TIỂU LUẬN: Địa vị pháp lý của các cơ quan - Pdf 11

TIỂU LUẬN:

Địa vị pháp lý của các cơ quan
Lời nói đầu

Trong quá trình đổi mới đất nước, theo Hiến pháp 1992 thể chế hành chính
của các cơ quan Nhà nước đã được thay đổi khá nhiều phù hợp với việc quản lý xã
hội, đáp ứng được công cuộc xây dựng đất nước XHCN. Cơ cấu quản lý hành chính
đã được điều chỉnh, giảm bớt sự cồng kềnh giảm thiểu sự quan liêu để tiến tới sự
một xã hội công bằng văn minh và phát triển. Việc xây dựng cơ cấu của các cơ quan

- Cơ quan quyền lực
- Cơ quan quản lý
- Cơ quan kiểm sát
- Cơ quan xét xử
Trong đó, các cơ quan quản lý Nhà nước là cơ quan chấp hành của cơ quan
quyền lực, được tổ chức thành một hệ thống chặt chẽ từ Trung ương đến địa phương
và cơ sở đẻ trực tiếp quản lý, điều hành các mặt hoạt động của đời sống xã hội. Như
vậy, trong mối quan hệ và mối phân định với hoạt động của cơ quan quyền lực, cơ
quan kiểm sát, cơ quan xét xử thì khái niệm quản lý Nhà nước (hoạt động chấp hành
và điều hành, hoạt động hành pháp). Vì vậy, chúng là chủ thể cơ bản của luật hành
chính.
2. Đặc điểm địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước.
Các cơ quan hành chính Nhà nước là các cơ quan chủ thể chủ yếu của quan
hệ pháp luật hành chính. Là một bộ phận hợp thành của bộ máy Nhà nước, cơ quan
quản lý Nhà nước có những đặc điểm chung của cơ Nhà nước đó là:
a. Là một tổ chức (tập hợp những con người)
b. Có tính độc lập tương đối về tổ chức - cơ cấu:
Có cơ cấu bộ máy và quan hệ công tác bên trong của cơ quan được quy định
trước hết bằng nhiệm vụ, chức năng thể hiện vai trò độc lập của nó, nhưng đồng
thời nó có những quan hệ đa dạng về tổ chức và hoạt động với cơ quan khác trong
hệ thống bộ máy quản lý và bộ máy Nhà nước nói chung mà quan hệ đó được quy
định chính bởi vị trí của từng cơ quan trong hệ thống chung đó.
c. Có thẩm quyền do pháp luật quy định, đó là tổng thể những quyền, nhiệm
vụ chung và những quyền hạn cụ thể mang tính quyền lực pháp lý mà Nhà nước trao cho để thực hiện nhiệm vụ chức năng Nhà nước. Các quyền hạn đó - yếu tố
quan trọng nhất của thẩm quyền, có hiệu lực "ra bên ngoài" nghĩa là có hiệu lực bắt
buộc đối với các đối tượng ngoài phạm vi cơ quan. Sở dĩ như vậy vì cơ quan nhà
nước nhân dân Nhà nước thực hiện quyền lực nhân dân vì lợi ích của Nhà nước.

tương ứng và chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước cơ quan đó. Có những cơ
quan quản lý Nhà nước không do các cơ quan quyền lực Nhà nước trực tiếp lập ra
mà do các cơ quan quản lý cấp trên thành lập, nhưng về nguyên tắc cũng chịu sự
giám sát, lãnh đạo của các cơ quan quyền lực tương ứng.
2. Các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên thực hiện hoạt động chấp hành và
điều hành tức là hoạt động mang tính dưới luật - hoạt động tiến hành trên cơ sở và
để thi hành luật. Đó là hình thức chủ yếu để đưa các đạo luật và các văn bản pháp
luật khác … của các cơ quan quyền lực Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống.
3. Thẩm quyền của các cơ quan quản lý Nhà nước chỉ giới hạn trong phạm vi
hoạt động chấp hành và điều hành, chủ yếu được quy định trong các văn bản pháp
luật về tổ chức bộ máy Nhà nước hoặc các điều lệ, quy chế….
Những quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ dân sự mà cơ quan quản lý
Nhà nước có thể tham gia tương tự như tất cả các chủ thể khác của pháp luật dân sự
không phải là yếu tố của thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước. Trong phạm vi
thẩm quyền của mình, của các cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm hoạt động
thường xuyên hàng ngày một cách chủ động và sáng tạo để đáp ứng nhu cầu diễn
biến nhanh chóng, phức tạp và đa dạng của hoạt động quản lý.
4. Tất cả các cơ quan quản lý Nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
(quan hệ trực thuộc trên - dưới, trực thuộc ngang, quan hệ chéo) tạo thành một hệ
thống thống nhất có trung tâm chỉ đạo là Chính phủ đảm bảo thực hiện nhiệm vụ
chấp hành và điều hành một cách mau lẹ, nhất quán và hiệu quả.
Nhưng hệ thống quản lý bộ máy rất phức tạp, nhiều về số lượng cơ quan ở tất
cả các cấp từ trung ương đến cơ sở cũng như sô nhiều về số biên chế. Số lượng cơ
quan và biên chế này bằng gấp nhiều lần số lượng cơ quan và biên chế của tất cả
các cơ quan Nhà nước khác cộng lại. Hạt nhân của các cơ quan quản lý Nhà nước là
công chức. 5. Hoạt động chấp hành và điều hành của bộ máy quản lý hoàn toàn khác với
hoạt động kiểm sát và hoạt động xét xử của toà án. Tuy nhiên, chúng có quan hệ

lý trong bộ máy hành chính Nhà nước để ra các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý
khác nhau.
1. Chính phủ
Theo hiến pháp 1992 - Điều 109 quy định:"Chính phủ là cơ quan chấp hành
của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN"
Như vậy Hiến pháp 1992 đã khẳng định rằng về hoạt động chính Nhà (hoạt
động hành pháp) thì Chính phủ là cơ quan cao nhất của Nhà nước ta, tức là cơ quan
đứng đầu hệ thống hành pháp. Địa vị pháp lý của chính phủ còn được thể hiện các
nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, quốc phòng an ninh và đối ngoại của
Nhà nước, bảo đảm hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, bảo
đảm việc tôn trọng và chấp hành hiến pháp và pháp luật, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và
nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân. (Điều 109 khoản 2)
Xuất phát từ địa vị pháp lý, từ vai trò nhiệm vụ của Chính phủ"căn cứ vào
Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước, Chính phủ ban hành
Nghị quyết, Nghị định"(Điều 15. Luật ban hành văieọt nam bản quy định phạm
pháp luật).
Các văn bản của Chính phủ có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc và là cơ sở
pháp lý quan trọng cho hoạt động của cả hệ thống bộ máy quản lý là phương tiện
chủ yếu đảm bảo việc thi hành các nhiệm vụ, chức năng quản lý trên phạm vi cả
nước.
Chế độ Thủ tướng thể hiện cụ thể và rõ nét nhất trong các quyền hạn cụ thể
của Thủ tướng. Điều 114 - Hiến pháp 1992 đã quy định cụ thể cho Thủ tướng một
số quyền hạn rất quan trọng mà trước đây thuộc quyền hạn của Hội đồng bộ trưởng
hoặc của Hội đồng nhân dân dân tỉnh. Đặc biệt thủ tướng chính phủ còn có thẩm
quyền ban hành quyết định và chỉ thị. (Điều 15 - Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp lý). Các văn bản của Thủ tướng chính phủ có hiệu lực trong toàn quốc trên cơ
sở văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và kiểm tra việc thi hành các văn
bản đó (Điều 115 - Hiến pháp 1992).

đồng thời với nó là Bộ trưởng và Thủ tướng các cơ quan quản lý ngành và lĩnh vực
thuộc Chính phủ phải kiểm tra việc thi hành các văn bản đó với tất cả các ngành, các địa phương và cơ sở. Những Quyết định, Chỉ thị, Thông tư trái pháp luật của Bộ
trưởng và Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ thì bị Thủ tướng đình chỉ hoặc
bãi bỏ.
3. Các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương.
Hiến pháp 1992 quy định "UBND do Hội đồng nhân dân bầu là chính quyền
chấp hành Hội đồng nhân dân, chính quyền hành chính Nhà nước ở địa phương chịu
trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp
trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân (Điều 123)"
UBND là cơ quan quản lý thẩm quyền chung đứng đầu bộ máy quản lý thuộc
đơn vị hành chính - lãnh thổ của mình. Như tiểu Chính phủ ở địa phương, UBND
thực hiện chức năng quản lý tổng thể theo tổng lãnh thổ đối với mọi ngành, lĩnh vực
trực thuộc địa phương mình, bảo đảm việc thi hành pháp luật, văn bản của cấp trên
và của Hội đồng nhân dân cấp mình ở địa phương, giám sát việc thi hành pháp luật
của các cơ quan cấp trên ở điạ phương trong phạm vi những vấn đề thuộc quyền
quản lý theo lãnh thổ, củng cố theo pháp chế XHCN, bảo vệ lợi ích Nhà nước,
quyền tự do và lợi ích hợp pháp của công dân, của các cơ quan tổ chức.
Để thực hiện nhiệm vụ, chức năng, các quyền chung của mình, UBND được
quyền ra Quyết định, Chỉ thị trong phạm vi thẩm quyền và kiểm tra việc thi hành
những văn bản đó.
III. Những hạn chế và kiến nghị liên quan đến việc ban hành các văn bản pháp
luật của các cơ quan quản lý Nhà nước.
Theo Hiến pháp năm 1992 đã có nhiều điểm thay đổi, tiến bộ phù hợp với
công tác quản lý của các cơ quan quản lý Nhà nước. Song riêng vấn đề ban hành
các văn bản pháp lý thì cong nhiều chỗ bất cập đó là:
Hiến pháp 1992 đã bỏ qua những khía cạnh quan trọng trong quan hệ giữa
văn bản của Chính phủ và Chủ tịch nước. Theo điều 115 văn bản của Thủ tướng

những quyền và nghĩa vụ trong từng lĩnh vực quản lý của mình. Địa vị pháp lý rất
quan trọng đối với từng cơ quan vì nó đã thể hiện chỗ đứng, vị tró, quyền hạn đối
với lĩnh vực mà mình điều chỉnh. Có những quyền và nghĩa vụ cụ thể thì các cơ
quan quản lý mới góp phần và đảm bảo cho xã hội được tốt hơn.

Tài liệu tham khảo

- HP 1992
- Luật tổ chức Chính phủ
- Luật tổ chức Quốc hội
- Luật ban hành văn bản vi phạm pháp luật 1996 (sửa đổi bổ sung 2002)
- Nghị định số 15/Công ty cổ phần vật liệu và xây lắp Nghĩa Hưng của Chính
phủ ngày 2/3/1993 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của
Bộ, cơ quan ngang Bộ.
- Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND các cấp.
- Giáo trình pháp luật đại cương của trường Đại hoc kinh tế Quốc dân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status