Chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp trên địa bàn hà nội - Pdf 35

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Công nghệ là công cụ để phát triển kinh tế, xã hội một cách nhanh chóng và
bền vững trong môi trường cạnh tranh quốc tế, điều này đã được các quốc gia trên
thế giới thừa nhận. Công nghệ lạc hậu thường dẫn đến năng suất lao động thấp, tiêu
hao nguyên vật liệu, năng lượng cao, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, sản phẩm
khó đáp ứng được yêu cầu, nhu cầu của thị trường và tính cạnh tranh của sản phẩm
không cao. Công nghệ được coi là yếu tố tác động trực tiếp tới năng suất, chất
lượng sản phẩm và ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, sự phát
triển thịnh vượng của quốc gia. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, các doanh
nghiệp muốn phát triển bền vững, tạo dựng uy tín và phát triển thương hiệu của
mình thì không thể không tiến hành các hoạt động ĐMCN.
Nhà nghiên cứu quản lý nổi tiếng Perter Drucker đã khẳng định “Đổi mới
công nghệ đã trở thành một công cụ quan trọng của kinh doanh hiện đại”, điều đó
có nghĩa là ĐMCN đã trở thành yếu tố ưu tiên hàng đầu và có ý nghĩa quyết định
đến sự thành bại của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên trên thực
tế, để ĐMCN ngoài việc doanh nghiệp phải hiểu rõ được quá trình đổi mới và các
yếu tố ảnh huởng trực tiếp, gián tiếp hay các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh
hưởng tới ĐMCN thì cũng phải thấy được những khó khăn nhất định để khắc phục
như nguồn vốn để tiếp nhận công nghệ, cách đánh giá công nghệ, cách lựa chọn
công nghệ thích hợp, phương thức chuyển giao công nghệ, nguồn nhân lực cần có
để phục vụ cho quá trình ĐMCN, cũng như phải nắm rõ các chính sách, cơ chế của
Nhà nước trong hoạt động ĐMCN, v.v.
Hiện nay, chính sách nhà nước về ĐMCN của Việt Nam nói chung và Hà
Nội nói riêng đã khẳng định được nhận thức của Nhà nước và thành phố Hà Nội
trong việc thúc đẩy hoạt động ĐMCN của các doanh nghiệp. Hoạt động ĐMCN sở
dĩ có sức lan tỏa rộng; bởi vì, thứ nhất xét từ giác độ Nhà nước trong việc quản lý
ĐMCN sẽ góp phần hạn chế tác động tiêu cực của công nghệ tới môi trường và tới
lợi ích của xã hội; thứ hai, xét từ giác độ doanh nghiệp sẽ góp phần nâng cao năng

não về chính trị, văn hoá, giáo dục của cả nước, đồng thời có tiềm năng phát triển
về kinh tế, xã hội, công nghệ trong tương lai. Luận án lựa chọn các doanh nghiệp
trên địa bàn Hà Nội nhằm ba mục đích: (i) phù hợp với khả năng tiến hành khảo sát


3

thực địa của nghiên cứu sinh, (ii) đảm bảo được tính đại diện của mẫu khảo sát và
(iii) đóng góp phần nhỏ trong việc phân tích, hoàn thiện chính sách nhà nước nhằm
thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN trong thời gian vừa qua, từ đó đưa ra các kiến nghị
về chính sách nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN nói chung và các doanh nghiệp
trên địa bàn Hà Nội ĐMCN nói riêng.
Vì những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Chính sách nhà nước
nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ: nghiên cứu trường hợp các doanh
nghiệp trên địa bàn Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới luận án1
Qua quá trình tìm hiểu của nghiên cứu sinh, đến nay đã có nhiều công trình
nghiên cứu liên quan tới hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp, chính sách ĐMCN,
chính sách thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN ở ngoài nước và trong nước. Mỗi công
trình nghiên cứu đều có đóng góp tích cực ở các giác độ tiếp cận khác nhau cả về
mặt lý luận và thực tiễn. Đây là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh phát hiện được
khoảng trống trong hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp, chính sách thúc đẩy
ĐMCN nhằm gợi mở và phục vụ cho quá trình nghiên cứu của luận án.

3. Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Mục tiêu nghiên cứu của luận án: (i) xây dựng khung lý thuyết về chính sách
nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN trên cơ sở kế thừa và phát triển các
công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, cũng như nghiên cứu kinh nghiệm của
một số quốc gia trên thế giới về chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp

- Thứ ba, thông qua kinh nghiệm về chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy
doanh nghiệp ĐMCN của một số quốc gia trên thế giới, Luận án rút ra một số bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Thứ tư, luận án phân tích thực trạng ĐMCN của các doanh nghiệp nói
chung và các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội nói riêng, từ đó chỉ ra những thành
tựu, hạn chế và nguyên nhân làm hạn chế hoạt động ĐMCN của các doanh nghiệp
trên địa bàn Hà Nội.
- Thứ năm, luận án đánh giá các chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh
nghiệp ĐMCN, từ đó chỉ ra những ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân làm hạn
chế tác động của chính sách nhà nước đối với hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp.
- Thứ sáu, luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách nhà nước
nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN nói chung và các doanh nghiệp trên địa bàn
Hà Nội nói riêng phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam.


5

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp
và các chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN.

4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Luận án nghiên cứu, đánh giá chính sách nhà nước nhằm
thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN (bao gồm các chính sách của Trung ương và của địa
phương ban hành). Đối tượng thụ hưởng chính sách là các doanh nghiệp thực hiện
hoạt động ĐMCN, trong đó chú trọng nghiên cứu các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Hơn nữa, luận án đánh giá chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp
ĐMCN trên cơ sở nhận thức, đánh giá, phản hồi của doanh nghiệp về các chính
sách chung do Nhà nước đã ban hành; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện nội

ở dạng bản cứng và bản điện tử liên quan tới ĐMCN. Dữ liệu sơ cấp được thu thập
thông qua phiếu điều tra gửi tới các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội, đồng thời
tiến hành phỏng vấn đối với một số cán bộ quản lý về KH&CN ở Trung ương và
thành phố Hà Nội.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: luận án sử dụng phầm mềm SPSS 16 làm công
cụ để phân tích các dữ liệu thu thập được; đồng thời còn sử dụng các phương pháp
mô tả, thống kê, so sánh, đối chứng, tổng kết thực tiễn và chuyên gia.

6. Những đóng góp mới của luận án
Về mặt khoa học: Luận án làm rõ cơ sở lý luận về ĐMCN và chính sách nhà
nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN. Cụ thể: (i) đánh giá, lựa chọn khái niệm
công nghệ và bổ sung làm rõ khái niệm đổi mới công nghệ, (ii) bổ sung làm rõ khái
niệm chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN, (iii) chỉ ra các yếu
tố ảnh hưởng tới ĐMCN ở doanh nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng tới chính sách
nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN, (iv) đề xuất các nhóm tiêu chí đánh
giá chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN.
Về mặt thực tiễn: Luận án đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách
nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN theo cách tiếp các công cụ chính
sách phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án còn là tài liệu tham khảo cho những
nghiên cứu tiếp theo về hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp, về chính sách nhà
nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN.


7

7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, cam kết của tác giả, các phụ lục, các tài liệu
tham khảo. Luận án chia thành 5 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu về chính sách

Đổi mới công nghệ là một hệ thống các hoạt động phức tạp nhằm chuyển đổi
các ý tưởng và kiến thức khoa học thành thực thể vật chất và các ứng dụng trong
hiện thực. Đó là quá trình biến đổi tri thức thành các sản phẩm và dịch vụ hữu ích
có tác động tới sự phát triển của nền kinh tế và bao gồm tám lĩnh vực: (1) nghiên
cứu cơ bản, (2) nghiên cứu ứng dụng, (3) triển khai công nghệ, (4) thực thi công
nghệ, (5) sản xuất, (6) marketing, (7) truyền bá, và (8) mở rộng công nghệ (Tarek M
Khalil, 2002). Mặt khác, ĐMCN là một hoạt động đồng thời tác động với nhau một
cách không tuyến tính; nó không chỉ bao gồm khoa học, kỹ thuật mà bao gồm cả
ảnh hưởng của xã hội, nhà nước, thể chế chính trị, văn hóa, kinh tế, chính sách công
để tạo ra của cải và chịu ảnh hưởng của ba quĩ đạo tới hạn, đó là: vượt qua đường
biên giới, sự xuất hiện các công nghệ mới, kiến thức và trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên,
M.A.Schilling (2009) lại cho rằng ĐMCN là tập hợp các ý tưởng sáng tạo và đòi


9

hỏi sự cần thiết phải kết hợp ý tưởng sáng tạo, nguồn lực và kỹ năng để hiện thực
hóa ý tưởng đó thành sản phẩm mới, qui trình mới.
Vai trò của ĐMCN đối với tăng trưởng kinh tế của một quốc gia:
- Đổi mới công nghệ tác động tới xã hội như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
(GDP) và tăng năng lực cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa (M.A.Schilling,
2009); đồng thời tốc độ ĐMCN đã trở thành yếu tố hàng đầu ảnh hưởng tới tốc
độ tăng trưởng kinh tế và tạo ra sự thịnh vượng của quốc gia. Nhiều công trình
nghiên cứu đã kết luận rằng tiến bộ công nghệ thông qua ĐMCN là nguồn gốc và
là động lực của tăng trưởng kinh tế (Robert Solow, 1987; Boskin and Lau, 1992)
[121],[122]. Từ đó cho thấy, tiến bộ của nền văn minh xã hội loài người được
gắn liền với tiến bộ của công nghệ.
- Đổi mới công nghệ tạo ra các cơ hội kinh doanh, đồng thời cũng tạo ra
những cơ chế trong tăng trưởng kinh tế. Nó chính là cơ sở và điểm khởi đầu cho
một chu trình phát triển kinh tế và được gọi là chu trình sóng dài của nền kinh tế,

cho các phát minh khoa học, các phát minh khoa học là cơ sở dẫn tới các sáng chế
và thực hiện ĐMCN thành công [123]. Khi khoa học càng phát triển thì sẽ làm cho
vòng đời công nghệ giảm xuống từ đó thúc đẩy hoạt động ĐMCN (M.A. Schilling,
2009). Hoạt động đổi mới được Fredrick Betz (1998) cho rằng đó là sự phát minh,
phát triển và đưa vào thị trường sản phẩm mới, qui trình mới hoặc là dịch vụ mới có
chứa công nghệ mới. Mặt khác, khi KH&CN tiếp cận thị trường chúng sẽ ảnh
hưởng tới doanh nghiệp và cuộc sống của con người, đồng thời thị trường có thể
chấp nhận hay loại bỏ chúng.
- Ảnh hưởng của thị trường tới ĐMCN và nhấn mạnh vai trò của xã hội đối
với ĐMCN của doanh nghiệp: Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng ĐMCN bắt đầu từ ý
tưởng và kết thúc là chúng được thương mại hóa, nghĩa là chúng được đưa ra thị
trường. Để thị trường chấp nhận thì hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp phải đóng
góp và tạo nên giá trị gia tăng cho khách hàng; hay nói cách khác mọi đổi mới đều
xuất phát từ nhu cầu của xã hội hay phục vụ nhu cầu của xã hội đồng thời xã hội là
nơi cung cấp nguồn lực cho đổi mới và cũng là nơi tiếp nhận thành quả của đổi mới
[105], [112], [121]. Vì vậy ĐMCN thực sự thành công khi và chỉ khi chúng được
thương mại hóa, đưa ra thị trường và được thị trường chấp nhận.


11

- Một số nghiên cứu chỉ ra rằng lợi thế so sánh của doanh nghiệp không chỉ
phụ thuộc vào nguồn lực mà doanh nghiệp đó sở hữu mà còn phụ thuộc vào mối
quan hệ mà doanh nghiệp có được. Mối quan hệ mà doanh nghiệp có được đó,
theo một số nhà nghiên cứu gọi là vốn xã hội (tổng hợp [76]): theo Nahapiet &
Ghoshal (1998), vốn xã hội giúp cho doanh nghiệp giảm được chi phí giao dịch
bằng việc tiết kiệm được chi phí thông tin và cộng tác. Qua nghiên cứu tác động
của vốn xã hội tới ĐMCN ở một số doanh nghiệp công nghệ cao, Ylirenco và ctg
(2001) đã phát hiện ra mối quan hệ tương hỗ giữa doanh nghiệp, khách hàng chính
của doanh nghiệp và kiến thức mà doanh nghiệp nhận được từ các mối quan hệ

hệ thống đổi mới quốc gia của Thái Lan; Jomo K.S (2001) về chính sách phát triển
công nghệ ở Malaysia; Jop.Holdren (2010) về tạo lập môi trường công nghệ thuận
lợi nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động ĐMCN ở Mỹ, v.v.
Việc đánh giá tác động chính sách của Nhà nước đối với hoạt động ĐMCN
dựa trên các phương pháp khác nhau lại cho kết quả khác nhau (tổng hợp [3,
tr25]), cụ thể: Scott, Levin và Reiss (1984) cho các doanh nghiệp Mỹ, Holemans
và Sleuwaegen (1988) cho các doanh nghiệp Bỉ, Antonelli (1989) cho các doanh
nghiệp Ý, Kleette và Moen (1997) cho các doanh nghiệp Nauy, Dominique
Guellec and Bruno van Pottelsberghe de la Potterie (1997) cho các doanh nghiệp
thuộc 17 nước OECD. Các nghiên cứu này đã sử dụng mô hình hồi qui để xem xét
tác động từ chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho hoạt động R&D của doanh
nghiệp. Kết quả cho thấy có mối quan hệ thuận chiều và có ý nghĩa thống kê giữa
hai biến này. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Lichtenberge (1988), Carmichael
(1981), Nadiri (1980) lại cho thấy tương quan nghịch. Nghiên cứu này chỉ ra rằng
hỗ trợ của Nhà nước quan hệ nghịch với đầu tư R&D nếu những khoản hỗ trợ đó
được triển khai dưới cách thức chỉ định, tức là không có sự cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp để có được sự hỗ trợ. Có nghĩa là sự hỗ trợ của Nhà nước cho R&D
chỉ hiệu quả khi doanh nghiệp thực sự có nhu cầu tiến hành các hoạt động R&D.
Mối quan hệ này sẽ tỷ lệ thuận nếu có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.
Doanh nghiệp thực hiện hoạt động ĐMCN được Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích
về thuế như giảm hoặc miễn thuế cho các hoạt động R&D, nhập khẩu công nghệ
mới. Các ưu đãi này có tác động tích cực đối với đầu tư ĐMCN của doanh nghiệp
nhưng chỉ trong thời gian ngắn.


13

Như vậy, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã khái quát được ĐMCN,
hoạt động ĐMCN, vai trò của ĐMCN và các yếu tố ảnh hưởng tới ĐMCN của
doanh nghiệp; đồng thời khẳng định được vai trò tích cực, quan trọng của Nhà nước

14

nghiệp trên địa bàn Hà Nội, cũng như đánh giá của các doanh nghiệp trên địa bàn
Hà Nội về chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN.
Nghiên cứu trình độ công nghệ của doanh nghiệp: để xây dựng chính sách
KH&CN nói chung và ĐMCN nói riêng cho doanh nghiệp thì một trong những yếu
tố quan trọng là đánh giá trình độ công nghệ của doanh nghiệp. Vấn đề này đã thu
hút được sự quan tâm của nhiều cá nhân, tổ chức tham gia với những phương pháp
đánh giá khác nhau như phương pháp Focus Group, phương pháp SMART đánh giá
trình độ công nghệ tỉnh Gia Lai, phương pháp AHP. Các phương pháp khác nhau sẽ
cho kết quả khác nhau khi đánh giá công nghệ theo bốn thành phần (Phần kỹ thuật,
phần con người; phần thông tin và phần tổ chức); tuy nhiên cả ba phương pháp trên
đều đánh giá dựa trên mức độ vận hành và mức độ hiện đại của phần kỹ thuật nên
kết quả không có sự sai khác nhiều [36],[40],[75].
Nghiên cứu năng lực công nghệ của doanh nghiệp làm cơ sở để doanh
nghiệp tiến hành các hoạt động ĐMCN: trong một đề tài nghiên cứu năng lực công
nghệ đã đưa ra bốn chỉ tiêu đánh giá năng lực ĐMCN dựa trên cách tiếp cận của
ESCAP (1989), các chỉ tiêu đánh giá bao gồm: (i) năng lực thích nghi công nghệ
nhập, (ii) năng lực sao chép công nghệ đang phổ biến trên thị trường để tiến hành
ĐMCN, (iii) năng lực tiến hành những cải tiến nhỏ đến lớn về sản phẩm và qui trình
công nghệ, (iv) năng lực tiến hành nghiên cứu và triển khai thiết kế quá trình công
nghệ và sáng tạo ra công nghệ hoàn toàn mới [4]. Tuy nhiên, phương pháp đánh giá
năng lực ĐMCN còn thiếu hệ thống về phương pháp, nhiều tiêu chí, khái niệm,
chuẩn so sánh còn chưa thống nhất (Hội thảo về đánh giá trình độ công nghệ sản
xuất do bộ KH&CN tổ chức tháng 2/2009). Cụ thể theo tài liệu hướng dẫn của
WEF, chỉ số chung về năng lực công nghệ đối với các nước phát triển là chỉ số sáng
tạo công nghệ và chỉ số về công nghệ thông tin - truyền thông, còn đối với các nước
đang phát triển là chỉ số về ĐMCN, chỉ số chuyển giao công nghệ và chỉ số công
nghệ thông tin - truyền thông (Tạ Doãn Trịnh, 2007 & Tăng Văn Khiên, 2008).
Trung tâm APCTT khi tiến hành đánh giá năng lực công nghệ đã tập trung vào đánh

lớn nhất thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN; còn chính sách khuyến khích ĐMCN của
nhà nước lại là nhóm yếu tố có tác động yếu nhất. Tuy nhiên, việc khảo sát tình
hình doanh nghiệp liên quan tới ĐMCN lại được phản ánh gián tiếp qua lăng kính
chủ quan của những người được hỏi, trả lời phỏng vấn và hoàn toàn mang tính tự
nguyện, vì vậy kết quả khảo sát có thể có những hạn chế nhất định.


16

- Nguyễn Sỹ Lộc và các tác giả (2006) cho rằng muốn ĐMCN thành công,
các cấp quản lý nhà nước, nhà quản lý doanh nghiệp phải quan tâm tới những yếu tố
tác động trực tiếp và gián tiếp đến quá trình đổi mới, bao gồm: (1) nhóm yếu tố ảnh
hưởng tới nhu cầu công nghệ (yếu tố tâm lý xã hội, kinh tế và đặc tính địa phương
của nhà sử dụng công nghệ tiềm năng; yêu cầu của qui mô đầu tư cho việc ĐMCN;
lợi nhuận của đầu tư công nghệ mang lại; sự tương thích của công nghệ mới và
công nghệ đang sử dụng; lợi thế cạnh tranh có thể nhìn thấy được giữa công nghệ
mới và công nghệ cũ; sự phức tạp và hiệu quả của công nghệ mới; so sánh về chi
phí sản xuất và giá bán sản phẩm giữa công nghệ mới và cũ; môi trường quyết định
các yếu tố liên quan đến chính trị và tổ chức của đơn vị mua; số lượng người mua
và số lượng người mua tiềm năng), và (2) các yếu tố từ phía nhà cung cấp (các hoạt
động của cơ quan truyền bá công nghệ có liên quan tới giá, thị trường, lựa chọn thị
trường, tiếp thị, cơ sở hạ tầng; môi trường chuyển giao như phát triển cơ sở hạ tầng,
thông tin, ưu đãi, luật pháp; điều tiết của chính phủ). Như vậy, các tác giả đã nêu ra
được các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình ĐMCN, tuy nhiên chưa làm rõ được tầm
quan trọng của các yếu tố này trong hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp.
- Thị trường công nghệ là một yếu tố quan trọng tác động đến ĐMCN của
doanh nghiệp. Tuy nhiên hiện nay, thị trường công nghệ ở nước ta chưa đáp ứng
được yêu cầu mua bán, chuyển giao tri thức công nghệ, phí chuyển giao công nghệ
còn cao, thị trường này phụ thuộc rất lớn vào khung pháp lý và việc thương mại hóa
kết quả nghiên cứu. Thương mại hóa kết quả nghiên cứu là một quá trình lâu dài và

đã chỉ ra rằng hiệu quả của chính sách Nhà nước là chưa cao bởi vì: (1) chính sách
chú trọng tới các doanh nghiệp Nhà nước hơn là doanh nghiệp tư nhân, (2) trình độ
hạnh toán, kế toán của doanh nghiệp còn hạn chế và (3) các chính sách chưa chú
trọng tới loại hình và qui mô doanh nghiệp. Vì vậy, cần chỉnh sửa những khuyến
khích về thuế và tín dụng, cụ thể là cần sửa đổi Nghị định 119/199/NĐ-CP cho phù
hợp với hoạt động ĐMCN ở doanh nghiệp; theo đó Nhà nước nên tiếp tục thực hiện
chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu khoa học nhằm từng bước nâng cao
năng lực nội sinh của doanh nghiệp (Cao Thị Thu Anh, 2007).
Nguyễn Việt Hòa và các tác giả (2007, 2011), trong nghiên cứu tác động của
cơ chế, chính sách công đến việc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào KH&CN
đã cho biết các chính sách mà doanh nghiệp quan tâm, các chính sách mà DN ít
quan tâm, từ đó đưa ra phương thức tác động của cơ chế chính sách công và các giải
pháp chính sách nhằm giải quyết các vướng mắc đối với các doanh nghiệp đầu tư
vào KH&CN, đồng thời đưa ra các định hướng chính sách cho hoạt động ĐMCN ở


18

doanh nghiệp. Vì vậy, đã đến lúc cần thay đổi một cách căn bản quan niệm về đối
tượng và cách tiếp cận quản lý nhà nước về KH&CN theo phương pháp tiếp cận
quốc gia về đổi mới và điều này sẽ dẫn đến tất yếu phải thay đổi chức năng, nhiệm
vụ của Bộ chủ quản từ thực hành tác nghiệp sang chủ yếu là tham gia điều phối các
mạng lưới liên kết trong hệ thống đổi mới (Nguyễn Mạnh Quân, 2009).Theo đó, khi
xây dựng chính sách ĐMCN nên coi doanh nghiệp là đối tượng phục vụ chứ không
phải là đối tượng bị quản lý, đồng thời nâng cao vai trò của doanh nghiệp trong hoạt
động R&D thực hiện ĐMCN thành công, đồng thời cần có sự đối thoại của doanh
nghiệp khi Nhà nước xây dựng các chính sách đổi mới.
Lê Xuân Bá và các tác giả (2008) đã nghiên cứu chính sách huy động các
nguồn vốn cho đầu tư ĐMCN của doanh nghiệp; theo đó có thể chia ra làm ba loại
chính sách: (1) chính sách huy động của Nhà nước từ ngân sách nhằm hỗ trợ trực

doanh nghiệp (Mai Hà, 2009). Ngoài ra, còn một số nghiên cứu như: (1) các cơ chế
chính sách thúc đẩy đầu tư ĐMCN và ứng dụng công nghệ cao (CIEM, 2004); (2)
chính sách đầu tư và chi tiêu tài chính cho phát triển khoa học và công nghệ (Bùi
Thiên Sơn, 2010), v.v.

(iii) Nhóm nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về ĐMCN và chính sách
thúc đẩy ĐMCN, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Tổng luận “Hệ thống đổi mới quốc gia của Trung Quốc” đã phân tích về thể
chế, chính sách, nguồn lực của hệ thống đổi mới quốc gia trong đó nhấn mạnh vai
trò ĐMCN nhằm tăng cường năng lực đổi mới của các doanh nghiệp. Qua đó cho
thấy ĐMCN của doanh nghiệp là một trong ba mục tiêu về chính sách để Trung
Quốc thực hiện tham vọng trở thành siêu cường về công nghệ (tăng cường năng lực
ĐMCN, phát triển công nghệ cao và hỗ trợ công nghiệp hóa nền kinh tế). Vì vậy,
Chính phủ Trung Quốc đã tập trung mọi nguồn lực thông qua các biện pháp chính
sách nhằm cải tổ hệ thống KH&CN trong nước, thúc đẩy phát triển hệ thống đổi
mới quốc gia, thực hiện các chương trình nghiên cứu, triển khai trọng điểm nhằm
đạt được mục tiêu nêu trên [73].
Trần Ngọc Ca và các tác giả (2000; 2011), đã nghiên cứu kinh nghiệm quốc
tế về chính sách ĐMCN cho doanh nghiệp, từ đó khuyến nghị việc xây dựng chính
sách ĐMCN cho các doanh nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu cũng chỉ ra phương pháp
phân tích hiện trạng đổi mới và chính sách hỗ trợ ĐMCN, cũng như đánh giá môi
trường chính sách cho ĐMCN; qua đó, đưa ra các kiến nghị chính sách phù hợp với
môi trường quốc tế và các cam kết quốc tế.


20

Hoàng Văn Tuyên (2006) đã khái quát quá trình phát triển chính sách đổi
mới, trong đó có chính sách thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN ở một số quốc gia Châu
Âu và Châu Á. Từ đó đề xuất khung chính sách đổi mới ở Việt Nam dựa trên chính

21

chưa làm rõ được các tiêu chí, mục tiêu chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh
nghiệp ĐMCN từ nhận thức của doanh nghiệp về hoạt động ĐMCN đến tính lan tỏa
do ĐMCN mang lại cho xã hội, cụ thể như: nâng cao nhận thức của doanh nghiệp
về các hoạt động ĐMCN, nâng cao mức đầu tư và gia tăng các hoạt động ĐMCN
của doanh nghiệp, nâng cao năng lực công nghệ, năng lực cạnh tranh và các hoạt
động của doanh nghiệp, đạt được các hiệu ứng lan tỏa do hoạt động đổi mới công
nghệ của doanh nghiệp đem lại. Đồng thời, chưa làm rõ được các chính sách bộ
phận theo cách tiếp cận công cụ chính sách nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN.
Trên cơ sở đó, luận án làm rõ, đề xuất quan điểm về ĐMCN, các hoạt động ĐMCN,
các tiêu chí đánh giá chính sách, trên cơ sở phù hợp với mục tiêu chính sách nhà
nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN theo cách tiếp cận công cụ chính sách,
đứng trên phương diện quản lý nhà nước.

1.2. Phương pháp nghiên cứu
1.2.1. Khung lý thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở tổng quan nghiên cứu các công trình liên quan tới ĐMCN ở trong
nước và ngoài nước. Luận án đưa ra khung lý thuyết nghiên cứu sau (Hình 1.1):
Các

chính

sách

nhà

nước

nhằm


trọng của công nghệ

- Nâng cao mức đầu tư của

bằng công nghệ khác

DN cho ĐMCN

tiên tiến hơn

- Nâng cao năng lực công

- Đầu tư cho các hoạt

nghệ, năng lực cạnh tranh và

động R&D nhằm đổi

nâng cao hiệu quả hoạt động

mới

của doanh nghiệp

nghiệp ĐMCN:

- Chính sách kinh tế
- Chính sách đào
tạo, thông tin, tuyên

liệu trong nước và ngoài
nước liên quan tới
ĐMCN

Xây dựng khung lý

Kiến

thuyết

Phỏng vấn các chuyên
gia trong lĩnh vực
ĐMCN làm việc trong
các viện nghiên cứu,
trường đại học, cơ quan
QLNN về khoa học và
công nghệ

nghị

các

về

chính

giải pháp hoàn

nhà


trạng đổi mới công

sách

nghệ

doanh

nhằm thúc đẩy

Điều tra bằng phiếu hỏi

nghiệp nói chung

doanh nghiệp trên

đối với các doanh nghiệp

và doanh nghiệp

địa bàn Hà Nội

trên địa bàn Hà Nội

trên địa bàn Hà Nội

đổi

nói riêng


chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN đã công bố.
Sau khi có các dữ liệu thứ cấp, nghiên cứu sinh tiến hành đánh giá, lựa chọn,
sử dụng dữ liệu phù hợp, kết hợp với phỏng vấn điện thoại, hỏi ý kiến một số
chuyên gia về ĐMCN làm cơ sở và căn cứ quan trọng để hình thành nên khung lý
thuyết nghiên cứu; đồng thời đánh giá được một phần thực trạng ĐMCN của doanh
nghiệp và thực trạng tác động của chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp
ĐMCN từ năm 2000 đến 2012.

1.2.3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Luận án tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi đối với doanh nghiệp và phỏng
vấn viết (phương pháp anket), phỏng vấn bằng điện thoại đối với các cán bộ làm
việc trong cơ quan quản lý nhà nước về ĐMCN; các phiếu điều tra được thiết kế có
sự tham khảo các tài liệu sau: (i) hướng dẫn của Oslo về chỉ số ĐMCN, (ii) phiếu
thu thập thông tin về sử dụng công nghệ trong sản xuất của Tổng cục thống kê, (iii)
các mẫu phiếu điều tra của Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách KH&CN liên
quan tới chính sách ĐMCN và thực trạng ĐMCN, (iv) mẫu phiếu điều tra năng lực


24

công nghệ của bộ môn Quản lý công nghệ, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, (v)
mẫu phiếu điều tra của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương về chính sách
thúc đẩy đầu tư ĐMCN, (vi) Mẫu phiếu điều tra của Phòng thương mại và công
nghiệp Việt Nam liên quan tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong khủng
hoảng và các mẫu phiếu điều tra khác.
Kích thước mẫu: Nghiên cứu sinh gửi 150 phiếu đến các doanh nghiệp nhỏ
và vừa trên địa bàn Hà Nội (doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo qui mô lao
động và vốn, dựa vào Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ) và thu về được
119 phiếu (chọn mẫu ngẫu nhiên có hệ thống và mẫu thuận tiện); đồng thời phỏng
vấn viết, phỏng vấn qua điện thoại có chọn lọc 10 cán bộ làm việc trong các cơ

1.2.4. Phương pháp xử lý dữ liệu
Sau khi thu thập được các dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, nghiên cứu sinh tiến
hành kiểm tra, làm sạch các dữ liệu cả trước, trong và sau khi mã hóa dữ liệu, nhập
dữ liệu; tiếp đến, sử dụng phầm mềm SPSS 16 làm công cụ để xử lý dữ liệu phục vụ
cho mục tiêu nghiên cứu.
Ngoài ra để xử lý dữ liệu, nghiên cứu sinh còn sử dụng phương pháp mô tả,
thống kê, so sánh, đối chứng, tổng kết thực tiễn và chuyên gia; từ đó đưa ra những
kết luận về thực trạng ĐMCN, thực trạng chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy
doanh nghiệp ĐMCN.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của luận án đã làm rõ được các nội dung cơ bản sau:
- Thứ nhất, luận án đã khái quát các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài
nước liên quan tới ĐMCN và chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp
ĐMCN. Các công trình này tập trung nghiên cứu các nội dung về ĐMCN, trình độ
công nghệ, năng lực công nghệ, vai trò của ĐMCN và các yếu tố ảnh hưởng tới
ĐMCN của doanh nghiệp, cũng như vai trò của nhà nước và chính sách nhà nước
đối với hoạt động ĐMCN.
- Thứ hai, trên cơ sở tổng quan nghiên cứu các công trình trong và ngoài
nước, luận án đưa ra khung lý thuyết nghiên cứu, qui trình nghiên cứu, phương
pháp thu thập dữ liệu, phương pháp xử lý dữ liệụ.
Căn cứ vào tổng quan nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, nghiên cứu sinh
thấy được khoảng trống cần nghiên cứu và xác định được cách tiếp cận để thực hiện
mục tiêu nghiên cứu về chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status