Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông thuộc bộ giao thông vận tải - Pdf 35

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trong điều kiện cạnh tranh và nguồn lực ngày càng khan hiếm, để đứng
vững trên thị trường và không ngừng phát triển, DN cần phải sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực của mình. Muốn sử dụng hiệu quả các nguồn lực có hạn,
DN cần phải đánh giá được hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Nói cách khác,
DN phải đánh giá đúng đắn HQKD của DN.
Đánh giá HQKD có vai trò quan trọng trong quản trị DN. Theo Zairi:
“đánh giá HQKD như là máu của DN, nếu thiếu nó thì không thể ra được
quyết định” [1996:35]. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD tin cậy và phù hợp
không chỉ giúp cho DN đánh giá đúng đắn HQKD mà còn tạo động lực để
động viên mỗi bộ phận, cá nhân trong DN hoạt động có hiệu quả nhằm nâng
cao khả năng cạnh tranh của DN. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD không
chỉ cung cấp thông tin về tình hình thực hiện các mục tiêu ngắn hạn mà còn
cho phép DN dự đoán khả năng thực hiện mục tiêu chiến lược, cung cấp
thông tin về những cải thiện cần thiết trong quy trình kinh doanh nội bộ để đạt
được mục tiêu chiến lược.
Trong hơn hai thập kỷ qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hệ
thống chỉ tiêu đo lường và đánh giá HQKD. Nói về vai trò của hệ thống chỉ
tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả trong DN, R. Kaplan và D. Norton cho
rằng “Đo lường như thế nào thì nhận được như thế” và “Hệ thống đo lường
hiệu quả có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của các nhà quản trị và người
lao động (Kaplan và Norton, 1992). Hai ông cho rằng cũng chỉ ra hạn chế của
hệ thống đo lường và đánh giá hiệu quả chỉ dựa trên các thước đo với các số
liệu tài chính có thể dẫn đến những sai lầm [45]. Các công trình nghiên cứu


2

3

Để đánh giá đúng đắn HQKD, các DN cần phải sử dụng các chỉ tiêu
đánh giá HQKD tin cậy và phù hợp để đo lường HQKD. Kế toán, đặc biệt là
kế toán quản trị có vai trò thiết lập và cung cấp thông tin phục vụ cho quản trị
DN. Thiết kế hệ thống chỉ tiêu đánh giá phù hợp để giúp các nhà quản trị có
thể đánh giá đúng đắn HQKD của DN, đồng thời huy động mọi nguồn lực
vào thực hiện thành công chiến lược của DN là một trong những nhiệm vụ
của kế toán.
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, do vậy GTVT đóng vai trò
quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Khẳng định vai trò quan trọng
của hệ thống GTVT, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã
nhấn mạnh: “GTVT là khâu quan trọng nhất của kết cấu hạ tầng’’ và “GTVT
phải đi trước một bước để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc
dân’. Nói đến sự phát triển của ngành GTVT không thể không kể đến sự đóng
góp của các DN XDCTGT bởi chính sự hoạt động có hiệu quả của các DN
này đã mang lại những thành tích đáng kể cho ngành giao thông Cũng giống
như các DN trong các ngành khác, các DN XDCTGT luôn quan tâm tới
HQKD vì đó là sự sống còn của DN. Tuy nhiên, qua thực tế nghiên cứu, hệ
thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT còn
nhiều bất cập. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong hầu hết các DN
XDCTGTVT vẫn là các chỉ tiêu tài chính dựa trên các số liệu kế toán. Các chỉ
tiêu đánh giá HQKD đều tập trung vào các chỉ tiêu ngắn hạn. Các DN chưa
xây dựng được hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của các DN chưa gắn với
chiến lược [Neely, 2007] Với hệ thống đánh giá HQKD hiện tại, các DN
XDCTGT sẽ khó để thực hiện thành công chiến lược và có thể đứng vững
trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của hệ thống chỉ tiêu đánh giá
hoạt động kinh doanh trong các DN và chức năng của kế toán trong việc thiết


5

Tổng công ty XDCTGT 6; Tổng công ty XDCTGT 8; Tổng công ty xây dựng
Thăng Long và Tổng công ty xây dựng đường thủy. Tác giả không khảo sát
và đánh giá hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD ở các DN kinh doanh đa ngành
nghề hoặc kinh doanh các ngành không phải là XDCTGT thuộc 7 tổng công
ty ở trên. Danh sách các DN được khảo sát được trình bày tại phụ lục 01.
Trong quá trình thu thập thông tin để phục vụ cho đề tài nghiên cứu của
luận án, do hạn chế về thời gian và khả năng thu thập dữ liệu nên kết quả
khảo sát thu được khá khiêm tốn. Trong tổng số 150 phiếu khảo sát gửi đi, tác
giả luận án chỉ thu về được 84 phiếu khảo sát được trả lời. Tuy nhiên, không
phải tất cả các câu hỏi trên các phiếu khảo sát đều được trả lời một cách đúng
đắn. Thông qua các câu hỏi trên phiếu khảo sát tác giả đã loại trừ các câu trả
lời có sự mâu thuẫn để có thể đưa ra kết quả khảo sát tương đối tin cậy nhằm
đánh giá được thực trạng sử dụng các chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN
XDCTGT.
Kết quả khảo sát sau khi loại trừ các kết quả bất hợp lý được tổng hợp
và xử lý để làm cơ sở đánh giá thực trạng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD
của các DN XDCTGT.
4. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở xác định được mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi
nghiên cứu. Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
- Quan điểm và xu hướng đánh giá HQKD trong các DN hiện nay? Các
mô hình đánh giá HQKD đã và đang được áp dụng trong các DN hiện nay?
- Thực trạng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGT
thuộc Bộ GTVT và ảnh hưởng của nó đến HQKD của DN? Hệ thống các chỉ
tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT đã đáp ứng yêu
cầu quản trị ngắn hạn và dài hạn (chiến lược) của các DN này như thế nào?



Nhóm 2: Tình hình sử dụng các chỉ tiêu đánh giá DN theo Quyết định
số 224/2006/QĐ-TTg ngày 06/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ gồm 8 câu
hỏi. Sở dĩ tác giả phải đưa ra câu hỏi cho phần này là vì phần lớn các DN
XDCTGT trong phạm vi nghiên cứu của luận án đều thuộc sở hữu Nhà nước
hoặc CTCP mà Nhà nước chiếm cổ phần chi phối. Theo quy định hiện hành
của Chính phủ, các DN thuộc sở hữu Nhà nước đều phải sử dụng các chỉ tiêu
đánh giá HQKD theo quy định tại Quyết định này.
Nhóm 3: Tình hình sử dụng các chỉ tiêu đánh giá HQKD phục vụ cho
quản trị DN gồm 2 câu hỏi với các chỉ tiêu đánh giá HQKD đang được sử
dụng phổ biến trong các DN và các chỉ tiêu chưa được nêu trong bảng này.
Nhóm 4: Đánh giá tác dụng và sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống chỉ
tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT, tác giả sử
dụng 8 câu hỏi trong đó có 5 câu hỏi về tác dụng của hệ thống chỉ tiêu đánh
giá HQKD đang sử dụng đối với quản trị DN và 3 câu hỏi về sự cần thiết phải
hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN này.
Số lượng phiếu khảo sát được tác giả gửi đi là 150 phiếu nhưng chỉ
nhận được 84 phiếu trả lời thuộc 41 DN. Đối tượng trả lời là các giám đốc
DN, kế toán trưởng và một số người là cán bộ quản lý các phòng ban, nhân
viên kế toán và đội trưởng các đội thi công.
Cùng với phiếu khảo sát, tác giả đã trực tiếp khảo sát thực tế tại một số
DN trên địa bàn Hà Nội. Tại DN, tác giả thông qua các tài liệu kế toán là các
báo cáo tài chính và các báo cáo thường niên để tìm hiểu thực tế các chỉ tiêu
đánh giá HQKD được sử dụng trong các DN. Các cuộc phỏng vấn sâu các nhà
quản trị, kế toán trưởng và đội trưởng thi công được thực hiện để đánh giá sự
hài lòng của họ đối với các chỉ tiêu đánh giá HQKD trong phục vụ quản trị
DN, làm cơ sở cho các quyết định khen thưởng, bổ nhiệm và sự cần thiết phải


8


- Nhu cầu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD phục vụ cho
quản trị DN cũng được thu thập thông qua các buổi phỏng vấn sâu này.
Do hạn chế về thời gian và điều kiện đi lại nên số buổi phỏng vấn sâu
chỉ thực hiện được 07 người, trong đó có 02 giám đốc công ty và 03 trưởng
phòng và 02 người là kế toán trưởng DN.
Kết quả khảo sát được xử lý, tính theo tỷ lệ để phản ánh và rút ra các
kết luận liên quan đến thực trạng sử dụng các chỉ tiêu đánh giá HQKD của
các DN XDCTGT và ý kiến của các cá nhân được phỏng vấn về nhu cầu hoàn
thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của các DN này.
Các phương pháp kỹ thuật được sử dụng để nghiên cứu, thu thập, phân
tích và xử lý số liệu và tài liệu được tác giả sử dụng như sau:
Các phương pháp thu thập và xử lý số liệu, tài liệu: phương pháp điều
tra, phương pháp phân tổ, phương pháp tỷ lệ, v.v... Số liệu thu được từ các
phiếu khảo sát được tác giả tính toán theo tỷ lệ để đánh giá tình hình sử dụng
các chỉ tiêu cũng như sự hài lòng của các nhà quản trị đối với kết quả đánh giá
HQKD từ hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiện tại của DN.
Các phương pháp sử dụng để trình bày kết quả nghiên cứu: phương
pháp so sánh, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp quy nạp,
phương pháp diễn giải, v.v...
5.3. Hạn chế của phương pháp nghiên cứu
Vấn đề đánh giá HQKD chưa được coi trọng ở Việt Nam. Trong phần
lớn các DN, các nhà quản trị DN chỉ coi chúng là những chỉ tiêu để báo cáo
thành tích mà không coi chúng là công cụ để quản trị DN. Nhận thức này đã
ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng khảo sát của luận án. Bên cạnh đó, việc
không thể thực hiện được việc kiểm định kết quả trả lời của những người


10

được khảo sát cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng khảo sát. Kết quả

phù hợp với những thay đổi của môi trường kinh doanh, phương pháp quản trị
và đặc biệt là chiến lược của DN. HQKD và đánh giá HQKD là vấn đề đang
được quan tâm ở cả trong và ngoài nước trong nhiều năm trở lại đây.
7.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước
Ở trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về HQKD. Trong số
các công trình này, có một số công trình tiêu biểu sau:
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang trước đây đã bảo vệ luận án tiến sỹ “Hoàn
thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các DN xây dựng ở Việt
Nam” (2002). Trong luận án này, tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã nghiên cứu
thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các DN xây dựng và đề
xuất hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính cho các DN này. Mặc dù
đạt được những thành công trong đề xuất hoàn thiện chỉ tiêu phân tích tài
chính cho các DN xây dựng nhưng khía cạnh nghiên cứu của luận án tập
trung vào phân tích tài chính. Nội dung của luận án chưa đề cập đến đánh giá
hiệu quả cũng như những tác động của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD đối
với hoạt động của DN và phương hướng hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá
HQKD trong DN.
Luận án tiến sỹ: “Phân tích HQKD trong các DN khai thác khoáng sản
Việt Nam” (2008) của tác giả Nguyễn Thị Mai Hương thực hiện tại trường
Đại học Kinh tế quốc dân năm 2008. Trong luận án của mình, tác giả Nguyễn
Thị Mai Hương đã nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện pháp hoàn thiện
các chỉ tiêu và phương pháp phân tích HQKD trong các DN khai thác khoáng
sản ở Miền Trung. Tương tự như tác giả Nguyễn Ngọc Quang, trong luận án
của mình, tác giả Nguyễn Thị Mai Hương chỉ tập trung nghiên cứu và phân
tích các chỉ tiêu đánh giá HQKD và các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD của


12

DN dưới góc độ hiệu quả tài chính trong ngắn hạn mà chưa đánh giá dưới góc

tập trung đánh giá thực trạng phân tích HQKD của các DN hiện nay trên các
khía cạnh: tài liệu sử dụng cho phân tích, phương pháp phân tích và nội dung
(các chỉ tiêu) phân tích HQKD. Từ thực trạng phân tích HQKD của các DN,
các tác giả nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện phương pháp, nội
dung phân tích và nâng cao chất lượng của tài liệu sử dụng cho phân tích
HQKD. Tiêu biểu cho nhóm đề tài này là các công trình nghiên cứu của các
tác giả sau:
“Phân tích HQKD tại Công ty TNHH Tân Bảo Vũ” của Nguyễn Thị
Nhất Linh (Đại học Kinh tế quốc dân, 2008) nghiên cứu và đánh giá thực
trạng phân tích HQKD của Công ty TNHH Tân Bảo Vũ.
Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện phân tích HQKD tại TCT Tài Nguyên và
Môi Trường Việt Nam” của học viên cao học Vương Thị Thu Hiền (Đại học
Kinh tế quốc dân, 2010) nghiên cứu nội dung và phương pháp phân tích
HQKD của TCT Tài nguyên và Môi trường Việt Nam.
“Hoàn thiện phân tích HQKD ở công ty Viễn Thông Hà Nội” của học
viên cao học Nguyễn Thị Phương Trang (Đại học Kinh tế quốc dân, 2010).
Trong luận văn của mình, tác giả đã nghiên cứu thực trạng phân tích HQKD
của công ty Viễn thông Hà Nội để đề xuất các giải pháp hoàn thiện phân tích
HQKD ở công ty này. Trong số các giải pháp đề xuất, tác giả có đề xuất hoàn
thiện các chỉ tiêu phân tích HQKD của Công ty Viễn thông Hà Nội.
“Phân tích HQKD tại công ty TNHH Hoàng Thủy” của Nguyễn Thị
Hồng Điệp (Đại học Thương Mại, 2009) nghiên cứu thực trạng phân tích
HQKD của công ty TNHH Hoàng Thủy, v.v...


14

“Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích HQKD và phương hướng nâng cao
HQKD tại Viện máy và công cụ nông nghiệp”. Đây là một trong những đề tài gần
với đề tài nghiên cứu trong luận án của tác giả.


Performance

Measurement

Systems:

A

Development Guide” của các tác giả Bititci US, Carrie AS, McDevitt LG trên
tạp chí International Journal of Operations and Production Management, vol
17 số 6 do Nhà xuất bản MCB University Press xuất bản tháng 5 - 6 năm
1997 (trang 522 - 535). Trong bài báo này, các tác giả đã nêu lên vai trò quan
trọng của hệ thống chỉ tiêu đánh giá trong quá trình đánh giá HQKD của DN,
các mô hình liên kết các chỉ tiêu ở các khía cạnh khác nhau của quá trình kinh
doanh và đề xuất các mô hình tham khảo để đánh giá HQKD như các mô hình
của châu Âu (The European Model for Business Excellence - EFQM, 1995);
mô hình Business Classification Model của Puttick và Hill (1993); mô hình
Systems Classification Model của Ginzberg và mô hình Performance
Measures Classification Model của Dixon, Nanni and Vollmann (1990).
Cuốn sách “Creating Shareholder Value” của tác giả Alfred Rappaport
do Nhà xuất bản Free Press xuất bản lần thứ 2 năm 1998 cung cấp cho các
nhà quản trị và cổ đông các kiến thức cần thiết liên quan đến lập kế hoạch
kinh doanh, đánh giá HQKD và chính sách tiền lương trong DN, v.v... . Vấn
đề đánh giá HQKD trong DN được tác giả nhấn mạnh qua việc trả lời ba câu
hỏi: (1) Hệ thống đánh giá HQKD như thế nào là phù hợp với DN (What is
the most appropriate measure of performance) (2) Giới hạn mục tiêu của các
chỉ tiêu đánh giá HQKD là bao nhiêu (What is the most appropriate target
level of performance) và (3) làm thế nào để kết nối khen thưởng với các chỉ
tiêu đánh giá HQKD của DN (How should rewards be linked to performance).

giả đã chỉ ra những khoảng cách giữa hệ thống đánh giá HQKD với mô hình DN
hiệu quả đồng thời đề xuất giải pháp thu hẹp khoảng cách giữa chúng.
Bài báo “Performance efficiency evaluation of the Taiwan’s shipping
industry: an application of data envelopment analysis” của các tác giả Wen -


17

Cheng Lin, Chin - Feng Liu (Prof.), Ching - Wu Chu (Prof.) đăng trên tạp chí
Proceedings of the Eastern Asia Society for Transportation Studies, số 5 năm
2005 (các trang 467 - 476) giới thiệu về hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
gồm các chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính áp dụng trong ngành công
nghiệp vận tải biển của Đài Loan.
Cuốn sách “Key Management Ratios: The clearest guide to the critical
numbers that drive your business” (2006) của tác giả Ciaran Walsh viết về
các chỉ tiêu quan trọng sử dụng cho quản trị DN. Trong cuốn sách này, tác giả
nhấn mạnh đến các chỉ tiêu đánh giá HQKD như: doanh lợi vốn chủ sở hữu,
doanh lợi tổng tài chính, doanh lợi vốn đầu tư. Tác giả cũng đưa ra tiêu chuẩn
để đánh giá HQKD của DN trên các chỉ tiêu trên.
Cuốn sách “Performance measurement and management” của
Malcolm Smith do Nhà xuất bản Sage phát hành năm 2005 nói về vai trò của
kế toán quản trị chiến lược và các phương án đánh giá HQKD của DN tại
chương 3 “Performance Measurement and Analysis”.
Bài báo “Measurement of corporate performance through balanced
scorecard: an overview” của các tác giả Samir Ghosh và Subrata Mukherjee
giảng viên Đại học Vidyasagar đăng trên tạp chí “Vidyasagar University
Journal of Commerce” số 11, tháng 3 năm 2006 phân tích các ưu điểm khi sử
dụng Bảng điểm cân bằng để đánh giá HQKD của DN.
Bài báo “Performance Measurement: Questions for Tomorrow” của
các tác giả Umit Bititci, Viktor Dörfler, Sai Nudurupati1 (Đại học Tổng hợp

giả Robert Kaplan, giáo sư kế toán của đại học Harvard và Dawid Norton,
giám đốc điều hành của Công ty Nolan Norton về hệ thống đánh giá HQKD
chiến lược bằng Bảng điểm cân bằng (Balanced Scorecard). Điển hình trong
các công trình nghiên cứu của các tác giả này là các bài báo và cuốn sách sau:


19

- Cuốn sách "The balanced scorecard: Translating strategy into action"
do nhà xuất bản của Đại học Harvard phát hành năm 1996. Trong cuốn sách
này, các tác giả đã trình bày những hạn chế của hệ thống chỉ tiêu đánh giá
HQKD chỉ dựa trên các chỉ tiêu tài chính và sự cần thiết phải bổ sung các chỉ
tiêu phi tài chính trong hệ thống đánh giá. Các tác giả đề xuất xây dựng hệ
thống chỉ tiêu đánh giá HQKD theo mô hình bảng điểm cân bằng bao gồm
các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính liên hệ với nhau theo quan hệ nhân quả
để diễn giải chiến lược thành các mục tiêu hoạt động cụ thể trên các khía
cạnh: tài chính, khách hàng, quy trình kinh doanh nội bộ, nhận thức và phát
triển. Trong cuốn sách này các tác giả cũng đi sâu phân tích và trình bày vai
trò quan trọng của mỗi khía cạnh đối với sự thực hiện thành công chiến lược
của DN và cách thức xây dựng bảng điểm cân bằng để diễn giải chiến lược
kinh doanh của DN.
- Bài báo "Transforming the balanced scorecard from performance
measurement to strategic management" đăng trên tạp chí Accounting
Horizons số 15 năm 2001 (trang 87 - 104).
- Bài báo “The Balanced Scorecard: Measures That Drive Performance”,
trên tạp chí Harvard Business Review, số tháng 1, 2 năm 1992 (pp. 71 - 79).
Thông qua cuốn sách và các bài báo trên, các tác giả cho rằng: hệ thống
đánh giá hiệu quả phụ thuộc quá nhiều vào các chỉ tiêu tài chính có thể dẫn
đến sai lầm của các nhà quản trị khi đánh giá HQKD của DN và có thể thúc
đẩy các hành vi bất lợi cho DN. Chẳng hạn nhà quản trị có thể từ chối cơ hội

các chỉ tiêu phi tài chính với việc thực hiện thành công chiến lược của DN.
- Đưa ra các đề xuất xây dựng hệ thống đánh giá gắn với mục tiêu
chiến lược của DN bao gồm các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, các chỉ tiêu


21

ngắn hạn gắn với các chỉ tiêu dài hạn và mục tiêu chiến lược, v.v... liên hệ
chặt chẽ với nhau trong hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả.
- Đánh giá HQKD gắn với mục tiêu thực hiện chiến lược, đánh giá tác
động của các nhân tố tới việc thực hiện thành công chiến lược.
Từ nghiên cứu các công trình ở trong và ngoài nước nêu trên, tác giả
rút ra các kết luận sau:
- Các công trình nghiên cứu trong nước chưa nhận thấy tầm quan trọng
của việc sử dụng các chỉ tiêu phi tài chính để đánh giá HQKD của các DN và
việc đánh giá mới tập trung vào ngắn hạn, chưa có các chỉ tiêu đánh giá dài
hạn, gắn với chiến lược.
Một hạn chế nữa của các công trình nghiên cứu trong nước là mới chỉ
tập trung đánh giá HQKD của toàn DN, chưa đánh giá HQKD của từng bộ
phận trong DN. Các nghiên cứu này mới chỉ được thực hiện trên góc độ phân
tích các chỉ tiêu đánh giá HQKD, chưa có các công trình nghiên cứu hoàn
thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD để giúp cho các nhà quản trị có thể
kiểm soát và đánh giá đúng đắn HQKD của các DN.
- Các công trình nghiên cứu của nước ngoài đã chỉ ra được những hạn
chế của hệ thống đánh giá truyền thống nếu chỉ dựa vào các chỉ tiêu tài chính,
đồng thời các công trình này cũng đã đánh giá vai trò ngày càng quan trọng
cũng như sự cần thiết của các chỉ tiêu phi tài chính đối với việc thực hiện
thành công chiến lược của DN.
- Mặc dù chỉ rõ tầm quan trọng của các chỉ tiêu phi tài chính nhưng các
công trình nghiên cứu của nước ngoài không phủ nhận vai trò của các chỉ tiêu

1.1. VAI TRÒ CỦA ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1.1. Hiệu quả kinh doanh và đánh giá hiệu quả kinh doanh
1.1.1.1. Các quan điểm về hiệu quả kinh doanh
Theo Luật DN 2005, hoạt động kinh doanh là: “Việc thực hiện liên tục
một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến
tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh
lợi” [23].
Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt và của cải của xã hội
ngày càng khan hiếm, vấn đề đánh giá HQKD và tìm các biện pháp nâng cao
HQKD được các DN và các nhà kinh tế quan tâm từ lâu. HQKD là một khái
niệm rộng, được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào từng cá nhân
trong những hoàn cảnh cụ thể.
HQKD thường được hiểu là việc sử dụng ít nguồn lực kinh tế nhất để đạt
được mục tiêu mong muốn hoặc đạt được nhiều lợi ích nhất từ việc sử dụng một
số nguồn lực nhất định trong kinh doanh. Phần lớn các nhà kinh tế đều cho rằng
HQKD phải gắn với mục tiêu kinh tế cụ thể. Đại diện cho quan điểm này là nhà
kinh tế học người Anh Paul A. Sammuelson. Theo ông: “Hiệu quả là sử dụng
một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu
mong muốn của con người” [24].


24

Một số nhà kinh tế học khác cho rằng những thành tựu, thành tích hoặc
kết quả công việc mang lại sẽ phản ánh HQKD bởi vì chúng cung cấp mối
liên kết chặt chẽ với các mục tiêu chiến lược của tổ chức. Ở góc độ khác,
HQKD được hiểu là một phạm trù kinh tế phức tạp, phản ánh trình độ sử
dụng chi phí để tạo ra kết quả mong muốn. Theo quan điểm của kinh tế vi mô:
“HQKD là một phạm trù kinh tế, là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp. Đánh

VIII ghi rõ: “lấy suất sinh lợi của tiền vốn là tiêu chuẩn chủ yếu đánh giá hiệu
quả sản xuất kinh doanh trong các DN kinh doanh, lấy kết quả thực hiện các
chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu đánh giá hiệu quả của DN” [9].
Theo quan điểm từ nghị quyết của Đại hội Đảng, HQKD của các DN gồm cả
hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Mục tiêu chủ yếu của các DN là lợi
nhuận, các DN sẽ dùng mọi biện pháp để đạt được mục tiêu đã đề ra. Trong
quá trình phấn đấu để thu được lợi nhuận, DN có thể vô tình làm ảnh hưởng
đến các DN khác hoặc ảnh hưởng tới môi trường chung của toàn xã hội. Các
tác giả PGS. TS. Nguyễn Sỹ Thịnh, PGS. TS. Lê Sỹ Thiệp, và PGS. TS.
Nguyễn Kế Tuấn cho rằng: “Hiệu quả lao động xã hội được xác định bằng
cách so sánh đại lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng chi phí
lao động xã hội” [25, tr. 19].
Đồng nhất với quan điểm trên, một số tác giả cũng quan niệm HQKD
gồm cả hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội. Theo TS. Ngô Quang Huấn
(Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh): HQKD bao gồm cả hiệu quả tài
chính và hiệu quả xã hội, do vậy khi đánh giá HQKD cần phải xem xét các
chỉ tiêu này [15]. Hiệu quả tài chính chỉ là một phần của HQKD. Hiệu quả tài
chính chỉ tập trung phản ánh các nguồn lực tài chính của DN được sử dụng
như thế nào trong khi HQKD xem xét toàn bộ các mặt của hoạt động kinh
doanh như tổ chức đầu vào (cung ứng vật tư, tuyển dụng nhân lực, mua sắm
thiết bị), vận hành (sản xuất sản phẩm), tổ chức đầu ra (quảng cáo giới thiệu,
phân phối sản phẩm, thực hiện các dịch vụ sau bán hàng), v.v...



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status