Tài liệu TIỂU LUẬN "ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁC CƠ QUAN TRONG BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC" - Pdf 10

TIỂU LUẬN "ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA
CÁC CƠ QUAN TRONG BỘ MÁY
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC"

MỤC LỤC
TI U LU N " A V PHÁP LÝ C A CÁC C QUAN TRONG B MÁY Ể Ậ ĐỊ Ị Ủ Ơ Ộ
HÀNH CH NH NHÀ N C" Í ƯỚ 1
1
M C L CỤ Ụ 2
I. KHÁI NI M VÀ C I M A V PHÁP LÝ C A CÁC C QUAN TRONGỆ ĐẶ Đ Ể ĐỊ Ị Ủ Ơ
B MÁY HÀNH CH NH NHÀ N C.Ộ Í ƯỚ 4
a. L m t t ch c (t p h p nh ng con ng i)à ộ ổ ứ ậ ợ ữ ườ 4
b. Có tính c l p t ng i v t ch c - c c u:độ ậ ươ đố ề ổ ứ ơ ấ 4
II. A V PHÁP LÝ C A CÁC C QUAN QU N LÝ V I VI C BAN HÀNH ĐỊ Ị Ủ Ơ Ả Ớ Ệ
CÁC V N B N QUY PH M PHÁP LU T.Ă Ả Ạ Ậ 8
IV. K T LU NẾ Ậ 13
TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 14
LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình đổi mới đất nước, theo Hiến pháp 1992 thể chế hành
chính của các cơ quan Nhà nước đã được thay đổi khá nhiều phù hợp với việc
quản lý xã hội, đáp ứng được công cuộc xây dựng đất nước XHCN. Cơ cấu
quản lý hành chính đã được điều chỉnh, giảm bớt sự cồng kềnh giảm thiểu sự
quan liêu để tiến tới sự một xã hội công bằng văn minh và phát triển. Việc
xây dựng cơ cấu của các cơ quan hành chính mới không làm thay đổi hoặc
suy giảm quyền lực và nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước. Mặt khác
địa vị pháp lý của cơ quan được đề cao và tăng cường kiểm tra giám sát đối
với từng bộ phận, hiểu được đường lối chỉ đạo hợp lý của Nhà nước và vai trò
tích cực của các cơ quan quản lý Nhà nước. Chính vì vậy, quyền và nghĩa vụ
đây chính là địa vị pháp lý của cơ quan quản lý Nhà nước. Mặt khác, địa vị
pháp lý của các cơ quan được đề cao và tăng cường kiểm tra giám sát đối với
từng bộ phận, từng lĩnh vực xã hội phát triển không thể thiếu được đường lối

định trước hết bằng nhiệm vụ, chức năng thể hiện vai trò độc lập của nó,
nhưng đồng thời nó có những quan hệ đa dạng về tổ chức và hoạt động với cơ
quan khác trong hệ thống bộ máy quản lý và bộ máy Nhà nước nói chung mà
quan hệ đó được quy định chính bởi vị trí của từng cơ quan trong hệ thống
chung đó.
c. Có thẩm quyền do pháp luật quy định, đó là tổng thể những quyền,
nhiệm vụ chung và những quyền hạn cụ thể mang tính quyền lực pháp lý mà
Nhà nước trao cho để thực hiện nhiệm vụ chức năng Nhà nước. Các quyền
hạn đó - yếu tố quan trọng nhất của thẩm quyền, có hiệu lực "ra bên ngoài"
nghĩa là có hiệu lực bắt buộc đối với các đối tượng ngoài phạm vi cơ quan. Sở
dĩ như vậy vì cơ quan nhà nước nhân dân Nhà nước thực hiện quyền lực nhân
dân vì lợi ích của Nhà nước. Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt cơ quan
Nhà nước với các cơ quan, tổ chức không phải của Nhà nước, vì những cơ
quan tổ chức đó không có thẩm quyền (ví dụ: cơ quan tổ chức xã hội, tổ chức
tư nhân…)
Thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước có những giới hạn về không
gian (lãnh thổ) về thời gian có hiệu lực, về đối tượng chịu sự tác động của nó.
Đó là những giới hạn phap lý vì được quy định trong luật pháp.
Trong các yếu tố của thẩm quyền cơ quan Nhà nước thì quyền quan
trọng nhất là quyền ban hành quyết định pháp luật. Mỗi cơ quan có hình thức
và phương pháp hoạt động riêng do pháp luật quy định, kể cả việc áp dụng
các biện pháp hoạt động riêng do pháp luật quy định, kể cả việc áp dụng các
biện pháp cưỡng chế Nhà nước. Quyền thực hiện các hình thức và phương
pháp hoạt động đó cũng là yếu tố quan trọng của thẩm quyền cơ quan Nhà
nươc.
Các cơ quan Nhà nước chỉ hoạt động trong phạm vi thẩm quyền của
mình và trong phạm vi đó nó hoạt động độc lập, chủ động và sáng tạo, thẩm
quyền của cơ quan Nhà nước là nghĩa vụ không phụ thuộc vào ý muốn, sự xét
đoán riêng của bản thân cơ quan cũng như của bất cứ người lãnh đạo nào.
Ngoài các đặc điểm chung của cơ quan Nhà nước, cơ quan quản lý Nhà

động quản lý.
4. Tất cả các cơ quan quản lý Nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau (quan hệ trực thuộc trên - dưới, trực thuộc ngang, quan hệ chéo) tạo
thành một hệ thống thống nhất có trung tâm chỉ đạo là Chính phủ đảm bảo
thực hiện nhiệm vụ chấp hành và điều hành một cách mau lẹ, nhất quán và
hiệu quả.
Nhưng hệ thống quản lý bộ máy rất phức tạp, nhiều về số lượng cơ
quan ở tất cả các cấp từ trung ương đến cơ sở cũng như sô nhiều về số biên
chế. Số lượng cơ quan và biên chế này bằng gấp nhiều lần số lượng cơ quan
và biên chế của tất cả các cơ quan Nhà nước khác cộng lại. Hạt nhân của các
cơ quan quản lý Nhà nước là công chức.
5. Hoạt động chấp hành và điều hành của bộ máy quản lý hoàn toàn
khác với hoạt động kiểm sát và hoạt động xét xử của toà án. Tuy nhiên, chúng
có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Bộ máy quản lý, toà án viện kiểm sát là những hệ thống độc lập với
nhau, không có quan hệ trực thuộc. Nhưng hoạt động của các cơ quan quản lý
chịu sự giám sát của viện kiểm sát (trừ hoạt động của Chính phủ) và toà án.
Các cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm xem xét và trả lời các yêu cầu,
kiến nghị, kháng nghị của viện kiểm sát và toà án trong thời hạn do luật định.
Ngược lại, các văn bản pháp luật của các cơ quan Nhà nước là một
trong những căn cứ để toà án và viện kiểm sát thực hiện hoạt động kiểm sát
và xét xử. Một số vấn đề tổ chức nội bộ của Toá án và Viện kiểm sát so văieọt
nam bản pháp luật của các cơ quan quản lý điều chỉnh (ví dụ: về chính sách
cán bộ, về quản lý cán bộ của toà án)
Bộ máy quản lý được giao nhiệm vụ quản lý các ngành và lĩnh vực
quản lý hành chính - chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội chủ yếu bao gồm rất
nhiều các cơ quan, các tổ chức, xí nghiệp trực thuộc và chịu sự lãnh đạo của
nó. Toá án và viện kiểm sát nhân dân không có các đối tượng quản lý này.
II. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ VỚI VIỆC
BAN HÀNH CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT.

định phạm pháp luật).
Các văn bản của Chính phủ có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc và là
cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động của cả hệ thống bộ máy quản lý là
phương tiện chủ yếu đảm bảo việc thi hành các nhiệm vụ, chức năng quản lý
trên phạm vi cả nước.
Chế độ Thủ tướng thể hiện cụ thể và rõ nét nhất trong các quyền hạn cụ
thể của Thủ tướng. Điều 114 - Hiến pháp 1992 đã quy định cụ thể cho Thủ
tướng một số quyền hạn rất quan trọng mà trước đây thuộc quyền hạn của Hội
đồng bộ trưởng hoặc của Hội đồng nhân dân dân tỉnh. Đặc biệt thủ tướng
chính phủ còn có thẩm quyền ban hành quyết định và chỉ thị. (Điều 15 - Luật
ban hành văn bản quy phạm pháp lý). Các văn bản của Thủ tướng chính phủ
có hiệu lực trong toàn quốc trên cơ sở văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp
trên và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó (Điều 115 - Hiến pháp 1992).
Như vậy theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996
(sửa đổi bổ sung năm 2002) thì hệ thống văn bản pháp luật của Chính phủ đã
đơn giản và khoa học hơn trước. Theo hiến pháp mới tập thể Chính phủ và
Thủ tướng chính phủ ban hành 4 loại văn bản (Nghị định, Nghị quyết, Quyết
định, Chỉ thị) và chúng phân biệt rõ ràng với nhau về tên gọi, trình tự ban
hành. Điều đó chứng tỏ địa vị pháp lý của Chính phủ cũng đã được thay đổi
so với trước kia.
2. Các cơ quan quản lý Nhà nước ở trung ương.
"Bộ, chính quyền ngang bộ là chính quyền của Chính phủ, thực hiện
chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong
phạm vi cả nước" (Điều 22 Luật tổ chức Chính phủ, thông qua ngày
30/9/1992, Điều 1 Nghị quyết số 15 Công ty cổ phần vật liệu và xây lắp
Nghĩa Hưng của Chính phủ ngày 2/3/1993 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm quản lý Nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ).
Các cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương (sau đây gọi chung là
"Bộ" thực hiện chức năng "quản lý Nhà nước của bộ và hoạt động của các tổ
chức kinh doanh sự nghiệp "Điều 2 Nghị định số 15/CP). Đặc biệt, Hiến pháp

cố theo pháp chế XHCN, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền tự do và lợi ích hợp
pháp của công dân, của các cơ quan tổ chức.
Để thực hiện nhiệm vụ, chức năng, các quyền chung của mình, UBND
được quyền ra Quyết định, Chỉ thị trong phạm vi thẩm quyền và kiểm tra việc
thi hành những văn bản đó.
III. NHỮNG HẠN CHẾ VÀ KIẾN NGHỊ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC BAN
HÀNH CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC.
Theo Hiến pháp năm 1992 đã có nhiều điểm thay đổi, tiến bộ phù hợp
với công tác quản lý của các cơ quan quản lý Nhà nước. Song riêng vấn đề
ban hành các văn bản pháp lý thì cong nhiều chỗ bất cập đó là:
Hiến pháp 1992 đã bỏ qua những khía cạnh quan trọng trong quan hệ
giữa văn bản của Chính phủ và Chủ tịch nước. Theo điều 115 văn bản của
Thủ tướng Chính phủ vẫn phải phù hợp với văn bản của Chủ tịch nước,
nhưng khi nó không phù hợp thì lại không quy định cơ quan nào có thẩm
quyền đình chỉ hoặc bãi bỏ. Chủ tịch nước không có quyền này (điều 113).
Mặt khác, tương quan về hiệu lực pháp lý giữa văn bản của Chính phủ
và Thủ tướng lại không rõ. Đây cũng là điểm mắc mớ quan trọng trong "bước
chuyển" sang nguyên tắc kết hợp chế độ tập thể lãnh đạo và chế độ Thủ
trưởng đối với Chính phủ trong hiến pháp 1992.
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương thì Bộ, các cơ
quan chuyên môn của Bộ và các cơ quan khác trực thuộc Bộ đặt tại địa
phương phải chấp hành các quy định của UBND các cấp về vấn đề thuộc
chức năng quản lý theo lãnh thổ như: an ninh, trật tự an toàn công cộng, bảo
vệ môi trường đất đai… nhưng trong thực tiễn quản lý vẫn còn nhiều mâu
thuẫn giữa Bộ và UBND rất phức tạp, khó giải quyết.
Các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương thì việc ban hành văn bản
pháp luật thì cả Hiến pháp 1992 và luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
1996 (sửa đổi bổ sung 2002) chưa quy định rõ ràng văieọt nam bản nào là của
tập thể UBND và văn bản nào là của Chủ tịch UBND.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status