn bộ thiệt hại mà người tiêu dùng đã phải gánh
chịu ngay cả khi nhà sản xuất, phân phối không có lỗi trong việc gây ra khuyết tật ấy. Quy tắc
này được coi là ngoại lệ của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong các vụ kiện
đòi bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra, trách nhiệm chứng minh của người
tiêu dùng được giảm thiểu, theo đó người tiêu dùng chỉ phải chứng minh 3 nội dung là (1) có
thiệt hại xảy ra, (2) sản phẩm có khuyết tật và (3) có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại với
khuyết tật của sản phẩm. Người tiêu dùng không cần phải chứng minh nhà sản xuất, phân
phối có lỗi trong việc gây ra khuyết tật của sản phẩm.
- Để bảo đảm tốt hơn quyền được thông tin của người tiêu dùng, Luật bảo vệ người tiêu
dùng nên quy định trách nhiệm bảo đảm cung cấp các loại linh kiện, phụ tùng thay thế của
nhà sản xuất, hoặc người phân phối hàng hoá. Trường hợp nhà sản xuất hoặc người phân
phối không thể cung cấp các linh kiện, phụ tùng như vậy khi bán hàng phải có trách nhiệm
thông báo rõ tình trạng này cho người tiêu dùng để họ tự cân nhắc và quyết định. Đây cũng là
thông lệ trong pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở nhiều quốc gia trên thế giới.
- Luật bảo vệ người tiêu dùng nên tăng cường trách nhiệm bảo hành sản phẩm của các nhà
sản xuất, phân phối sản phẩm.
- Quy định về nhãn hàng hoá nên được quy định trong Luật bảo vệ người tiêu dùng nhằm
đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống các công cụ bảo vệ người tiêu dùng.
Ngoài ra các tác giả cũng có những phân tích để xác định vị trí, chức năng, sứ mệnh mối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status