Địa vị pháp lý của công ty cổ phần - Pdf 15

Phần mở đầu
Lý do chọn đề tài : Hiện nay nước ta đang trong quá trình hội nhập và phát
triển, đồng thời nhiều ngành kinh tế phát triển nhanh chong, kéo theo nhiều
công ty trong và ngoài nước đã và đang mở rộng quy mô phát triển. Nhiều
loại hình công ty mọc lên cùng với nó là nước ta phải có những chế tài nhằm
điều chỉnh sự hoạt đông dồn dập của các công ty này. Hiện nay loại hình công
ty cổ phần đã và đang phát triển rất nhanh chóng, chính vì lẽ đó tạo hành lang
pháp lý cho loại hình công ty này là rất cần thiết.
Mục đích, yêu cầu của đề tài : Nhằm mục đích nêu nên phần nào pháp chế
của nước ta với loại hình doanh nghiệp nay, qua đó nêu nên vai trò của doanh
nghiêpj này trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu : Thống kê, phân tích. . . .
Phần nội dung
1.Khái niệm và đặc điểm của công ty cổ phần
Theo luật doanh nghiệp:
1.1, Một số khái niệm cơ bản trong công ty cổ phần :
- Vốn điều lệ được chia thanh nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và
không hạn chế số lượng tối đa
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ trong phạm vi tài
sản của mình
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần ccủa mình cho người khác,
trừ những trường hợ quy định tại Khoản 3 Điều 81 và Khoản 5 Điều 84 của
Luật này
- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ khi được cấp giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại huy đông vốn
1
1.2, Những đặc trưng cơ bản của một công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập. Đây là loại
hinh công ty có tính tổ chức cao, hoàn thiện về vốn, hoạt động mang tính xã

Cổ phiếu có những đặc tính chung sau :
- Mỗi cổ phiếu thể hiện giá trị thực té ban đầu được
tính thành tiền được gọi là mệnh giá cổ phiếu.
- Cổ phiếu có thể được lưu thông, chuyển nhượng
tự do trên thj trường như một thứ hàng hóa. Cổ phiếu có thể được
thừa kế và làm tài sản thế chấp, cầm đò hoặc quan hệ tín dụng
- Cổ phiếu thường không có thời hạn, nó tồn tại
cùng với sự tồn tại của công ty. Cổ đông không được rút vốn ra khỏi
công ty. Muốn thu lại tiền ban đầu khi mua cổ phiếu cổ đông chỉ có
thể bán lại cho người khác, và việc bán cổ phiếu được thực hiện trên
thị trường chứng khoán chính là lợi thế của công ty cổ phần so với
các loại hình doanh nghiệp khác, nhất là lợi thế về khả năng huy
động vốn. Công chúng thích mua cổ phiếu của công ty cổ phần để
tìm kiếm lợi nhuận mà không sợ dồng vốn của mình bị bất động, vì
họ có thể chuyển vốn đầu tư từ công ty này sang công tyckhác, từ
lĩnh vực này sang lĩnh vực khác một cách dễ dàng qua mua bán cổ
phiếu. Cổ phiếu là công cụ huy động vốn cực kỳ hiệu quả, nó khiến
cho loại hình công ty này có sức thu hút mãnh mẽ không chỉ với các
nhà kinh doanh mà còn cả với công chúng. Tuy nhiên, việc phát
hành cổ phần ra công chúng để tăng vốn nhằm phát triển quy mô sản
xuất kinh doanh là sự ưu việt của loại hình công ty cổ phần nhưng để
đầu tư tài chính thì rất dễ có hiện tượng thổi bong bong vào nền kinh
tế nếu không có sự kiểm toán chặt chẽ.
* Các loại cỏ phần và cổ đông
3
Công ty cổ phàn theo LUật Công ty 1990 cũ quy định chỉ có một loại cổ
phần nghĩa là người sở hữu cổ phần có quyền và nghĩa vụ như nhau. Xem xét
kinh nghiệm các nước cho thấy việc quy định chỉ có một loại cổ phần làm cho
cơ cấu vốn của công ty quá cứng nhăc và không tạo ra khuôn khổ linh hoạt
cho đầu tư cũng như huy động vốn. Trong khi Luật Công ty ở các nước đưa ra

toán đầy đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn chin mươi ngày, kể từ
ngày công ty được cấp giấy chúng nhận đăng ký kinh doanh.
Trong thời gian 3 năm, kể từ ngay công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh, cỏ đông sang lập có quyền tự ddo chuyển nhượng cổ phần phổ
thông của mình cho cổ đông sang lập khác nhưng phải có được sự chấp thuận
của Đại hội đồng cổ đông. Trong trường hợp này, cổ đông dự định chuyển
nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về chiệc chuyển nhượng các cổ
phần đó và người nhận chuyển nhượng đương nhiên trở thành cổ đông sang
lập của công ty. Sau thời hạn 3 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh, các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của các cổ
đông sang lập đều bị bãi bỏ.
Quy định trên cho thấy, 3 năm được coi là thời hạn đầy đủ cho việc đầu tư,
hoàn thành và đưa dự án vào hoạt động. Những hạn chế nói trên nhăm mục
đích :
+ Thúc đẩy cổ đông sang lập phải xem xét cẩn thận trước khi quyết định
thành lập công ty để kinh doanh, khắc phục hiện tượng thành lập công ty và
quyết định đầu tư theo kiểu “ phong trào”, qua đó cũng hạn chế được những
đỏ bể gay tổn thất cho xã hội.
+ Góp phần duy trì sự ổn định cần thiết của công ty trong những năm đầu
hoaạt động
+ Tăng thêm sự bảo đảm và niềm tin cho những người tham gia góp vốn
sau khi đã đăng ký kinh doanh.
5
+ Cổ đông ưu đãi
- Cổ đông ưu đã biểu quyết : Trong công ty cổ phần có vốn ưu đãi biểu quyết
thì “ chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ dông sang lập được
quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết “. Với cổ đông ưu đãi là cổ đông
sang lập thì ưu đãi biểu quyết của cổ dông sang lập chỉ có hiệu lực trong 3
năm kể từu ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau
thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sang lập chuyển thành cổ

chính các cổ đông sang lập và Đại hội cổ đông tự quyết định xem xét là thấy
cần thiết hay không ? Thực tế các văn bản hướng dãn thi hành Luậy doanh
nghiệp cũng không quy định loại cổ phần ưu đãi khác là những loại nào và
thực tiễn ở nước ta cũng chưa có các loại cổ phần nào. Các loại cổ phần đó là”
cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt, cổ phần bán giá ưu đãi cho người lao
động, cổ phần bán trả dần tiền mua cổ phàn ưu đãi cho người lao đông
nghèo”. Trong các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa chuyển sang
hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần không phản ánh đầy đủ tính chất
của loại cổ phần ưu đãi nói chung; đó là : Người sở hữu cổ phần ưu đãi được
“ ưu đãi” về mộtquyeền hoặc mức đọ quyền nào đó so với cổ đông phổ thông
và cổ đông ưu đại đó cũng phải “ tù bỏ” đi một số quyền khác mà cổ dông
phổ thông hơặc các cổ dông ưu đãi đã có được.
Việc phần loại cổ dông như trên nhằm xác định rõ các loại cổ dông trong
công ty cổ phần giúp cho các cổ dông hiểu rõ hơn các quyền lợi cũng như
nghĩa vụ của mình với công ty khi sở hữu từng loại cổ phần trong công ty.
Tuy nhiên sự phân loại này sẽ quan trọng hơn nếu các ổ đông thiểu số bảo về
được quyện lợi của mình trước các hành vi vi phạm của các cổ đông khác.
2 Thành lập công ty cổ phần.
7
Theo quy định tại Điều 13, Luật Doanh nghiệp 2005, mọi tổ chức cá nhân
Việt Nam và nước ngoài, không thuộc đối tượng bị cấm kinh doanh đêu có
quyền quyết định thành lập công ty cổ phần.
Sau khi soạn thảo ra bản Điều lệ có các nội dng cơ bản, thành viên sang
lập xúc tiến các thủ tục thành lập công ty bao gồm đăng ký kinh doanh , thông
báo công khai và các thủ tục khác để hoaạt đông kinh doanh.
* Đăng kí kinh doanh: Người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy
quyền làm bộ hồ sơ bao gồm.
- Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu của bộ kế hoạch và
đầu tư quy định
- Dự thảo điều lệ công ty có đầy đủ chữ ký các thành viên hoặc

thuế và mua hóa đơn giá trị gia tăng ở cơ quan thuế. Đối với hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu, công ty phải đăng kí mã sô hải quan tại cơ
quan hải quan. Sauk hi hoàn tất các thủ tục này, hoạt đông của công ty
mới chính thức thực hiện trên thực tế.
3 .Cơ cấu tổ chức công ty cổ phần
Hình thức quản lý của công ty cổ phần là quản lý tập trung thông qua cơ
cấu hội đồng. Về nguyên tắc, cơ cấu tổ chức và phân phối quyền lực trong cơ
cấu tổ chức là công việc nội bộ của các nhà đầu tư.
Lịch sử công ty trên thế giới được biết đến 3 mô hình quản lý công ty : Mô
hình Anh Mĩ, mô hình Châu Âu lục địa và mô hình Nhật Bản. Mỗi mô hình
đều có những đặc điểm chung và riêng khác nhau nhưng đều có mục tiêu là
tạo khả năng để chủ sở hữu có thể quản lý được những người điều hành công
ty một cách tốt nhất. Xem xét từ các nước trên có thế thấy được một số đặc
trưng sau về cơ cấu tổ chức của một công ty ngày nay bao gồm chue yếu là :
Chủ sở hữu; Hội đồng quản trị hoặc hội đồng giám sát; Giám đốc điều hành ;
9
Ban Kiểm soát đối với công ty có số lượng thành viên trên 11 người. Chức
năng nhiệm vụ của các bộ phận như sau :
* Chủ sở hữu công ty là người cung cấp vốn đầu tư hoặc vốn cổ phần, có
một số quyền cơ bản sau :
- Bầu và bãi nhiệm Hội Dồng quản trị hoặc Hội Đồng giảm sát.
- Thông qua hoặc không thông qua một số vấn đề cơ bản có tính
nguyên tắc của công ty như thay đổi Điều lệ, sápnhập, tăng giảm vốn công ty.
- Quyết định mức lãi cổ tức và hưởng thụ lãi.
* Hội đồng quản trị là cơ quant ha mặt chủ sở hữu thực hiện việc quản lý
công ty thông qua việc thực hiện những nhiệ vụ chủ yếu sau:
- Bổ nhiệm miễn nhiệm giám đốc điều hành
- Giám sat hoạt động quản lý điều hành của giám đốc điều hành
- Xem xét và thông qua các quyết định quan trọng khác không
trực tiếp do chủ sở hữu quyết định

Là cơ quan quản lý công ty cổ phần, có toàn quyền nhân danh công ty
quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty từ
những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị bao
gồm không quá 11 thành viên. Hội đông quản trị bầu chủ tịch hội đông quản
trị trong sô thành viên. Nhiệm kì, tiêu chuẩn và số lượng cụ thể do Điều lệ
công ty quy định. Chủ tịch Hội đông quản trị có thể kiêm Tổng giám đốc
công ty, trừ những trường hợp Điều lệ của công ty quy định khác. Trường hợp
chủ tịch HĐQT vắng mặt hoặc mất khả năng thực hiện được nhiệm vụ được
giao, thì thành viên được CTHĐQT ủy quyền sẽ thực hiện các quyền và nghĩa
vụ được giao của CTHĐQT. Trường hợp không có người được ủy quyền thì
các thành viên chon một người trong số thành viên tham gia tạm thời giữ chức
CTHĐQT. CTHĐQT có quyền và nghĩa vụ sau:
- Lập chương trình, kế hoạch hoaạt đông của HĐQT
11
- Chuẩn bị chương trình nôi dung, các tài liệu phục vụ cuộc họp
- Triệu tập và chủ trì cuộc họp HĐQT
- Tổ chức việ thông qua các quyết định của HĐQT dưới hình
thức khác
- Theo dõi quá trình tổ chức thự hiện các quyết định của HĐQT
- Chủ tọa các cuộc họp Đại Hội cổ đông
- Các quyền và nghĩa vụ khác được quy định tài Điều lệ công ty
và Luật doanh nghiệp
Hội đồng quản trị thông qua các quyết định bằng việc biểu quyết tại cuộc
họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản hoặc bằng một hình thức khác do Điều lệ
của công ty quy định. Mỗi thành viên Hội đông quản trị có một phiếu biểu
quyết. Hội đông quan trị có quyền và nghĩa vụ sau đây :
- Quyết định chiến lược phát triển của công ty
- Kiến nghị loại cổ phând và tổng sô cổ phần được quyền chào
bán của từng loại
- quyết định chào bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần

Tổng giám đốc công ty. Trường hợp điều lệ công ty không chỉ định Chủ tịch
hội đông quản trị là đại diện theo pháp luật, thì Giám đốc (TGĐ) là người
điều hành hoạt động hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội
đông quản trị về việc thực hiện công việc được giao. Giám đốc có các quyền
và nhiệm vụ sau đây:
- Quyết định những vấn đề liên quan đến hoạt đông hàn ngày
của công ty
- Tổ chức thực hiện các quyết định cảu Hội đồng quản trị
- Tổ chức thực hiện kế hoach kinh doanh và phươngán đầu tư
của công ty
13
- Kiến nghị phương án bố trí cơ cấu tổ chức , quy chế quản lý
nội bộ công ty
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
- Quyết định lương và phụ cấp đối với người lao đông trong
công ty, kể cả các cán bộ quản lý thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của Giám đôc
(TGĐ )
- Các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật, Điều
lệ công ty và quyết định của Hội đồng quản trị.
Quy đinh tạ Điều 13, Nghị Định 139/CP, muốn trở thành giám đốc ( TGĐ)
của công ty cổ phần thiì cổ đông phải là các nhân sở hữu ít nhất 5% số cổ
phần của công phổ thông, hoặc người khác thì phải có trình độ chuyên môn
hoặc kinh nghiệm thực tế trong quản trị kinh doanh hoặc trong ngành nghề
kinh doanh của công ty. Nghị Định 139/CP lại cho phép trường hợp Điều lệ
công ty quy định tiêu chuẩn và điều kiên khác với tiêu chuẩn và điều kiện trên
thì áp dụng tiêu chuẩn và điều kiện do Điều lệ công ty. Quy định này cần xem
lại ở các vấn đề sau :
• Thứ nhất : việc quy định chức danh giám đốc ( TGĐ ) trong mô hình
công ty cổ phần là cá nhân sở hữu ít nhất 5% số cổ phần phổ thông là
mâu thuẫn với quy định tại Điều 57 Luật doanh nghiệp, quy định Giám

- Thường xuyên thông báo với Hội đông quản trị về kết quả hoạt
đông, tham khảo ý kiến của Hội đông quản trị trước khi trình báo cáo, kết
luận, kiến nghị lên Đại hội cổ đông.
- Báo cáo Đại hội cổ đông về tính chính xác, trung thực, hợp
pháp về việc ghi chép, lưu trữ chứng từ là lập sổ kế toán, báo cáo tài chính,
các báo cáo khác của công ty, tính trung thực và hợp pháp trong quản lý, điều
hành hoạt đông kinh doanh cảu công ty.
15
- Kiến nghị biện pháp bổ sung, sửa đổi, cải tiến cơ cấu tổ chức
của công ty, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty
- Các quyền và nghĩa vụ khác quy định tại Luật Doanh nghiệp
và điều lệ công ty.
3.5 Phát hành chứng khoán của công ty cổ phần
Cổ phần là công cụ huy động vốn, đồng thời cũng là một lọa “hàng hóa”.
Phát hành cổ phần tức là công ty bán cổ phần thu tiền hoặc tài sản khác phục
vụ cho hoạt đông kinh doanh. Ở đây có 2 vấn đề can quan tâm :
- Lượng hàng và laoị hàng đem bán
- Phương thức bán : Bán cổ phần huy động thêm vốn tức là bán
một phần nguyên sơ hữu của công ty cho người khác. Kết qua là sẽ làm thay
đổi vị thế của từng cổ đông hiện có trong công ty. Luật doanh nghiệp quy
định : Hội đồng quản trị quyết định giá chào bán cổ phần không thấp hơn giá
thị trường tại thời điểm chào bán, trừ : ( cổ phần chào bán lần đầu tiên sau khi
đăng kí kinh doanh). Cổ phần chào bán cho tât cả cổ dông theo tỉ lệ cổ phần
hiện tại của họ ở công ty; cổ phần chào bán cho người môi giới hoặc người
bảo lãnh.
Khác với công ty trách nhiệm hữu hạn, trong công ty cổ phần, ngay sau
khi thành lập, ngoài cổ đông sang lập, người ta cong chưa biết cổ đông khác
là cá nhân, tổ chức nào; số cổ đông còn lại là bao nhiêu cũng như thời điểm
mà họ sẽ góp vốn cần phải huy động. Đó chính là thể hiện của số cổ phần
được quyền phát hành. Nói cách khác, số cổ phàn được quyền phát hành là

thông tin đầy đủ chính xác vè công ty và khả năng của nhà đầu tư. Đối với
phát hành quy mô nhỏ, số lượng người mua không nhiều, thì thông thường
người có ý định mua là những người biết đến công ty. Trường hượp hị không
biết đầy đủ thông tin chính xác, thì tự họ phải tìm kêím và đáng giá về công ty
đó. Mặt khác nếu công ty muốn huy động vốn một cách nghiêm túc, thì phải
17
cung cấp đầy đủ thông tin cho người quan tâm theo yêu cầu của họ. Ngoài ra,
logic khác của sự việc là, chi phí dể thực hiện thủ tục phát hành có liên quan
đến không chỉ Công ty mà cả cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán. Một
chi phí lớn bỏ ra để huy động một sô vốn không nhiều là điều xét thấy không
nên. Nói tóm lại, trong việc phát hành hẹp, người mua phải chịu phí tổn về
việc tìm kiếm thông tin, đánh giá cơ hội đầu tư của mình.
Khác với phát hành hẹp, phát hành rộng phải tuân thủ đúng quy trình tự
thủ tục luật định. Công ty phải cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin cần
thiết cho công chúng đầu tư, khắc phục khả năng lạm dụng thị trường gây
thiệt hại cho nhà đầu tư, đặc biệt là đầu tư tài chính. Luật doanh nghiệp quy
định việc công ty chào bán cổ phiếu, trái phiếu theo hình thức phát hành
chứng khoán ra công chúng theo quy định của Luật chứng khoán.
Tuy nhiên Luật doanh nghiệp hiện hành,có một sô vấn đề chưa rõ ràng về
việc mua bán cổ phần. Tại Khoản 1, Điều 80 quy định cổ đông phổ thông
phải “ thanh toán dủ số cổ phần đã cam kết mua trong thừoi hạn 90 ngày kể từ
ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh” . Ở đây cso sự
nhầm lẫn. Sự thật chỉ riêng các cổ đông sáng lập là phải thanh toán đủ số cổ
phần phổ thông đăng kí mua trong thời hạn trên. Đối với công ty cổ đông
khác, trên nguyên tắc họ phải thanh toán đủ một lần khi đăng ký mua, nhưng
không nhất thiết phải trong thời hạn 90 ngày như nói trên, bởi vì công ty có
quyền giao bán cổ phần trong thời hạn 3 năm sau khi được cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh theo Điều 84. Luật doanh nghiệp.
Tại khoản 5, Điều 80 : “ cổ đông phổ thông phải chịu trách nhiệm cá nhân
khi nhân danh công ty… thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn phải trả trước

thời hạn, địa điểm và phương thức thanh toán số nợ đó; cách thức và thời hạn
giải quyết khiếu nại của chủ nợ.
19
Các khoản nợ của DN được thanh toán theo thứ tự như sau: a) Các khoản
nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và
các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp
đồng lao động đã ký kết; b) Nợ thuế và các khoản nợ khác. Sau khi đã thanh
toán hết các khoản nợ và chi phí giải thể DN, phần còn lại thuộc về cổ đông
công ty.
Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc việc giải thể DN và
thanh toán hết các khoản nợ của DN, người đại diện theo pháp luật của DN
gửi hồ sơ giải thể DN đến cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quản lý về đầu tư.
Phần kết luận
Trên đây là nhưng quy định chung của pháp luật Việt Nam về loại hình
doanh nghiệp này. Tuy còn nhiều quy định khác, nhưng trên đây cũng đã
phần nào nêu nên được những ưuy định cơ bản về công ty cổ phần. Cùng với
đó giúp mọi người có được nhận thức sâuu rông về loại hình công ty này, qua
đó cũng giải thích một số khái niệm như “ cổ đông, cổ phiếu. trái phiếu…”
.Đồng thời cũng nhận ra được rằng loại hình doanh nghiệp này đang rất phát
triển tại Việt Nam và trên thế giới, và hơn nữa qua đây nhóm em cũng đã
phân tích một sô mặt hạn chế trong Luật doanh nghiệp của nước ta, mong
rằng sẽ chặt chẽ hơn với mục đích phát triển đất nước một cách toàn diện.
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status