TIỂU LUẬN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH ở VIỆT NAM - Pdf 35

Ketnooi.com diễn đàn công nghê, giáo dục

Lời Mở đầu

Xuất hiện trên thị trường Việt Nam từ năm 1998 nhưng đến nay “chứng
khoán phái sinh” chưa được biết đến với tư cách là một công cụ bảo hiểm rủi ro
hữu hiệu cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước
những khó khăn, những cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, những
biến động bất thường về nền kinh tế toàn cầu, những tăng giảm đột ngột của giá
xăng, dầu thế giới, những bấp bênh của tỷ giá đồng USD… đang là những vấn
đề đáng lo lắng cho những nhà đầu tư, những doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Vậy
phải làm gì để giảm bớt rủi ro? Để tối thiểu tổn thất và tối đa hoá lợi nhuận?
Một đòi hỏi cấp thiết đối với thị trường là phải đa dạng hoá các sản phẩm
tài chính phái sinh, nâng cao chất lượng các dịch vụ hiện có, khuyến khích các
doanh nghiệp tích cực tham gia vào thị trường này để loại bỏ bớt những rủi ro
không đáng có.
2. Mục đích của đề tài
Đề tài này tập trung nghiên cứu thực trạng về thị trường chứng khoán phái
sinh ở Việt Nam, tìm ra nguyên nhân, tồn tại và kiến nghị những giải pháp, định
hướng cho sự phát triển của thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam trong
tương lai.

1


Ketnooi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu:
- Quá trình hình thành và của dụng các công cụ tài chính phái sinh ở Việt

Việt Nam
6. Những từ viết tắt trong khoá luận
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHNN: Ngân hàng nhà nước
TTCK: Thị trường chứng khoán
UBCK: Uỷ ban chứng khoán
TCTD: Tổ chức tín dụng
Khoá luận được thực hiện vào thời điểm thị trường chứng khoán phái sinh
Việt Nam còn rất mới mẻ, chưa đựơc nhiều người đón nhận và đang bước từng
bước nhỏ trong giai đoạn phát triển. Chính vì vậy khoá luận của em còn rất nhiều
thiếu sót, em mong muốn nhận được sự tham gia góp ý của các thầy cô và các
bạn để khoá luận thêm hoàn thiện.

chương I

3


Ketnooi.com diễn đàn công nghê, giáo dục

tổng quan về thị trường chứng khoán phái sinh

Thị trường tài chính phái sinh xuất hiện là kết quả của một quá trình phát
triển cấu trúc thị trường trong thời gian dài. Trong những thập kỷ gần đây, thị
trường tài chính phái sinh phát triển mạnh về khối lượng giao dịch cũng như
mức độ quan trọng. Khi nhắc đến thị trường tập trung và thị trường OTC – phi
tập trung, người ta chỉ nghĩ đến đó là nơi giao dịch chứng khoán, hàng hoá… mà
ít ai nghĩ đến đó còn là nơi diễn ra các giao dịch tài chính phái sinh - một công
cụ phòng ngừa rủi ro cho các doanh nghiệp. Việc sử dụng các sản phẩm phái
sinh hiện nay là một nhu cầu thiết yếu đối với các nhà đầu tư nhằm tối đa hoá lợi

của sản phẩm chỉnh nên họ sử dụng nghiệp vụ này như một đòn bẩy đặc biệt.
• Người cơ lợi (thực hiện lợi nhuận mà không có rủi ro): bằng cách sử
dụng chênh lệch giá giữa các thị trường tài chính khác nhau, họ đã sử dụng rất
hiệu quả các nghiệp vụ phái sinh để hưởng chênh lệch giá.
Các nghiệp vụ tài chính phái sinh đều mang lại lợi ích cho các thành viên,
chính vì vậy trên thị trường tài chính quốc tế, nghiệp vụ này đã phát triển rất
mạnh với các nghiệp vụ phái sinh đa dạng và thị trường phái sinh đóng vai trò
quan trọng trong hệ thống tài chính toàn cầu.
2. Công cụ tài chính phái sinh
2.1. Khái niệm
Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành
trên cơ sở những công cụ tài chính đã có nhằm hiều mục tiêu khác nhau như
phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận. Giá trị của công cụ phái

5


Ketnooi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỉ giá, trị giá cổ phiếu, trái
phiếu, chỉ số chứng khoán, lãi suất….Công cụ tài chính phái sinh xuất hiện lần
đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn rủi ro, trong đó thường được sử
dụng nhiều nhất là hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn và hợp
đồng hoán đổi. Những công cụ trên sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các
đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu hoặc để đảm bảo rằng nếu giá của cổ
phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ
được duy trì ở mức ban đầu.
Ingersoll – tác giả cuốn sách Theory of Financial Decision Making – Lý
thuyết quyết định tài chính (1987) đã đưa ra định nghĩa về chứng khoán phái
sinh như sau:
Một hợp đồng tài chính được gọi là một chứng khoán phái sinh

+ Giao dịch chứng khoán phái sinh góp phần giảm chi phí giao dịch, hạn
chế rủi ro… Từ đó, tạo nên những lợi ích thiết thực cho các chủ thể tham gia,
góp phần ổn định và phát triển thị trường tài chính.
• Được thực hiện vào một ngày trong tương lai.
2.2. Các loại chứng khoán phái sinh cơ bản
2.2.1. Hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn là công cụ lâu đời nhất, và có lẽ vì lí do đó mà nó ít
phức tạp nhất.
Hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, để
mua hoặc bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá đã thoả thuận ngày
hôm nay. Nếu vào ngày đáo hạn, giá thực tế cao hơn giá hợp đồng thì người sở
hữu hợp đồng sẽ kiếm được lợi nhuận, nếu ngược lại thì người sở hữu hợp đồng
sẽ chịu một khoản lỗ.
Ví dụ: Vào ngày 01/04 , A ký hợp đồng kỳ hạn mua của B 10 tấn cà phê kỳ hạn
3 tháng với giá 925USD/tấn. Sau 3 tháng, tức vào ngày 01/07, B phải bán cho A

7


Ketnooi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
10 tấn cà phê với giá 925USD/tấn và A phải mua 10 tấn cà phê của B với giá đó,
cho dù giá cà phê trên thị trường lúc đó là bao nhiêu đi nữa.
Bản thân hợp đồng kỳ hạn mang trong mình 3 loại rủi ro:
Thứ 1, nếu giá thực tế vào ngày đáo hạn hợp đồng cao hơn giá mong đợi,
rủi ro vốn có của công ty sẽ làm giảm giá trị công ty nhưng sự sụt giảm này sẽ
được đền bù bằng lợi nhuận của hợp đồng kỳ hạn. Vì vậy hợp đồng kỳ hạn cung
cấp một cách phòng ngừa rủi ro hoàn hảo.
Thứ 2, rủi ro tín dụng hay rủi ro không có khả năng chi trả của hợp đồng.
Rủi ro này có hai chiều, người sở hữu hợp đồng hoặc là người nhận được hoặc là
người chi trả, phụ thuộc vào biến động giá cả thực tế của tài sản cơ sở.

giới ăn hoa hồng, họ sẽ thực hiện mua bán theo lệnh của nhà đầu tư và tính hoa
hồng; thứ 2 là người tự đầu tư.
• Để tránh những rủi ro khi thực hiện hợp đồng tương lai, do người mua
hay người bán tháo lui khỏi hợp đồng vì sự biến động giá trên thị trường bất lợi
cho mình, hoặc do đến thời điểm thanh toán, người mua không có khả năng tài
chính thì người môi giới phải đưa ra những quy định về yêu cầu dự trữ tối thiểu
đối với người ký hợp đồng tương lai với người môi giới. Khoản tiền dự trữ này
được giữ lại một tài khoản của người đầu tư mở tại văn phòng chứng khoán.
Điểm khác nhau giữa Hợp đồng kỳ hạn và Hợp đồng tương lai
• Hợp đồng tương lai là những hợp đồng được chuẩn hoá ( về loại tài sản
cở sở mua bán, số lượng các đơn vị tài sản cơ sở mua bán, thể thức thanh toán,
kỳ hạn...). Hợp đồng kỳ hạn là những hợp đồng không được chuẩn hoá, các chi
tiết là do hai bên đàm phán quy định cụ thể.
• Hợp đồng tương lai chỉ được giao dịch các công cụ tương lai được niêm
yết tại các Sở giao dịch chứng khoán. Như vậy, giao dịch hợp đồng tương lai đã

9


Ketnooi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
được các sở giao dịch chuẩn hoá và khi đó các bên tham gia giao dịch không
nhất thiết phải biết nhau. Hợp đồng kỳ hạn có thể áp dụng đối với chứng khoán
hay hàng hoá .
• Hợp đồng tương lai được thoả thuận và mua bán qua người môi giới.
Hợp đồng kỳ hạn được thoả thuận và mua bán trực tiếp giữa hai bên kí kết hợp
đồng.
• Hợp đồng tương lai được mua bán trên thị trường chứng khoán tập trung.
Hợp đồng kỳ hạn được mua bán trên thị trường phi tập trung.
• Tính thị trường: Hợp đồng kỳ hạn tiêu chuẩn thường không có giao dịch
thứ cấp, tức là khi muốn thay đổi các bên đối tác tham gia hợp đồng kỳ hạn, phải

bán đơn thuần vào ngày đáo hạn, thay đổi trong giá trị hợp đồng giao sau được
thực hiện thanh toán vào cuối ngày giao dịch. Điều này có nghĩa hợp đồng giao
sau có tính chất thanh toán tiền mặt hay điều chỉnh theo ngày, tức thời hạn giao
sau được rút ngắn lại. Nhờ thanh thế mà rủi ro thanh toán được giảm đi.
+ Thứ 2, hợp đồng giao sau yêu cầu tất cả các thành viên tham gia thị
trường, người bán và người mua đều như nhau, phải thực hiện một khoản ký gửi
gọi là ký quỹ. Nếu hợp đồng giao sau tăng giá trị trong ngày giao dịch, mức tăng
này sẽ được cộng vào tài khoản ký quỹ vào cuối ngày. Ngược lại, nếu hợp đồng
bị giảm giá trị, thua lỗ sẽ được trừ ra. Và nếu số dư tài khoản ký quỹ giảm xuống
mức tối thiểu đã thoả thuận trước đó thì sẽ bị yêu cầu nộp một khoản ký gửi bổ
sung, tài khoản ký quỹ phải được bổ sung như cũ.
Hợp đồng giao sau rất giống với một danh mục các hợp đồng kỳ hạn. Tuy
nhiên, hợp đồng giao sau và một danh mục các hợp đồng ỳ hạn chỉ giống nhau
khi lãi suất là có thể xác định trước, tức là biết được một cách chắc chắn. Vào lúc
đóng cửa mỗi ngày, các hợp đồng giao sau mag tính kỳ hạn đang tồn tại sẽ được
thanh toán cũng như một hợp đồng mới được ký kết. Tính chất thanh toán hàng

11


Ketnooi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
ngày kết hợp với yêu cầu ký quỹ cho phép hợp đồng giao sau giảm thiểu đáng kể
rủi ro tín dụng vốn có của hợp đồng kỳ hạn.

2.2.3. Quyền chọn: Mua và Bán
Quyền chọn : là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó
cho người mua quyền nhưng không phải nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản
nào đó vào ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay. Mặc dù
các quyền chọn được giao dịch trong một thị trường có tổ chức nhưng phần lớn
các giao dịch quyền chọn được quản lý riêng rẽ giữa hai bên. Những người này

phiếu, nhà đầu tư sau khi phân tích đưa ra dự báo giá cổ phiếu sẽ tăng lên
khoảng 200.000đồng. Hiện tại, nếu muốn mua 1000 cổ phiếu của AB thì nhà đầu
tư phải bỏ ra 100.000.000đ để mua nó.
Giả sử sau một thời gian giá cổ phiếu không như dự báo, giảm xuống còn
60.000đ thì nhà đầu tư lỗ 40.000.000đ. Để giảm thiểu rủi ro mà vẫn thực hiện
theo dự báo, nhà đầu tư mua quyền chọn mua: mua 1000 cổ phiếu của AB với
giá 100.000đ/cổ phiếu, trong thời gian 3 tháng với mức phí quyền chọn là
20.000đ/cổ phiếu x 1000 cổ phiếu = 20.000.000đ. Trong thời gian 3 tháng trên
nếu giá cổ phiếu AB tăng như dự báo lên mức 200.000đ/cổ phiếu thì nhà đầu tư
sẽ thu được: 1000cổ phiếu x 200.000đ = 200.000.000 đ tức là nhà đầu tư lãi
100.000.000đ - 20.000.000đ phí mua quyền chọn = 80.000.000đ. Trong trường
hợp giá cổ phiếu không tăng mà liên tục giảm cho đến hết thời gian 3 tháng thì
nhà đầu tư có quyền không thực hiện việc mua của mình và chỉ chịu mất
20.000.000 đồng tiền phía quyền chọn mua.
Quyền chọn bán:

13


Ketnooi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
Người nắm giữ một lượng tài sản mua phí quyền chọn bán của nhà cung
cấp quyền chọn bán để đảm bảo rằng tài sản của mình sẽ chắc chắn được bán ở
một mức giá nhất định trong tương lai.
Ví dụ: Nhà đầu tư nắm giữ 1000 cổ phiếu của AB trên với mức giá thị trường
hiện tại là 100.000đ/ cổ phiếu. Nhà đầu tư lo lắng về giá cổ phiếu có thể giảm
xuống còn 70.000đ/cổ phiếu, vậy nhà đầu tư sẽ lỗ 30.000.000đ.
Nhà đầu tư sẽ mua quyền chọn bán với mức phí 20.000đ/cổ phiếu x 1000 cổ
phiếu = 20.000.000đ để đảm bảo cổ phiếu của mình lúc nào cũng có thể bán
được với giá 100.000đ/cổ phiếu. Nghĩa là nếu giá cổ phiếu giảm xuống dưới
100.000đ/cổ phiếu thì nhà đầu tư có thể sẽ có lợi vì được bán cổ phiếu ở mức cao

2.2.5.2. Repo chứng khoán
Repo chứng khoán được hiểu là một giao dịch trong đó các chứng khoán
được mua ở tỉ lệ giao ngay và được mua lại ở tỉ lệ kì hạn. Về bản chất thì nghiệp
vụ repo giống như một khoản vay có bảo đảm bằng các chứng khoán và các tài
sản bảo đảm khác. Về hình thức biểu hiện thì repo chứng khoán sử dụng một hợp
đồng mua lại trong đó quy định các điều khoản mà mỗi bên tham gia phải tôn
trọng.
Một hợp đồng repo sẽ quy định rõ các điều khoản về:
• Tư cách của các bên tham gia giao dịch
• Quyền hạn và nghĩa vụ của mỗi bên
• Tài sản đảm bảo
• Tài sản dùng để repo: trái phiếu, cổ phiếu hay các chứng khoán khác.
• Cách tính lãi suất repo, thời hạn của hợp đồng, phương pháp định giá lại
chứng khoán cơ sở, biên độ dao động, khoản giảm trừ.
• Các điều khoản xử lý các vấn đề phát sinh trong thời gian thực hiện repo.
Việc thực hiện nghiệp vụ repo góp phần làm tăng tính thanh khoản cho thị
trường, tăng hiệu quả đồng vốn kinh doanh cho nhà đầu tư và đem lại cho nhà

15


Ketnooi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
đầu tư một số lợi ích như: vẫn có quyền sở hữu cổ phiếu khi mua lại cổ phiếu đã
bán sau kỳ hạn nhất định, vẫn được hưởng cổ tức trong thời hạn chuyển
nhượng...
II. ứng dụng của các công cụ tài chính phái sinh
1. Quản trị rủi ro
Thị trường sản phẩm phái sinh cho phép những người muốn làm giảm rủi
ro của mình chuyển giao rủi ro cho những người sẵn sàng chấp nhận nó, đó là
những nhà đầu cơ. Thị trường này rất có hiệu quả trong việc phân phối lại rủi ro

nó lan toả ra toàn xã hội.

2. Thông tin hiệu quả hình thành giá
Thị trường kỳ hạn và tương lai là nguồn thông tin quan trọng đối với việc
hình thành giá cả.
Có rất nhiều hàng hoá được giao dịch trên thị trường tương lai nhưng thị
trường giao ngay của nó rất rộng lớn và phân tán nên rất khó có thể xác định giá
giao ngay của chúng, vì vậy thị trường tương lai được xem là một công cụ chủ
yếu để xác định giá giao ngay của tài sản và thường là giá tương lai của những
giao dịch sớm nhất sẽ được xác định là giá giao ngay của chúng. Ngoài ra thị
trường giao sau trên thế giới thường nhộn nhịp hơn nên các thông tin cung cấp
trên thị trường này có tính tin cậy cao hơn. Những thông tin được cung cấp trên
thị trường phái sinh dù trực tiếp hay gián tiếp đều góp phần hình thành giá giao
ngay trong tương lai một cách có hiệu quả mà những người tham gia thị trường
có thể chốt lại trong giới hạn chấp nhận của mình.
3. Các lợi thế về hoạt động và tính hiệu quả

17


Ketnooi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
3.1. Lợi thế
Thứ 1, chi phí giao dịch thấp hơn. Điều này làm cho việc chuyển hướng từ
các giao dịch giao ngay sang phái sinh ngày càng dễ dàng và hấp dẫn hơn.
Thứ 2, tính thanh khoản cao hơn hẳn so với thị trường giao ngay. Trước
hết đó là yêu cầu một mức vốn để tham gia thị trường là tương đối thấp. Hơn
nữa, tỷ suất sinh lời và rủi ro có thể được điều chỉnh ở bất cứ mức độ nào như
mong muốn.
Thứ 3, các giao dịch bán khống được thực hiện dễ dàng hơn. Ngoài ra, các
nhà đầu tư có thể tìm kiếm được những khoản lợi nhuận đáng kể từ chênh lệch

các hoạt động khác của tổ chức tài chính như huy động vốn, cho vay, dịch vụ
thanh toán, tư vấn .... cũng tăng cao và hiệu quả hơn.
Như vậy, công cụ tài chính phái sinh là sản phẩm của nền kinh tế hiện đại, kỹ
thuật tài chính này đòi hỏi một trình độ hiểu biết và phát triển nhất định của bất
kì nền kinh tế nào.
III. Kinh nghiệm phát triển thị trường chứng khoán phái sinh của một số
nước
1. Sự ra đời của thị trường quyền chọn
Có rất nhiều loại công cụ tài chính phái sinh khác nhau trên thị trường
nhưng có thể thấy giao dịch quyền chọn là giao dịch được ưu tiên hơn cả về
những ích lợi mà nó đem đến.
Điểm lại lịch sử hình thành quyền chọn trên thị trường ta có thể thấy sự
phát triển của thị trường này trên thế giới, qua đó thấy được nhu cầu của những
nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.
Giao dịch đầu tiên về quyền chọn bán và quyền chọn mua bắt đầu ở Châu
Âu và Mỹ từ đầu thế kỉ XVIII. Những năm đầu thị trường hoạt động thất bại vì
nạn tham nhũng.

19


Ketnooi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
Vào đầu những năm 1900, một nhóm công ty đã thành lập Hiệp hội những
nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn. Mục đích của hiệp hội này là cung cấp
kỹ thuật nhằm đưa những người mua và những người bán lại với nhau. Nhà đầu
tư muốn mua Quyền chọn liên hệ với một công ty thành viên, công ty này sẽ cố
gắng tìm người bán quyền chọn từ những khách hàng của họ hoặc của công ty
thành viên khác, nếu không có người bán, công ty sẽ tự phát hành quyền chọn
với giá cả thích hợp. Thị trường hoạt động theo cách này gọi là thị trường OTC,
các nhà kinh doanh không gặp nhau trên sàn giao dịch của thị trường.

dấu những bước phát triển của thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh.

2. Sở giao dịch chứng khoán Philadelphia
Philadelphia là địa điểm giao dịch quyền chọn lớn nhất và giao dịch kì hạn
kì hạn lớn thứ 3 của Mỹ. Sau đây là đôi nét về quá trình hình thành của Sàn giao
dịch này.
Năm 1790 Sở giao dịch chứng khoán Philadelphia ra đời.
Năm 1972, nghề môi giới chứng khoán trở thành một nghề kinh doanh
phổ biến ở Philadelphia sau khi “Ban điều hành Philadelphia của những người
môi giới ra đời”.
Sự phát triển của máy vi tính trong những năm 1960 và 1970 đã làm thay
đổi mọi việc kinh doanh và kinh doanh chứng khoán cũng không phải là ngoại
lệ. Vào thời gian giữa của sự phát triển kĩ thuật cho việc giao dịch chứng khoán,
Sở giao dịch chứng khoán Philadelphia tiếp tục chương trình công kích của nó
về việc đổi mới sản phẩm bằng việc cho vào danh sách “quyền chọn cổ phiếu”
năm 1975. Vì vậy, Philadelphia trở thành sở giao dịch đầu tiên ghi vào danh sách
quyền chọn cổ phần cho việc mua bán.

21


Ketnooi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
Tháng 4 năm 1988, Sở giao dịch đã lợi dụng việc luôn bán kỹ thuật điện
dùng vào sàn giao dịch chứng khoán để xây dựng một hệ thống mới thích hợp
với việc giao dịch quyền chọn. Hệ thống thị trường quyền chọn tự động hoá cho
phép việc giao hàng điện tử những đơn đặt hàng từ phía các công ty thành viên
đến sàn giao dịch, tự động thực hiện và xác nhận đã hoàn thành những đơn đặt
hàng đó.
Tuy nhiên, sự phát minh phổ biến nhất của thập kỉ 20 là việc Sàn giao dịch
chứng khoán Philadelphia cho ra đời quyền chọn tiền tệ năm 1982. Đến năm

mới mẻ, xa lạ với hầu hết tất cả mọi người. Do đó, qua việc nghiên cứu thực
trạng sử dụng chứng khoán phái sinh ở Việt Nam, em muốn đánh giá những
điểm tốt và hạn chế, từ đó rút ra kinh nghiệm phát triển cho thị trường chứng
khoán phái sinh Việt Nam trong thời gian tới.
i. Sự hình thành và triển vọng của thị trường chứng khoán phái sinh Việt
Nam
1. Quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng tài chính Việt Nam
Năm 1986, sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo trong gần
20 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn, mở ra một thời kỳ phát triển
mới cho nền kinh tế Việt Nam. Trong đó, vai trò của đổi mới hoạt động ngân
hàng đã đóng góp một phần rất quan trọng đối với nề kinh tế.
Ngày 26/03/1988, Chính phủ đã ban hành nghị định 53/HĐBT hình thành
hệ thống ngân hàng hai cấp, trong đó NHNN làm chức năng quản lý nhà nước về
tiền tệ, tín dụng và ngân hàng chuyên doanh trực tiếp kinh doanh tiền tệ và dịch
vụ ngân hàng.

23


Ketnooi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
Hai pháp lệnh về Ngân hàng năm 1990 đã đánh dấu sự ra đời của hệ thống
NHTM ở Việt Nam và góp phần đa dạng hoá hoạt động ngân hàng cả về mặt
hình thức sở hữu cũng như số lượng ngân hàng.
Sau đây là những số liệu cụ thể về số lượng và hình thức sở hữu ngân
hàng thương mại qua các giai đoạn.
Bảng 1: Phát triển NHTM Việt Nam từ 1991-1997
1991
1993
Ngân hàng quốc doanh
4

quốc tế (IMF, WB, ADB) vào năm 1993 và năm 1995, Quốc hội thông qua nghị
quyết bỏ thuế doanh thu đối với hoạt động ngân hàng, thành lập ngân hàng phục
vụ người nghèo đã góp phần vào sự phát triển đa dạng các loại hình Ngân hàng
thương mại Việt Nam cả số lượng lẫn hình thức sở hữu, thúc đẩy nỗ lực cạnh
tranh giữa các NHTM, từ đó nâng cao trình độ nghiệp vụ và chất lượng phục vụ
sao cho ngày càng tiện ích cho khách hàng.

Bảng 2: Phát triển NHTM giai đoạn 1997 – 2001

24


Ketnooi.com diễn đàn công nghê, giáo dục
1997
Ngân hàng quốc doanh
5
Ngân hàng cổ phần
51
Ngân hàng liên doanh
4
Chi nhánh NHNN
24
Tổng cộng
84
Nguồn: Báo cáo của NHNN Việt Nam

1999
5
48
4

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status