ƯỜ
NG ĐẠ
Ơ
TR
TRƯỜ
ƯỜNG
ĐẠII HỌC CẦN TH
THƠ
ẬT
KHOA LU
LUẬ
ẬT TH
ƯƠ
NG MẠI
BỘ MÔN LU
LUẬ
THƯƠ
ƯƠNG
����
ẬN VĂN TỐT NGHI
ỆP CỬ NH
ÂN LU
ẬT
LU
LUẬ
NGHIỆ
NHÂ
LUẬ
ÊN KH
Thịị Thanh Nh
Nhà
MSSV: 5115826
ật Th
ươ
ng mại 1- K37
Lớp: Lu
Luậ
Thươ
ương
ơ, th
Cần Th
Thơ
thááng 11/2014
Đị
Địaa vị ph
phááp lý của công ty hợp danh
LỜI CẢM ƠN
���
Trải qua những tháng năm được học tập và rèn luyện tại trường
Đại học Cần Thơ, giờ đây là một sinh viên sắp ra trường, em xin chân
thành gửi lời cám ơn đến.
Trước hết, con xin gửi lời tri an vô vàng đến Cha, Mẹ và những
người thân trong gia đình đã luôn sẵn sàng ủng hộ tinh thần cũng như tạo
mọi điều kiện tốt nhất để con có thể vững tâm thực hiện ước mơ theo học
tại trường Đại học Cần Thơ của con.
phááp lý của công ty hợp danh
MỤC LỤC
U…………………………………………………………………
...1
LỜI NÓI ĐẦ
ĐẦU
…………………………………………………………………...1
1
1. Lý do ch
chọọn đề tài…………………………………………………………
…………………………………………………………1
ch nghi
.2
2. Mục đí
đích
nghiêên cứu……………………………………………………
…………………………………………………….2
...2
3. Ph
Phạạm vi nghi
nghiêên cứu……………………………………………………
……………………………………………………...2
ươ
ng ph
..2
4. Ph
Phươ
ương
phááp nghi
………………………………
....
1.2. Kh
Kháái qu
quáát chung về công ty hợp danh
danh………………………………
………………………………....
....9
1.2.1. Khái niệm về công ty hợp danh............................................................9
1.2.2. Đặc điểm pháp lý của công ty hợp danh............................................12
1.2.3. Phân loại công ty hợp danh...............................................................16
1.2.4. Vai trò của công ty hợp danh.............................................................17
1.2.5. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty hợp danh………..........18
1.2.5.1. Sự ra đời của công ty hợp danh trên thế giới................................18
1.2.5.2. Sự ra đời của công ty hợp danh ở Việt Nam................................21
1.2.6. Pháp luật điều chỉnh về công ty hợp danh.........................................22
ƯƠ
NG 2. NH
ỮNG QUY ĐỊ
NH CỦA PH
ÁP LU
ẬT VỀ CÔNG TY
CH
CHƯƠ
ƯƠNG
NHỮ
ĐỊNH
PHÁ
2.1.1.2. Quyền của thành viên hợp danh………………………………...28
2.1.1.3. Nghĩa vụ của thành viên hợp danh………………………….......33
2.1.2. Quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn……………………………36
2.1.2.1. Điều kiện trở thành thành viên góp vốn ………………………..36
2.1.2.2. Quyền của thành viên góp vốn …………………………............38
2.1.2.3. Nghĩa vụ của thành viên góp vốn……………………………….39
ức trong công ty hợp danh
……………………………
...40
2.2. Cơ cấu tổ ch
chứ
danh……………………………
……………………………...40
2.1.1. Hội đồng thành viên……………………………………………………....40
2.2.2. Giám đốc công ty…………………………………………………............44
………………………
...
….47
2.3. Vốn và tài ch
chíính trong công ty hợp danh
danh………………………
………………………...
...…
2.3.1. Góp vốn vào công ty……………………………………………………..47
2.3.2. Vấn đề huyển nhượng vốn, rút vốn……………………………………..51
2.3.3. Vấn đề huy động vốn ………………………………………………….…52
2.2.4. Tài sản của công ty hợp danh…………………………………………..53
ạt độ
ng ch
ủ yếu tồn tại dướ
3.1. Nh
Nhữ
ngà
nghềề ho
hoạ
động
chủ
ướii hình
ức công ty hợp danh tại Vi
…………………………………………
55
th
thứ
Việệt Nam
Nam…………………………………………
…………………………………………55
ực ti
ững quy đị
nh của ph
áp lu
ật về công ty hợp
3.2. Th
Thự
tiễễn áp dụng nh
nhữ
định
phá
ẬN……………………………………………………………
.65
PH
PHẦ
LUẬ
…………………………………………………………….65
ỆU THAM KH
ẢO
DANH MỤC TÀI LI
LIỆ
KHẢ
GVHD: Đoàn Nguy
Nguyễễn Minh Thu
Thuậận
SVTH: Hu
Huỳỳnh Th
Thịị Thanh Nh
Nhààn
Đị
Địaa vị ph
phááp lý của công ty hợp danh
U
LỜI NÓI ĐẦ
ĐẦU
1. Lý do ch
áp lý của
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài "Đị
Địa
phá
công ty hợp danh" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình, với mong
muốn làm sáng tỏ những đặc điểm, bản chất pháp lý của loại hình công ty này, từ
đó đưa ra những kiến nghị nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật
doanh nghiệp nói chung và công ty hợp danh nói riêng.
GVHD: Đoàn Nguy
Nguyễễn Minh Thu
Thuậận
SVTH: Hu
Huỳỳnh Th
Thịị Thanh Nh
Nhààn
1
Đị
Địaa vị ph
phááp lý của công ty hợp danh
ch nghi
2. Mục đí
đích
nghiêên cứu
Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, người viết với mục tiêu thông qua
quá trình thực hiện đề tài sẽ tìm hiểu phân tích các quy định của pháp luật hiện
chúng như: sách, báo, tạp chí chuyên ngành, internet và sưu tập tài liệu của các
nhà nghiên cứu và những vấn đề có liên quan nhằm bổ sung kiến thức về mặt lý
luận và thực tiễn áp dụng pháp luật để tìm ra những vướng mắc trong việc áp
dụng pháp luật ở lĩnh vực nghiên cứu.
5. Kết cấu đề tài lu
luậận văn
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì
nội dụng của luận văn được kết cấu gồm ba chương như sau:
Ch
ươ
ng 1: Lý lu
Chươ
ương
luậận chung về doanh nghi
nghiệệp và công ty hợp danh.
Trong chương này người viết tập trung những vấn đề lý luận chung về
doanh nghiệp và công ty hợp danh. Cụ thể, người viết đã phân tích về khái niệm
GVHD: Đoàn Nguy
Nguyễễn Minh Thu
Thuậận
SVTH: Hu
Huỳỳnh Th
Thịị Thanh Nh
Nhààn
2
Đị
ươ
ng 3: Th
ực ti
ng ho
ững quy đị
nh của ph
Ch
Chươ
ương
Thự
tiễễn và hướ
ướng
hoààn thi
thiệện nh
nhữ
định
phááp
lu
luậật về công ty hợp danh.
Trong chương này người viết tìm hiểu về những lĩnh vực, ngành nghề
hoạt động chủ yếu tồn tại dưới hình thức công ty hợp danh tại Việt Nam. Sau đó,
tìm hiểu thực tiễn áp dụng những quy định pháp luật về công ty hợp danh, và rút
ra những điểm bất cập khi áp dụng những quy định của pháp luật về công ty hợp
danh. Qua đó, người viết đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý
của công ty hợp danh ở Việt Nam.
Với những hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn, nội dung luận
văn khó tránh khỏi những sai sót. Vì vậy, người viết rất mong được sự đóng góp
ý kiến quý báu từ quý thầy, cô và các bạn sinh viên để luận văn hoàn thiện hơn.
niệệm doanh nghi
nghiệệp
Ở nước ta trong mỗi thời kỳ khác nhau, tùy thuộc vào tình hình kinh tế
của mỗi nước mà pháp luật quy định hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh thích
hợp. Đối với Việt Nam, pháp luật là công cụ để Nhà nước tạo lập và vận hành
nền kinh tế thị trường thông qua việc xác định mô hình cơ bản là tư liệu sản xuất,
quy định địa vị pháp lý của mỗi chủ thể kinh doanh để phù hợp với điều kiện
kinh tế.
Mục đích chính sách kinh tế của Đảng ta là phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa làm cho dân giàu nước mạnh, đáp
ứng ngày càng tốt nhu cầu về vật chất, tinh thần cho nhân dân trên cơ sở phát huy
mọi lực lượng sảm xuất, mọi tiểm năng của các thành phần kinh tế, thúc đẩy cơ
sở vật chất kỹ thuật mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật giao lưu với thế
giới.
Các thành phần kinh tế đều là các bộ phận cấu thành trong nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tổ chức cá nhân thuộc các thành phần
kinh tế được phép kinh doanh trong nghững ngành nghề mà pháp luật không cấm.
Cùng phát triển lâu dài, hợp tác bình đẳng, cạnh tranh theo pháp luật.
Với chính sách kinh tế Nhà nước có nhiều chủ thể tham gia thực hiện hoạt
động kinh doanh trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, nhóm chủ thể
kinh doanh là đối tượng điều chỉnh chủ yếu của pháp luật kinh tế đó chính là
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.
Theo phương diện pháp lý, khái niệm doanh nghiệp lần đầu tiên xuất hiện
trong Luật công ty năm 1990, tại khoản 2 Điều 3 quy định như sau: “Doanh
nghiệp là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện
các hoạt động kinh doanh” và kinh doanh được định nghĩa: “ Kinh doanh là việc
thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích
sinh lợi”.1 Theo quy định này ta có thể hiểu mọi đơn vị kinh doanh được xem là
doanh nghiệp, tức ở đây không cần xét đến điều kiện, hình thức thành lập mà chủ
không khác gì so với Luật Doanh nghiệp năm 1999, nhưng do kế thừa những
quy định hợp lý, dựa trên cơ sở đó tại Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm
2005 định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ
sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
1.2.2. Đặ
Đặcc điểm của doanh nghi
nghiệệp
Trên cơ sở khái niệm doanh nghiệp theo quy định tại Điều 4 Luật Doanh
nghiệp năm 2005, ta có thể rút ra một số đặc điểm sau:
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế: có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Đó chính là những đặc điểm cơ bản để phân biệt với hộ kinh doanh hoặc với
các cá nhân, tổ chức khác không phải là tổ chức kinh tế như: cơ quan nhà nước,
lực lượng vũ trang nhân dân, tổ chức xã hội.
ứ nh
ức kinh tế đượ
ành lập một cách hợp
Th
Thứ
nhấất, doanh nghi
nghiệệp là tổ ch
chứ
đượcc th
thà
áp
ph
phá
Tổ chức được hiểu theo nghĩa thông thường là bao gồm một nhóm người
được sắp xếp theo một cơ cấu nhất định để hoạt động vì một lợi ích hoặc một mục
doanh nghiệp.
ứ hai, doanh nghi
ải có tên ri
Th
Thứ
nghiệệp ph
phả
riêêng
Tên riêng của doanh nghiệp là dấu hiệu đầu tiên để xác định tư cách chủ thể
độc lập của doanh nghiệp trên thương trường. Tên doanh nghiệp gắn với quá trình
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tên doanh nghiệp là cơ sở để Nhà nước
thực hiện việc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, cũng là cơ sở để phân biệt
các chủ thể trong quan hệ giữa các doanh nghiệp và với người tiêu dùng. Tên
doanh nghiệp được ghi trong con dấu của doanh nghiệp và mỗi chủ thể kinh doanh
độc lập với tư cách là doanh nghiệp, dù hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực nào
doanh nghiệp đều được cấp và sử dụng một con dấu. Tên doanh nghiệp phải tuân
theo những quy định của pháp luật về đặt tên doanh nghiệp.
ứ ba, doanh nghi
ải có tài sản
Th
Thứ
nghiệệp ph
phả
Tài sản của doanh nghiệp hình thành từ vốn góp của các tổ chức, cá nhân
đầu tư vào doanh nghiệp, vốn do doanh nghiệp tạo lập thêm trong quá trình hoạt
động kinh doanh của mình. Mục đích chủ yếu và trước tiên của doanh nghiệp là
hoạt động kinh doanh với những đặc trưng là đầu tư về tài sản và thu lợi tài sản.
Bởi vậy, điều kiện tiên quyết và cũng là nét đặc trưng lớn của doanh nghiệp là phải
có một mức độ tài sản nhất định. Tài sản là điều kiện hoạt động và cũng là mục
đích hoạt động của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, doanh
Thịị Thanh Nh
Nhààn
6
Đị
Địaa vị ph
phááp lý của công ty hợp danh
phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương; số điện thoại, số fax và thư điện tử (nếu có).
ứ năm, mục ti
ủ yếu của doanh nghi
ằm mục ti
Th
Thứ
tiêêu ch
chủ
nghiệệp là nh
nhằ
tiêêu kinh
doanh thu lợi nhu
nhuậận
Mục tiêu thành lập doanh nghiệp là để trực tiếp thực hiện các hoạt động
kinh doanh. Nói cách khác, doanh nghiệp luôn là một tổ chức kinh tế hoạt động vì
mục đích lợi nhuận. Tuy nhiên trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp có thể
thực hiện các hoạt động nhằm mục đích xã hội khác, không vì mục đích lợi nhuận
như các hoạt động từ thiện, các hoạt động công ích,…
1.2.3. Ph
Phâân lo
loạại doanh nghi
Thuậận
SVTH: Hu
Huỳỳnh Th
Thịị Thanh Nh
Nhààn
7
Đị
Địaa vị ph
phááp lý của công ty hợp danh
đăng ký kinh doanh. Trong quá trình hoạt động công ty không được phát hành
bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn.4
ành vi
� Công ty tr
tráách nhi
nhiệệm hữu hạn một th
thà
viêên
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ
chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty). Chủ
sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh và công ty không được quyền phát hành cổ phần.5
ành vi
ở lên
� Công ty tr
tráách nhi
Điều 130 Luật Doanh nghiệp năm 2005.
Điều 63 Luật Doanh nghiệp năm 2005.
6
Điều 38 Luật Doanh nghiệp năm 2005.
7
Điều 77 Luật Doanh nghiệp năm 2005.
5
GVHD: Đoàn Nguy
Nguyễễn Minh Thu
Thuậận
SVTH: Hu
Huỳỳnh Th
Thịị Thanh Nh
Nhààn
8
Đị
Địaa vị ph
phááp lý của công ty hợp danh
lập và quản lý công ty cổ phần cũng phức tạp hơn các loại hình công ty khác do
bị ràng buộc chặt chẽ bởi quy định của pháp luật, do số lượng các cổ đông có thể
rất lớn nên việc điều hành công ty rất phức tạp.
1.2. Kh
Kháái qu
quáát chung về công ty hợp danh
1.2.1. Kh
Kháái ni
chịu trách nhiệm vô hạn (gọi là thành viên nhận vốn), còn những thành viên khác
8
Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật thương mại – Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2006,
tr.115.
GVHD: Đoàn Nguy
Nguyễễn Minh Thu
Thuậận
SVTH: Hu
Huỳỳnh Th
Thịị Thanh Nh
Nhààn
9
Đị
Địaa vị ph
phááp lý của công ty hợp danh
chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong số vốn góp vào công ty (gọi là thành viên góp
vốn). Công ty hợp vốn đơn giản về cơ bản cũng giống công ty hợp danh, tuy nhiên
nó khác công ty hợp danh ở điểm sau: thành viên nhận vốn chịu trách nhiệm vô
hạn về mọi khoản nợ của công ty, có quyền đại diện cho công ty trong quan hệ đối
ngoại, thành viên góp vốn chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp
vào công ty và đồng thời không có quyền đại diện cho công ty trong các quan hệ
đối ngoại, họ chỉ có quyền trong quan hệ nội bộ của công ty. Sự ra đời của công ty
hợp vốn đơn giản đã đáp ứng được yêu cầu của các nhà kinh doanh khi họ không
muốn vào công ty hợp danh do tính chịu trách nhiệm vô hạn của tất cả các thành
viên.
SVTH: Hu
Huỳỳnh Th
Thịị Thanh Nh
Nhààn
10
Đị
Địaa vị ph
phááp lý của công ty hợp danh
Theo quan niệm của các nhà làm luật Mỹ thì “hợp danh là một sự liên kết
tự nguyện của ít nhất hai người trở lên nhằm thực hiện công việc kinh doanh như
những người đồng sở hữu, vì mục tiêu lợi nhuận”.10
Theo luật Singapore, hợp danh là thỏa thuận giữa những người tiến hành
kinh doanh nhằm thu lợi. Như vậy, mục đích lợi nhuận là tiêu chí cơ bản cho việc
xác định hợp danh. Số lượng thành viên tối thiểu của hợp danh theo luật Singapore
là 2 và tối đa là 20. Singapore không có loại hình hợp danh hữu hạn. Hợp danh
không là pháp nhân.11
� Khái niệm công ty hợp danh theo pháp luật Việt Nam
Khái niệm công ty hợp danh xuất hiện lần đầu tiên trong Luật Doanh
nghiệp năm 1999 ở Việt Nam. Để phù hợp hơn với những chuyển biến của nền
kinh tế thế giới, Luật doanh nghiệp năm 2005 ra đời với những quy định đã được
cụ thể hoá, và phát triển hơn những quy định trước đó.
Theo Luật doanh nghiệp năm 2005 quan niệm về công ty hợp danh có một
số điểm khác với cách hiểu truyền thống về công ty hợp danh. Theo đó, công ty
hợp danh được xác định là một doanh nghiệp 12, có những đặc điểm sau:13
• Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng
nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài
các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn.
Huỳỳnh Th
Thịị Thanh Nh
Nhààn
11
Đị
Địaa vị ph
phááp lý của công ty hợp danh
danh, một công ty hợp danh còn có thể có tổ chức hoặc cá nhân góp vốn và chỉ
chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào
công ty gọi là thành viên góp vốn.
1.2.2. Đặ
Đặcc điểm ph
phááp lý của công ty hợp danh
Công ty hợp danh cũng là một doanh nghiệp nên có đầy đủ những tính
chất và đặc điểm của một doanh nghiệp theo quy định tại Điều 4 của Luật Doanh
nghiệp năm 2005 như đã phân tích. Ngoài những tính chất và đặc điểm cơ bản của
một doanh nghiệp, công ty hợp danh còn có những đặc trưng riêng như sau:
ứ nh
Th
Thứ
nhấất, công ty hợp danh có hai loại thành viên, trong đó bắt buộc phải
có ít nhất hai thành viên hợp danh và có thể có thành viên góp vốn.
Theo điểm a, khoản 1 Điều 130 Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì công ty
hợp danh “phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng
nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh)”. Có
thể thấy thành viên hợp danh là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của công ty, một
công ty hợp danh muốn ra đời cần phải có ít nhất hai thành viên hợp danh và thành
viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về
Nguyễễn Minh Thu
Thuậận
SVTH: Hu
Huỳỳnh Th
Thịị Thanh Nh
Nhààn
12
Đị
Địaa vị ph
phááp lý của công ty hợp danh
Trong công ty hợp danh, thành viên hợp danh chịu trách nhiệm bằng toàn
bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty 15 và liên đới chịu trách nhiệm
thanh toán hết số nợ còn lại của công ty nếu tài sản của công ty không đủ để trang
trải số nợ của công ty.16 Như vậy, trách nhiệm tài sản của thành viên hợp danh đối
với các nghĩa vụ của công ty là trách nhiệm vô hạn và liên đới. Chịu trách nhiệm
vô hạn nghĩa là thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản
của mình hiện có hoặc sẽ có trong tương lai. Trách nhiệm liên đới được hiểu là
trách nhiệm liên đới của các thành viên hợp danh với nhau. Công ty hợp danh chịu
trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty bằng tài sản của công ty. Trong trường
hợp tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ đó thì thành viên hợp danh chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình, bao gồm cả tài sản đầu tư vào kinh
doanh và tài sản dân sự, và khi đó chủ nợ có quyền yêu cầu bất kỳ thành viên hợp
danh nào thanh toán các khoản nợ của công ty đối với chủ nợ. Sau đó, thành viên
hợp danh đã thanh toán nợ cho chủ nợ có quyền yêu cầu các thành viên hợp danh
khác thanh toán lại cho mình phần nợ đã thanh toán tương ứng với nghĩa vụ của
từng thành viên hợp danh. Tuy nhiên, pháp luật lại phân biệt tài sản của công ty
hợp danh và tài sản của chủ sở hữu công ty, vì thế công ty phải dùng toàn bộ số tài
SVTH: Hu
Huỳỳnh Th
Thịị Thanh Nh
Nhààn
13
Đị
Địaa vị ph
phááp lý của công ty hợp danh
viên hợp danh thực hiện một hành vi có thể xác lập nghĩa vụ cho công ty, nếu công
ty thua lỗ thì hành vi ấy có thể dẫn đến trách nhiệm trả nợ vô hạn và liên đới của
tất cả các thành viên hợp danh còn lại.
Tuy nhiên, các thành viên hợp danh có thể thỏa thuận hạn chế quyền đại
diện của một số thành viên. Và mọi hạn chế đối với thành viên hợp danh trong
thực hiện công việc kinh doanh hàng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với bên
thứ ba khi người đó được biết về hạn chế đó. Các thành viên hợp danh có thể cử ra
một thành viên hợp danh làm Chủ tịch Hội đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám
đốc hoặc Tổng giám đốc công ty và đại diện cho công ty trong quan hệ với cơ
quan nhà nước; đại diện cho công ty với tư cách là bị đơn hoặc nguyên đơn trong
các vụ kiện, tranh chấp thương mại hoặc các tranh chấp khác.18
ứ tư, công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy
Th
Thứ
chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Đây là một quy định khác với pháp luật của nhiều nước trên thế giới,
chẳng hạn trong pháp luật Singapore hợp danh không phải là pháp nhân.19 Luật
Doanh nghiệp năm 2005 cũng quy định khác với quy định trước đây trong Luật
công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp năm 1999. Cụ thể Luật công ty năm
1990 chỉ quy định hai loại hình công ty là công ty trách nhiệm hữu hạn và công
Thịị Thanh Nh
Nhààn
14
Đị
Địaa vị ph
phááp lý của công ty hợp danh
bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và nghĩa vụ của công ty. Khi
tài sản của công ty không đủ để thực hiện các nghĩa vụ và thanh toán các khoản nợ
thì thành viên hợp danh phải liên đới cùng nhau dùng tài sản của mình để thanh
toán các khoản nợ đó. Do đó, không có sự độc lập giữa tài sản của công ty với tài
sản của thành viên hợp danh. Nhưng, theo các nhà soạn thảo Luật Doanh nghiệp
thì công ty hợp danh có đầy đủ bốn đặc điểm của một pháp nhân. Trong công ty,
tài sản của công ty tách bạch với tài sản của các thành viên hợp danh. Khi các
thành viên hợp danh góp vốn vào công ty thì chuyển quyền sở hữu sang cho công
ty. Chính vì vậy cần phải thừa nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh nhằm
tạo sự bình đẳng cho loại hình doanh nghiệp này khi tham gia vào hoạt động kinh
doanh. Và một số quan điểm lại cho rằng công ty hợp danh không đáp ứng điều
kiện “ tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó” bởi vì nếu công ty đã sử dụng hết số tài
sản của công ty mà không trả hết nợ thì thành viên hợp danh phải liên đới chịu
trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của công ty. Như vậy, trách nhiệm của
công ty gắn với trách nhiệm của thành viên công ty. Vì thế, việc thừa nhận công ty
hợp danh có tư cách pháp nhân là không phù hợp với quy định Bộ luật dân sự.21
Tuy nhiên, với xu thế phát triển kinh tế của nước ta hiện nay thì việc quy
định công ty hợp danh có tư cách pháp nhân là một điểm tiến bộ của Luật Doanh
nghiệp năm 2005 so với Luật Doanh nghiệp năm 1999. Bởi vì, việc công nhận tư
cách pháp nhân của loại hình công ty này sẽ tạo điều kiện bình đẳng cho công ty
khi tham gia vào môi trường kinh doanh và cạnh tranh với các loại hình doanh
nghiệp khác. Bên cạnh đó, quy định này cũng tạo ra được nhiều sự lựa chọn về
Đị
Địaa vị ph
phááp lý của công ty hợp danh
vốn cổ phần của tổ chức phát hành. Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận
quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức
phát hành.
Với quy định này thì công ty hợp danh không được huy động vốn bằng
cách phát hành các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, v.v. Như vậy, công
ty hợp danh chỉ có thể tăng vốn điều lệ bằng cách tăng phần vốn góp của các
thành viên hoặc kết nạp thành viên mới, vay từ các tổ chức tín dụng hoặc các tổ
chức, cá nhân khác. Việc Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định công ty hợp
danh không được phát hành chứng khoán là do trong công ty hợp danh có thành
viên hợp danh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ
của công ty, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công
ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty nên tính rủi ro là rất cao. Vì vậy, việc
phát hành chứng khoán ra công chúng đối với công ty hợp danh là không khả thi.
Mặt khác, công ty hợp danh được thành lập dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau giữa
các thành viên hợp danh. Họ là chủ sở hữu chung của công ty và cùng nhau chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ của công ty. Đối
với cổ phiếu, người mua là người sở hữu cổ phần, trở thành cổ đông trong công
ty và họ đương nhiên trở thành chủ sở hữu công ty. Do đó, nếu quy định công ty
hợp danh được phát hành chứng khoán sẽ phá vỡ cấu trúc ban đầu của công ty.
1.2.3. Ph
Phâân lo
loạại công ty hợp danh
Từ việc xây dựng khái niệm công ty hợp danh dưới dạng liệt kê của Luật
Doanh nghiệp năm 2005, thì công ty hợp danh có thể được chia thành hai loại căn
cứ vào tính chất và chế độ trách nhiệm tài sản. Đó là: công ty hợp danh thông
thường và công ty hợp danh hữu hạn.
ứ nh
Đị
Địaa vị ph
phááp lý của công ty hợp danh
một thành viên góp vốn xuất hiện thì bản chất của công ty hợp danh sẽ trở thành
hợp danh không tuyệt đối.
Nếu như pháp luật các nước chỉ ghi nhận một loại hình công ty hợp danh
hay có sự tách bạch hai loại hình của nó, thì pháp luật Việt Nam đã đồng thời ghi
nhận sự tồn tại của cả hai loại hình là hợp danh thông thường và hợp danh hữu hạn
và được gọi dưới một tên chung là “công ty hợp danh”. Đó chính là điểm khác biệt
cơ bản giữa pháp luật Việt Nam so với pháp luật các nước trên thế giới. Có thể
thấy, khái niệm công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp năm của Việt Nam có
nội hàm của khái niệm công ty đối nhân theo pháp luật các nước. Với quy định về
công ty hợp danh, Luật Doanh nghiệp năm đã ghi nhận sự tồn tại của các công ty
đối nhân ở Việt Nam 22.
1.2.4. Vai tr
tròò của công ty hợp danh
Là một trong những loại hình công ty xuất hiện sớm nhất trong lịch sử,
bên cạnh vai trò chung như các công ty khác, công ty hợp danh còn có những vai
trò riêng khiến cho nó không thể thiếu được trong môi trường kinh doanh và vẫn
tiếp tục phát triển về số lượng cho đến ngày nay.
� Đối với nền kinh tế
Công ty hợp danh ra đời góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong
nước, tạo khả năng để phát huy các nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế. Không chỉ
đơn thuần tăng khả năng đầu tư vốn mà cả các nguồn lực khác đặc biệt là khả năng
hành nghề và khai thác trí tuệ, tạo ra các đảm bảo pháp lý cao hơn trong thị trường
cũng như đối với xã hội do chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp
danh.
Công ty hợp danh còn có vai trò góp phần giải phóng và phát triển sức
sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần
quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách và tham gia
năng chứ không thể cam kết theo kết quả hành nghề) nên công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty cổ phần dường như không thích hợp.
Sự ra đời của công ty hợp danh đã tạo cho nhà đầu tư thêm nhiều lựa
chọn hình thức đầu tư cho mình, đáp ứng được nhu cầu của những nhà đầu tư nhỏ,
mong muốn cùng liên kết chia sẻ với những người quen thân, anh em họ hàng
trong gia đình, dòng tộc, đồng nghiệp.
Do cơ cấu tổ chức của công ty gọn nhẹ, việc thành lập công ti khá đơn
giản nên thích hợp với việc tổ chức các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên phù hợp với
xu hướng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của thế giới.
1.2.5. Lịch sử hình th
thàành và ph
pháát tri
triểển của công ty hợp danh
1.2.5.1. Sự ra đời của công ty hợp danh trên thế giới
Về mặt lịch sử, mô hình hợp danh (partnership) đã hình thành từ rất lâu trên
thế giới, khởi thủy là hình thức liên kết kinh doanh giữa những thành viên trong
gia đình hoặc giữa những người quen biết nhau, cùng nhau hoạt động kinh doanh
dựa trên sự tin cậy và bình đẳng.23
Hợp danh trước hết là liên kết của hai hay nhiều người, luật pháp các nước
thường đề cao thỏa thuận giữa các thành viên. Hợp danh về nguyên tắc được thiết
lập nếu các thành viên đã thỏa thuận cách thức hùn vốn, tạo tài sản chung, chia
quyền điều hành và lỗ, lãi. Nói cách khác, khế ước giữa các bên đã xác lập nên hợp
danh, chứ không phải Giấy chứng nhận của cơ quan đăng ký kinh doanh. Với
những đặc thù như vậy pháp luật nhiều nước không đánh thuế thu nhập công ty đối
với hợp danh, từng thành viên chịu thuế với phần thu nhập cá nhân của riêng
mình.24
Hợp danh theo nghĩa rộng xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử. Những chỉ dẫn
đầu tiên tới hình thức này là trong Bộ luật Hammurabi của Babylon, khoảng năm
2300 trước Công nguyên. Người Do Thái, vào khoảng những năm 2000 trước
Công nguyên đã hình thành thuật ngữ shutolin – mang bản chất phi thương mại.
viên góp vốn.26
Hợp danh được quy định trong Luật La mã (ví dụ như Bộ luật Justinian) với
những điều khoản rất tương đồng với luật hiện đại. Người La mã cũng hình thành
nên những quy định về đại diện, nền tảng của rất nhiều quy định của luật về hợp
danh ngày nay. Ví dụ, Luật La mã có quy định qui facit per alium facit per se người thực hiện hành vi thông qua hành vi của người khác cho bản thân người đó.
Luật La mã cũng xác định sự lựa chọn tự nguyện của những người cộng tác với
nhau bản chất của hợp danh, và nguyên tắc được gọi tên delectus personas - sự lựa
chọn của cá nhân, cho đến nay vẫn là thành tố mang tính trung tâm của luật về hợp
danh.27
Người phương Đông cũng không xa lạ với phường, hội, cuộc và đủ loại liên
kết bạn buôn. Tuy nhiên mô hình hội người (societas) theo dân luật – thương luật
hay mô hình hợp danh (partnership) theo pháp luật Anh – Mỹ mới chỉ được du
nhập trong một, hai thế kỷ trở lại đây.28
Theo truyền thống pháp luật kinh doanh Anh-Mỹ, hợp danh (partnership) là
một quan niệm tách biệt với công ty (corporation/company). Các nước theo truyền
thống dân luật, trong đó có cả Trung Hoa, thường khái quát hóa các công ty hợp
vốn, công ty đối vốn đơn giản, công ty hợp vốn đơn giản cổ phần, công ty dự phần
và biến dạng của chúng dưới quan niệm công ty đối nhân. Luật riêng về các loại
công ty thương mại này có thể bắt nguồn từ luật chung của dân luật. Luật công ty
ngày 27/10/2005 của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chỉ điều chỉnh hai loại công
ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần; hợp danh được điều chỉnh riêng bởi
Luật Doanh nghiệp hợp danh ban hành ngày 27/08/2006, bởi các nguyên tắc của
dân luật và quyền giải thích của tòa án.29
Ở Pháp, hợp danh hữu hạn (société en commamdite simple) được ghi nhận
trong Bộ luật Thương mại đầu tiên Colbert’s Ordinance 2673 và sau đó tiếp tục
được ghi nhận trong Bộ luật Napoleon. Trong société en commamdite simple,
chính sự tách bạch giữa quyền quản lý và quyền sở hữu giúp tầng lớp quý tộc giàu
có có thể đầu tư mà không cần phải tham gia vào hoạt động kinh doanh và nhờ vậy
26
hữu hạn đã thúc đẩy những người tìm kiếm sự giàu có tham gia vào hợp danh hữu
hạn, cụ thể là đảm bảo cho “những người trẻ tuổi và dám nghĩ dám làm nhưng
thiếu vốn có thể được cung cấp tài chính bởi những nhà tư bản giàu có nhưng
không muốn tham gia vào hoạt động kinh doanh”.31
Trong đời sống pháp lý Singapore, hợp danh được điều chỉnh bởi Luật hợp
danh năm 1890 của Anh. Việc áp dụng đạo luật này của Anh được thực hiện
thông qua Đạo luật năm 1993 của Singapore về áp dụng pháp luật Anh. Về cơ
bản, hợp danh trong pháp luật Singapore và hợp danh trong pháp luật Anh không
khác nhau đáng kể. Hợp danh được quy định một số đặc điểm chủ yếu sau:32
Thứ nhất, hợp danh là thoả thuận giữa những người tiến hành kinh doanh
nhằm thu lợi. Như vậy, theo định nghĩa này thì hai dấu hiệu đặc trưng của hợp
danh là sự tồn tại của việc kinh doanh và sự thoả thuận giữa nhiều người tham
gia việc kinh doanh vì lợi nhuận. Mục đích lợi nhuận là tiêu chí cơ bản cho việc
xác định hợp danh.
Thứ hai, số lượng thành viên tối thiểu của hợp danh là 2 và tối đa là 20.
Các hợp danh có thành viên với số lượng từ 21 trở lên được gọi là công ty cho dù
không đăng ký như là công ty. Thành viên của hợp danh theo quy định của pháp
luật Singapore có thể bao gồm thể nhân và pháp nhân. Đối với pháp nhân thì việc
tham gia hợp danh phải kèm theo điều kiện là điều lệ của các pháp nhân đó
không hạn chế việc tham gia hợp danh. Công dân, pháp nhân của các nước bị coi
là thù địch thì không được tham gia hợp danh. Vị thành niên có thể được tham
gia hợp danh song không bị buộc phải chịu trách nhiệm về những khoản nợ của
hợp danh mặc dù tài sản của vị thành niên có thể dùng để trang trải công nợ của
30
Trường Đại học Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh, Nxb Hồng Đức,
Hội luật gia Việt Nam, 2013, tr.119.
31
quản lý và sử dụng tuyết đối vì mục đích của hợp danh. Tài sản trong hợp danh
có thể là tài sản hợp danh cũng có thể là tài sản của thành viên. Xác định phần tài
sản nào của hợp danh và tài sản nào thành viên sẽ được thực hiện căn cứ vào hợp
đồng thành lập hợp danh.
Luật Singapore quy định các thành viên có nghĩa vụ trung thành với hợp
danh và phải xử sự một cách ngay tình không được cạnh tranh với hợp danh
thông qua hoạt động khai báo cáo cho các thành viên về tình hình thu nhập và lợi
nhuận khi hoạt động dưới danh nghĩa thành viên của hợp danh. Nguyên tắc, lợi
nhuận, và thua lỗ được phân chia đều giữa thành viên hợp danh. Tuy nhiên,
nguyên tắc này có thể không có hiệu lực nếu có thoả thuận rõ ràng hoặc có sự
ngầm định khác giữa các thành viên của hợp danh. Những thành viên sử dụng tài
sản của hợp danh vì mục đích cá nhân có thể bị các thành viên khác kiện vì vi
phạm nguyên tắc trung thành và ngay tình đối với hợp danh.
1.2.5.2. Sự ra đời của công ty hợp danh ở Việt Nam
Kinh tế nước ta mang đặc trưng là nền kinh tế nông nghiệp vì thế hoạt
động thương mại vốn không phải là thế mạnh. Thương mại Việt Nam chủ yếu
diễn ra ở các chợ, tổ chức sơ sài, quan hệ kinh doanh mang tính chất gia đình. Bởi
vậy, các loại hình công ty ra đời muộn so với các nước trên thế giới, trong đó có
công ty hợp danh. Ở Việt Nam, Luật Công ty ra đời muộn và chậm phát triển.
Trước đây Việt Nam là thuộc địa của Pháp nên có thời kỳ Luật Thương mại của
Pháp đã được áp dụng vào từng vùng lãnh thổ khác nhau. Theo "Dân luật thi hành
tại các tòa Nam án Bắc Kì" năm 1931, có đề cập về “hội buôn” Đạo luật này chia
công ty (hội buôn) thành hai loại: Hội người và hội vốn. Tên gọi "Hội người"
được chia thành Hội hợp danh (công ty hợp danh), Hội hợp tư (công ty hợp vốn
GVHD: Đoàn Nguy
Nguyễễn Minh Thu
Thuậận
SVTH: Hu