Tài liệu Tiểu luận “Địa vị pháp lý của các cơ quan trong bộ máy hành chính Nhà nước” - Pdf 95



TRƯỜNG………………
KHOA………………… WX

TIỂU LUẬN Địa vị pháp lý của các cơ
quan trong bộ máy hành chính
Nhà nước

LỜI NÓI ĐẦU

Trong quá trình đổi mới đất nước, theo Hiến pháp 1992 thể chế hành
chính của các cơ quan Nhà nước đã được thay đổi khá nhiều phù hợp với việc
quản lý xã hội, đáp ứng được công cuộc xây dựng đất nước XHCN. Cơ cấu
quản lý hành chính đã được điều chỉnh, giảm bớt sự cồng kềnh giảm thiểu sự
quan liêu để tiến tới sự một xã hội công b

sống xã hội. Như vậy, trong mối quan hệ và mối phân định với hoạt động của
cơ quan quyề
n lực, cơ quan kiểm sát, cơ quan xét xử thì khái niệm quản lý
Nhà nước (hoạt động chấp hành và điều hành, hoạt động hành pháp). Vì vậy,
chúng là chủ thể cơ bản của luật hành chính.
2. Đặc điểm địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước.
Các cơ quan hành chính Nhà nước là các cơ quan chủ thể chủ yếu của
quan hệ pháp luật hành chính. Là một bộ phận hợp thành của bộ máy Nhà
n
ước, cơ quan quản lý Nhà nước có những đặc điểm chung của cơ Nhà nước
đó là:
a. Là một tổ chức (tập hợp những con người)
b. Có tính độc lập tương đối về tổ chức - cơ cấu:
Có cơ cấu bộ máy và quan hệ công tác bên trong của cơ quan được quy
định trước hết bằng nhiệm vụ, chức năng thể hiện vai trò độc lập của nó,
nh
ưng đồng thời nó có những quan hệ đa dạng về tổ chức và hoạt động với cơ
quan khác trong hệ thống bộ máy quản lý và bộ máy Nhà nước nói chung mà
quan hệ đó được quy định chính bởi vị trí của từng cơ quan trong hệ thống
chung đó.
c. Có thẩm quyền do pháp luật quy định, đó là tổng thể những quyền,
nhiệm vụ chung và những quyền hạn cụ thể mang tính quyền lực pháp lý mà
Nhà nước trao cho để thực hiện nhiệm vụ chức năng Nhà nước. Các quyền
hạn đó - yếu tố quan trọng nhất của thẩm quyền, có hiệu lực "ra bên ngoài"
nghĩa là có hiệu lực bắt buộc đối với các
đối tượng ngoài phạm vi cơ quan. Sở
dĩ như vậy vì cơ quan nhà nước nhân dân Nhà nước thực hiện quyền lực nhân
dân vì lợi ích của Nhà nước. Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt cơ quan
Nhà nước với các cơ quan, tổ chức không phải của Nhà nước, vì những cơ
quan tổ chức đó không có thẩm quyền (ví dụ: cơ quan tổ chức xã hội, tổ chứ

cấp). Do đó, chúng trực thuộ
c, chịu sự lãnh đạo, giám sát, kiểm tra của các cơ
quan quyền lực Nhà nước tương ứng và chịu trách nhiệm báo cáo công tác
trước cơ quan đó. Có những cơ quan quản lý Nhà nước không do các cơ quan
quyền lực Nhà nước trực tiếp lập ra mà do các cơ quan quản lý cấp trên thành
lập, nhưng về nguyên tắc cũng chịu sự giám sát, lãnh đạo của các cơ quan
quyền lực tương ứng.
2. Các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên th
ực hiện hoạt động chấp
hành và điều hành tức là hoạt động mang tính dưới luật - hoạt động tiến hành
trên cơ sở và để thi hành luật. Đó là hình thức chủ yếu để đưa các đạo luật và
các văn bản pháp luật khác … của các cơ quan quyền lực Nhà nước vào thực
tiễn cuộc sống.
3. Thẩm quyền của các cơ quan quản lý Nhà nước chỉ giới hạn trong
phạm vi hoạt động chấp hành và điều hành, chủ yếu được quy định trong các
văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy Nhà nước hoặc các điều lệ, quy chế….
Những quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ dân sự mà cơ quan quản
lý Nhà nước có thể tham gia tương tự như tất cả các chủ thể khác của pháp
luật dân sự không phải là yếu tố của th
ẩm quyền của các cơ quan Nhà nước.
Trong phạm vi thẩm quyền của mình, của các cơ quan quản lý Nhà nước có
trách nhiệm hoạt động thường xuyên hàng ngày một cách chủ động và sáng
tạo để đáp ứng nhu cầu diễn biến nhanh chóng, phức tạp và đa dạng của hoạt
động quản lý.
4. Tất cả các cơ quan quản lý Nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau (quan hệ trực thuộc trên - dưới, trực thuộc ngang, quan hệ chéo) tạo
thành một hệ thống thống nhất có trung tâm chỉ đạo là Chính phủ đảm bảo
thực hiện nhiệm vụ chấp hành và điều hành một cách mau lẹ, nhất quán và
hiệu quả.
Nhưng hệ thống quản lý bộ máy rất phức tạ

các cơ quan quản lý Nhà nước thì việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật
nhằm thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành. Những văn bản này đều có
những đặc điểm của văn bản Nhà nước nói chung, đặc biệt là tính ch
ất pháp
lý của nó tuy nhiên là những văn bản hành chính Nhà nước bao giờ cũng là
những văn bản dưới luật được ban hành trên cơ sở để chấp hành Hiến pháp,
Luật, Pháp lệnh và các Nghị quyết của các cơ quan quyền lực.
Thực tiễn việc ra các văn bản quy định pháp luật đã được quy định đầy
đủ trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi bổ
sung 2002) c
ủa Quốc hội. Tuỳ vào vị trí, tính chất pháp lý và hoạt động của
từng cơ quan quản lý trong bộ máy hành chính Nhà nước để ra các văn bản
pháp luật có giá trị pháp lý khác nhau.
1. Chính phủ
Theo hiến pháp 1992 - Điều 109 quy định:"Chính phủ là cơ quan chấp
hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước
CHXHCNVN"
Như vậy Hiến pháp 1992 đã khẳng định rằng về hoạt động chính Nhà
(hoạt độ
ng hành pháp) thì Chính phủ là cơ quan cao nhất của Nhà nước ta, tức
là cơ quan đứng đầu hệ thống hành pháp. Địa vị pháp lý của chính phủ còn
được thể hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, quốc phòng an
ninh và đối ngoại của Nhà nước, bảo đảm hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ
Trung ương đến cơ sở, bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành hiến pháp và
pháp luật, phát huy quy
ền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá
của nhân dân. (Điều 109 khoản 2)
Xuất phát từ địa vị pháp lý, từ vai trò nhiệm vụ của Chính phủ"căn cứ
vào Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ

30/9/1992, Điều 1 Nghị quyết số 15 Công ty cổ phần vật liệu và xây lắp
Nghĩa H
ưng của Chính phủ ngày 2/3/1993 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm quản lý Nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ).
Các cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương (sau đây gọi chung là
"Bộ" thực hiện chức năng "quản lý Nhà nước của bộ và hoạt động của các tổ
chức kinh doanh sự nghiệp "Điều 2 Nghị định số 15/CP). Đặc biệt, Hiến pháp
1992 quy định rõ trách nhiệm của Bộ trưởng và các thành viên khác của
Chính phủ phải "bảo đảm quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh
của các cơ sở theo quy định của pháp luật" (Đi
ều 116)
Như vậy vị trí và tính chất pháp lý của Bộ được quy định khá rõ ràng
trong các văn bản luật của Nhà nước. Để có những quyền hạn cụ thể để quản
lý được tốt, Luật ban hành văn bản quy định pháp luật đã trao thẩm quyền cho
Bộ trưởng, Thủ tướng chính quyền ngang Bộ, Thủ tướng cơ quan thuộc Bộ,
Thủ tướng cơ quan Chính phủ"căn c
ứ vào Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của
Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Lệnh,
Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ tướng cơ quan
ngang Bộ, Thủ tướng cơ quan thuộc Chính phủ ban hành Quyết định, Chỉ thị,
Thông tư".
Để thực hiện các quyền hạn của mình ngoài việ
c ban hành văn bản thì
việc đồng thời với nó là Bộ trưởng và Thủ tướng các cơ quan quản lý ngành
và lĩnh vực thuộc Chính phủ phải kiểm tra việc thi hành các văn bản đó với tất
cả các ngành, các địa phương và cơ sở. Những Quyết định, Chỉ thị, Thông tư
trái pháp luật của Bộ trưởng và Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ thì
bị Thủ tướng đ
ình chỉ hoặc bãi bỏ.
3. Các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương.

quyền đình chỉ hoặc bãi bỏ. Chủ tịch nước không có quyền này (điều 113).
Mặt khác, tương quan về hiệu lực pháp lý giữa văn bản của Chính phủ
và Thủ tướng lại không rõ. Đây cũng là điểm mắc mớ quan trọng trong "bước
chuyển" sang nguyên tắc kết hợp chế độ tập thể lãnh đạo và chế độ Thủ
trưở
ng đối với Chính phủ trong hiến pháp 1992.
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương thì Bộ, các cơ
quan chuyên môn của Bộ và các cơ quan khác trực thuộc Bộ đặt tại địa
phương phải chấp hành các quy định của UBND các cấp về vấn đề thuộc
chức năng quản lý theo lãnh thổ như: an ninh, trật tự an toàn công cộng, bảo
vệ môi trường đất đai… nhưng trong thực tiễn qu
ản lý vẫn còn nhiều mâu
thuẫn giữa Bộ và UBND rất phức tạp, khó giải quyết.
Các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương thì việc ban hành văn bản
pháp luật thì cả Hiến pháp 1992 và luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
1996 (sửa đổi bổ sung 2002) chưa quy định rõ ràng văieọt nam bản nào là của
tập thể UBND và văn bản nào là của Chủ tịch UBND.
Trên đây là những điểm hạn chế với việc ban hành và thực thi các văn
bản pháp luật của các cơ quan Nhà nướ
c - đây cũng chính là những kiến nghị
với các cơ quan quyền lực Nhà nước cần xem xét và quy định sao cho phù
hợp với từng chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan để các cơ quan quản lý
xã hội được tốt trong thời gian tới.

IV. KẾT LUẬN

Địa vị pháp lý của các cơ quan Bộ máy hành chính Nhà nước đó là tổng
hợp những quyền và nghĩa vụ trong từng lĩnh vực quản lý của mình. Địa vị
pháp lý rất quan trọng đối với từng cơ quan vì nó đã thể hiện chỗ đứng, vị tró,
quyền hạn đối với lĩnh vực mà mình điều chỉnh. Có những quyền và nghĩa vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status